Chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang)

Chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Bổ Đà toạ lạc trên ngọn núi Bổ Đà thuộc thôn Thượng Lát, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, có tên chữ là Tứ Ân tự (四恩寺), là một trong những di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu ở Bắc Giang.

Lịch sử và nhân vật

Chùa đạo Phật xây dựng vào đầu thế kỷ XVIII. Nơi đây là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang và cũng là một danh thắng phục vụ cho việc thăm quan, du lịch của khách thập phương

“Bốn bề phong cảnh lạ thay
Bồng lai kia cũng thế này mà thôi”

Chùa có tên chính là Quan Âm, tương truyền nơi đây đức Quan Âm Bồ tát ứng hiện cứu đời.

Truyền thuyết về ngôi chùa từ xưa được lưu truyền trong nhân dân xứ Bắc. Truyện kể rằng: Ngày xưa trong vùng có một đôi vợ chồng làm nghề đốn củi. Họ là những người tốt bụng, thật thà và chăm chỉ làm ăn, tuy nhiên, cuộc sống của họ vẫn quanh năm thiếu thốn. Con cái lại muộn mằn. Ngày đêm đôi vợ chồng mong mỏi có được một mụn con trai để nối dõi tông đường. Thương đôi vợ chồng già tốt bụng, Quan thế Âm bồ tát đã ứng hiện cứu đời, tế độ. Một hôm, người chồng vác rìu lên núi đốn củi, ông bổ rìu vào cây thông già trên đỉnh núi thì bỗng bật ra 32 đồng tiền. Thấy lạ, ông tìm đến hỏi vị cao tăng mới biết đó chính là 32 phép ứng hiện của Quan thế Âm Bồ tát. Người tiều phu khẩn cầu rằng “nhược bằng đức phật quan Âm phù hộ cho tôi sinh con trai, tôi xin dựng chùa thờ”. Quả nhiên điều đó linh ứng.

Từ khi nhặt được tiền, gia cảnh của đôi vợ chồng dần dần thay đổi, ông bà lại sinh được một cậu con trai thông minh tuấn tú. Có được chút tiền, người tiều phu bèn dựng ngôi chùa lợp gianh và tạc pho tượng Quan Âm tống tử để hương khói phụng thờ. Dần dần, nhiều người qua lại lễ bái cầu việc gì cũng đều hiển ứng, nơi này trở thành danh lam thắng cảnh. Đó chính là chùa Quan Âm kèm theo cái tên dân gian “chùa ông Bổ” hay “chùa Bổ Đà”. Ngày nay nhân dân còn gọi là chùa Thượng vì chùa ỏ trên sườn núi.

Chùa Bổ Đà được xây dựng ở chân núi Phượng Hoàng vào thời Lê Dụ Tông năm thứ nhất (1720). Năm Quý Mão niên hiệu Bảo Thái (1720 – 1729), nhà sư trụ trì chùa Bổ Đà là Phạm Kim Hưng tiến hành trùng tu toà chính diện, Thiêu Hương, tiền đường. Đến thời Lê cảnh Hưng (1740 – 1786) có vị sư tổ họ Ngô tự là Tinh Anh quê ồ làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc (nay thuộc Hà Tây) xuất gia tu đạo, ngắm thấy phong cảnh địa linh tịch mịch bèn cùng nhân dân xây dựng chùa Tứ Ân, am Tam Đức và trùng tu lại chùa Quan Âm.

Chùa Bổ Đà cũng bao gồm cả chùa Tứ Ân nên còn có tên là “Tứ Ân Tự”. Đến đời Hòa thượng thứ tư là Chiếu Không trùng tu một ngôi 2 gian bằng đá xây vào năm Giáp Ngọ niên hiệu Minh Mạng (1820 – 1840). Đến năm Giáp Dần niên hiệu Thiệu Trị (1841 – 1847) lại đúc tượng Quan Thế Âm, tiếp tục tu bổ chùa Tứ Ân. Năm Bính Ngọ niên hiệu Tự Đức (1847 – 1883) đệ tử là ngài Phả Thuần lại dựng tiền đường 5 gian làm nơi từ tụng.

Tiếp đến các Hòa thượng Như Chiếu, Phả Tiến và Hòa thượng Quảng Luân đã nhiều lần trùng tu mở mang xây dựng thêm chùa ngày càng khang trang, rộng lớn.

Cùng với chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Bổ Đà cũng là một trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang thuộc thiền phái Trúc Lâm. Trúc Lâm là thiền tông thứ tư ỏ Việt Nam do Điều ngự giác hoàng Trần Nhân Tông (1279 – 1293) lập ra ở Yên Tử thuộc dòng Lâm Tế nhưng có tính chất độc lập, sáng tạo của Phật giáo ỏ Việt Nam nên được coi là tổ đệ nhất. Tô đệ nhị là Kim cương Pháp Loa và tổ đệ tam là Huyền Quang. Cả ba vị tổ đều có tượng thờ ở nhà tổ của chùa.

Chùa Bổ Đà còn là nơi kế truyền các vị tổ sư khai trường thuyết pháp đào tạo ra các tăng đồ. Hàng năm kết hạ an cư, các vị tăng đồ tham thiền học đạo khá đông. Các vị tổ sư còn khắc nhiều bản kinh luật đạo thừa để phục vụ cho việc đào tạo, truyền bá kinh Phật, làm cho kho tàng pháp bảo của Phật giáo Việt Nam thêm phong phú.

Kiến trúc cảnh quan

Trải qua nhiều biến cố của lịch sử cùng tác động khắc nghiệt của thời gian và điều kiện tự nhiên, chùa Bổ Đà vẫn bảo tồn được gần như nguyên vẹn tổng thể kiến trúc truyền thống. Đặc biệt, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1946–1954), chùa từng được sử dụng làm nơi sản xuất vũ khí phục vụ cách mạng, song các công trình kiến trúc cơ bản vẫn được gìn giữ, phản ánh giá trị nổi bật về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật của di tích.

Toàn bộ khuôn viên chùa có diện tích khoảng 51.784 m², được quy hoạch thành ba không gian chức năng rõ rệt gồm khu vườn chùa, khu nội tự và khu vườn tháp. Sự phân bố này thể hiện tư duy quy hoạch hài hòa giữa kiến trúc tôn giáo, cảnh quan tự nhiên và không gian sinh hoạt của tăng chúng, tạo nên một quần thể khép kín đặc trưng của các trung tâm Phật giáo Bắc Bộ.

Khu vườn chùa, rộng khoảng 31.000 m², được phủ xanh bởi nhiều loại cây ăn quả truyền thống như nhãn, vải thiều, mít, thị, sấu, chuối, na cùng các loại hoa màu như khoai, sắn, đỗ tương. Không gian này vừa đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp của nhà chùa, vừa góp phần tạo nên môi trường thanh tịnh, gần gũi với thiên nhiên. Bao quanh khu vườn là hệ thống hào rộng khoảng 2 m, sâu 1,5 m, có chức năng ngăn gia súc xâm nhập và thoát nước. Bên ngoài hào là hàng rào tre dày đặc, trong khi ranh giới giữa khu vườn và khu nội tự được xác định bằng tường đất cao khoảng 1,8 m, dày 0,5 m, bao bọc toàn bộ khu chùa, tạo nên đặc trưng kiến trúc hiếm gặp của chùa Bổ Đà.

Khu vườn tháp, có diện tích khoảng 7.784 m², được xây dựng tường đất kết hợp kè đá bao quanh để bảo vệ, kinh phí do Phật tử Đàm Hĩnh thuộc Hội Phật giáo Thái Nguyên công đức. Đây là một trong những vườn tháp lớn và tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam, hiện còn 87 bảo tháp cùng 18 ngôi mộ không xây tháp, được dựng vào nhiều thời kỳ khác nhau với hình thức, quy mô và phong cách đa dạng. Các bảo tháp là nơi lưu giữ xá lợi và tro cốt của nhiều thế hệ tăng ni thuộc dòng Thiền Lâm Tế, đồng thời phản ánh quá trình phát triển lâu dài của trung tâm Phật giáo Bổ Đà.

Khu nội tự, rộng khoảng 13.000 m², là trung tâm của toàn bộ di tích, gồm 16 tòa kiến trúc lớn nhỏ với tổng cộng 92 gian, bao gồm cổng chùa, nhà tạo soạn, nhà tổ, nhà tiền tế, nhà in kinh, nhà trai, nhà pháp, tòa Tam bảo, nhà khách và nhiều công trình phụ trợ khác. Các hạng mục được bố trí liên hoàn theo trục chính, tạo nên tổng thể kiến trúc thống nhất nhưng linh hoạt, vừa đáp ứng yêu cầu thờ tự vừa phục vụ sinh hoạt của tăng đoàn.

Từ ngoài vào là cổng chùa, được xây dựng theo kiểu gác chuông mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn với hai lớp cổng cách nhau khoảng 27 m. Con đường dẫn từ cổng vào nội tự dài khoảng 45 m, rộng 3,2 m, được lát đá muối, tạo nên không gian trang nghiêm ngay từ lối tiếp cận.

Tiếp theo là nhà bếp gồm bốn gian xây gạch, lợp ngói, dài khoảng 11 m, rộng 5 m, phục vụ việc chuẩn bị thực phẩm cho nhà chùa. Cách đó khoảng 4 m là nhà để dụng cụ gồm bảy gian, có tường trước và hai hồi xây gạch, tường sau đắp đất, kết cấu đơn giản nhằm phục vụ công việc hậu cần.

Kế đến là nhà tạo soạn gồm bảy gian, dài khoảng 17 m, rộng 5 m, được dựng theo kết cấu tiền kẻ hậu bẩy, dùng làm nơi chuẩn bị đồ lễ, tổ chức cỗ chay và phục vụ các hoạt động lễ hội. Trước nhà tạo soạn là sân gạch rộng. Phía sau là nhà tổ ly gồm bảy gian tường gạch, nền lát gạch vuông và nhà tổ gồm bảy gian, dài khoảng 20 m, rộng 6,5 m, là nơi thờ các vị tổ sư và lưu giữ truyền thống của dòng thiền.

Nhà tiền tế gồm năm gian, dài khoảng 20 m, rộng 8 m, được xây dựng theo kết cấu chồng rường, là nơi diễn ra các nghi lễ trước khi vào khu thờ chính. Trước tiền tế là sân gạch rộng, tạo không gian tổ chức các hoạt động tín ngưỡng. Liền kề là nhà in kinh, được xây dựng theo kiểu chồng diêm, phản ánh truyền thống khắc in và lưu truyền kinh sách của chùa Bổ Đà, vốn từng là một trong những trung tâm in mộc bản Phật giáo quan trọng ở miền Bắc.

Tiếp theo là nhà trai gồm ba gian, dài khoảng 9,5 m, rộng 6,5 m, dùng làm nơi tụng niệm và sinh hoạt của tăng chúng. Từ đây, một hành lang hình thước thợ dài khoảng 7 m nối với nhà pháp gồm bảy gian, dài 14 m, rộng 6 m, tạo thành không gian liên hoàn phục vụ việc giảng pháp và tu học.

Trung tâm của toàn bộ khu nội tự là tòa Tam bảo, được xây dựng theo mặt bằng chữ Đinh, gồm tiền đường bảy gian và hậu cung năm gian, phía trước mở ra khu vườn cây cảnh thanh tịnh. Đây là công trình quan trọng nhất của chùa, nơi tôn trí tượng Phật và diễn ra các nghi lễ Phật giáo, đồng thời thể hiện rõ những giá trị đặc sắc về nghệ thuật kiến trúc, quy hoạch không gian và kỹ thuật xây dựng truyền thống của chùa Bổ Đà. Tổng thể kiến trúc của di tích là sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên, hệ thống công trình thờ tự và không gian sinh hoạt tăng đoàn, tạo nên một quần thể Phật giáo độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa vùng Kinh Bắc.

Hiện vật

Cùng với các công trình kiến trúc, chùa Bổ Đà hiện nay còn lưu giữ được nhiều loại tài liệu, hiện vật quý hiếm. Ngoài hệ thống tượng Phật theo dòng phái Trúc Lâm, chùa Bổ Đà còn lưu giữ nhiều loại văn khắc và thư tịch cổ, các bức đại tự, câu đối, sách kinh Phật, các đồ thờ, hương án thời Lê – Nguyễn có giá trị lịch sử và nghiên cứu khoa học. Thông qua các hiện vật, thư tịch còn lại ở chùa Bổ Đà, không chỉ giúp chúng ta hiểu được sự hình thành và phát triển của ngôi chùa, của dòng phái Trúc Lâm mà còn cho ta hiểu được lịch sử, văn hóa của cả một vùng quê. Điều này được thể hiện ở những câu đối hiện còn lưu giữ ở chùa:

Tam đức viên minh tự vạn thuỷ chi triều đông Bô xứ ức viên vĩnh Thọ.
Tứ Ân đức dẫn như quần tinh chi cùng Bắc Đà Sơn lịch đại truyền đăng.

Tạm dịch: Ba điều đức tròn trặn sáng láng tự bởi vạn ngọn nước phía đông triều hội về xứ Bô Đà muôn năm còn mãi.
Bôn ân sâu nghĩa nặng tựa như những ngôi sao tụ hội về phía bắc núi Bổ Đà để qua các đời mà truyền lại ngọn toạ đăng thiền chủ.

Kiên pháp chương ư Bổ xứ Đà thiên Long Phượng Sơn trung tiên tứ trạch. 
Lập gia tự ư Tam Sơn tứ hải kỳ lân các thượng tổ sư nhàn.

Dịch nghĩa: Ở núi Long Phượng dãy Bổ Đà xây nên pháp giới nhà Phật đó chính là nền móng của người tiên tử.         
Ở nơi đất giữa vùng Tam Sơn tứ hải mà dựng nhà dầu kỳ lân đó chính là chỗ của tổ sư.

Chùa Bổ Đà hiện còn lưu giữ hệ thống tượng Phật bằng gỗ thời Lê khá đầy đủ. Hệ thống tượng phật ở chùa Bổ Đà không chỉ có giá trị lịch sử về sự phát triển của đạo Phật ở thiền phái Trúc Lâm mà đó còn là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc phong phú. Đó là các toà cửu Long, 2 cây đèn bằng gỗ (thời Lê), 1 choé, 1 lọ độc bình, 1 quả chuông đồng cao 1m, đường kính miệng 0,60m có niên hiệu Tự Đức. Hiện vật bằng gỗ có: hai chiếc án thư ở nhà Tam bảo được sơn son thếp vàng chạm khắc tinh xảo; Các bức đại tự, hoành phi câu đối sơn thếp rực rỡ và một chiếc mõ cá dài 0,60m.

Ngoài những hiện vật kể trên, chùa Bổ Đà còn lưu giữ nhiều bộ sách kinh Phật, ván in kinh có 3 loại: Nam hải ký quy, yết ma hội sắc, lăng nghiêm chính mạch. Những bộ sách Hán Nôm này một số đã được dịch và in ra chữ Quốc ngữ.

Chùa Bổ Đà hiện còn lưu giữ “Tây phương công cứ” – một bộ kinh giảng về cõi Tây phương cực lạc và phương pháp niệm Phật vãng sinh của Tịnh Độ Tông. Ván in kinh được in khắc vào cuối thế kỷ XVIII, có rất nhiều tác phẩm được khắc trên ván gỗ thị với nét khắc cương hoạch, tinh tế. “Phật thuyết đại báo phụ mẫu Ân trọng kinh” là bộ kinh giảng về ân nghĩa của cha mẹ khi sinh thành với con cái được khắc vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII. Các vác khắc hiện có ỏ chùa Bổ Đà như:

Tây phương tam thánh (ván khắc thế kỷ XIX)

– Di đà tiếp dẫn, tranh in khắc gỗ thế kỷ XVIII
– Diệu pháp liên hoa vinh, thế kỷ XIX, kinh xếp, 7 quyển, 28 phẩm
– Bộ tranh thập vật, cuối thế kỷ XVIII
– Bảo tràng (phướn báu) 18,5 X ll,5cm
– Đại hình (hình nhân thế mạng) 18 X ll,5cm
– Địa mã (ngựa đất) 18,5 X ll,5cm
– Đà mã (ngựa đà) 18,5 X ll,5cm
– Phi mã (ngựa bay) 18,5 X ll,5cm

Sự kiện và lễ hội

Hội Bổ Đà được tổ chức từ ngày 16 đến 18 tháng hai âm lịch hàng năm. Vào ngày hội, tất cả các đền, chùa trong khu vực núi Bổ Đà đều mở cửa, cắm cờ đại, cờ ngũ hành rực rỡ. Trong không gian của lễ hội Bổ Đà, trung tâm lễ hội được tổ chức ở khu vực chùa Bổ. Khu vực này có núi cao và xóm làng, đồng ruộng bao quanh, có các điểm cho khách thập phương lễ phật. Đó là đền Trung ở sườn nam núi, đền Thượng trên đỉnh núi, chùa Quan Âm ở phía bắc núi và chùa Tứ Ân ở chân núi Phượng Hoàng.

Theo lệ cũ thì ba đền thờ Thạch Linh Thần Tướng tổ chức sự lệ vào ngày mồng 10 tháng Giêng và 12/9 âm lịch (đó là ngày giỗ tô khai sơn lập địa ra chùa Bổ Đà). Trong quá trình diễn biến văn hóa, sự lệ ở ba đền đã hòa vào ngày hội chùa Bổ, do đó các nghi thức tế lễ, rước sách đều diễn ra vào dịp này.

Vào ngày hội, cả vùng núi Bổ Đà rực rỡ bóng cờ. Tiếng trông phách rộn ràng; Dân trong vùng tổ chức tế lễ ở đền Hạ và rước từ đền Hạ lên đền Trung để bái vọng lên đền Thượng.

Đền Hạ là nơi thờ Thánh mẫu. Trước đây vốn là một cái ao nhỏ có dòng nước mạch chảy qua rồi đổ ra hồ Thạch Long. Trong ao có ba hòn đá lớn trong đó có 1 hòn in dấu bàn tay – tương truyền là bàn tay của thánh mẫu khi đau đẻ vịn vào và sinh ra Thạch tướng. Trên một khối đá có xây một miếu nhỏ để thờ phụng.

Sáng ngày 17, đoàn rước cử hành từ đền Hạ lên đền Trung. Đám rưởc có sự tham gia của nhà chùa và dân làng rất sồi nổi, rầm rộ. Đoàn rưởc đi qua đình Lát Hạ, chùa Linh Chi rồi lên đền Trung. Kiệu và đồ rước được tập trung ở đền Trung để dân làng làm lễ bái vọng lên đền Thượng rồi sau đó rước hoàn cung, còn khách thập phương tiếp tục lên đền Thượng và dâng lễ cúng phật ở chùa Quan Âm, chùa Tứ Ân.

Trong tâm thức người dân ở đây thì lễ hội Bổ Đà đã trở thành hội chung của cả làng. Nam thanh nữ tú, nam phụ lão ấu và khách thập phương kéo về dự hội rất đông.

Cảnh đón tiếp, mời chào ân cần, quan họ mời trầu, mời nước, chúc tụng, giã bạn, hẹn hò… vô cùng lưu luyến. Trong sân chùa có tới 4-5 đoàn hát phục vụ nhưng vẫn chưa thoả được ý người xem.

Trong ba ngày hội, các trò vui ở đây không có gì đặc biệt song có một điều đáng ghi nhận là du khách sẽ được thăm một vùng danh thắng với các truyền tích, huyền thoại về đá, về một trung tâm Phật giáo lớn ở Bắc Giang. Mỗi người sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của sông núi nơi đây, vởi cảnh sơn thuỷ hữu tình đầy chất thi ca. Du khách cũng sẽ được thấy tục thờ đá nguyên thuỷ của người xưa và cuộc sống của các nhà tu hành nơi thiền viện. Và điều cuối cùng là mỗi du khách sẽ cảm nhận được yếu tố văn hóa dân gian cùng với văn hóa tâm linh của đạo Phật để tạo sức sông cho lễ hội Bổ Đà, cho ngôi chùa cổ kính có hàng trăm năm tuổi.

Việc tổ chức duy trì hội lệ ở Bổ Đà là một việc làm rất có ý nghĩa. Việc trảy hội du xuân ở cõi thiền này giúp con người hướng về cái thiện. Đó là một phong tục đẹp đầu xuân.

Chùa Bổ Đà – một trung tâm Phật giáo đã kế tục sự nghiệp của các tăng già nhiệt tình yêu nước – cách mạng, noi theo truyền thống của giáo phái Trúc Lâm.

Xếp hạng

Chùa Bổ Đà đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử – nghệ thuật theo quyết định số 138/BVH ngày 31/1/1992.

 Theo Nguyễn Thu Minh, Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên

5/5 (2 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Camnhi 192521112557 Chua Bo Da 2

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)