Chùa Điều (Bình Giang, Ninh Bình)

Chùa Điều (Bình Giang, Ninh Bình)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Điều, tên chữ là Điều Tự, tọa lạc tại thôn Đông Tự, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, nay thuộc xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình. Ngôi chùa có lịch sử lâu đời, trải qua nhiều thay đổi về địa giới hành chính và tên gọi của làng.

Trước thời Trần cho đến đầu thời Nguyễn, khu vực nơi chùa tọa lạc thuộc làng Thành Thị (còn gọi là làng Vọc) và từng mang nhiều tên gọi khác nhau theo từng thời kỳ: đầu tiên là Đại Mục, sau đổi thành Nhân Mục, tiếp đến là Quắc Thị, rồi Quắc Hương, và cuối cùng trở thành Thành Thị, thuộc tổng Kim Lũ, huyện Mỹ Lộc, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định. Khi tỉnh Hà Nam được thành lập năm 1890, xã Thành Thị thuộc tổng Kim Lũ (sau đổi tên thành Ngọc Lũ) thuộc huyện Bình Lục.

Chùa Điều tọa lạc trên một khu đất cao ráo, thoáng đãng, giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn, tạo không gian yên tĩnh, thanh tịnh. Theo các cụ cao niên trong làng, chùa được xây dựng từ thời Trần, nằm ngay trung tâm Thái ấp Quắc Hương xưa – vùng đất quan trọng của triều đình Trần. Vị trí chùa rất gần các di tích lịch sử nổi tiếng: cách Đình Cả, nơi thờ Thái sư Trần Thủ Độ và các bậc quân vương nhà Trần, khoảng 500 mét về phía Đông, và cách Khu di tích quốc gia đặc biệt Đền Trần Chùa Phổ Minh khoảng 6 km về phía Nam, tạo nên một vùng không gian tâm linh và lịch sử gắn kết mật thiết.

Lịch sử và nhân vật

Chùa Điều là một ngôi chùa cổ kính, được ghi nhận trong minh văn khắc trên khánh đá vào tháng 8, năm Nhâm Thân, niên hiệu Chính Hòa thứ 13 (1692), thời vua Lê Hy Tông. Minh văn có đoạn viết:

…Nay nhận thấy chùa Điều ở trong xã là nơi cổ tích danh lam, thắng địa của nước Việt, lầu rồng sừng sững, xà cột chạm khắc lớp lớp, cột phượng chót vót trời xanh, xây nền phúc thiện cao dầy, lại thêm ngôi điện vững như bàn đá. Hàng đêm tụng kinh niệm Phật, ngày ngày sư thầy dâng hoa, dốc lòng đem hết công sức hướng về điều thiện. Chốn nơi đây, tùng trúc tốt tươi, nghìn năm thịnh đạt, lan quế ngát hương, vạn đời hưng vượng, há chẳng phải là chốn hồ tiên thế giới, thắng địa tiên cảnh vậy. Duy chỉ có khánh đá là khí cụ chưa tạo, mà còn chờ người nhân đức sâu dầy tại nơi đây hưng công…”

Nội dung minh văn cho thấy chùa Điều đã được xây dựng từ trước năm 1692, là một danh lam nổi tiếng trong vùng, với kiến trúc quy mô và đầy đủ các hạng mục: tam quan, gác chuông, thượng điện, nhà khách…. Tuy nhiên, lúc này khánh đá – một vật khí quan trọng trong tín ngưỡng Phật giáo – vẫn chưa được tạo, và còn chờ người có tâm đức trong làng phát tâm làm khánh để cúng tiến.

Theo ghi chép và truyền thuyết địa phương, người đảm nhận việc tạo khánh đá là ông Trần Viết Nho (sinh 1642 – mất 1712), người làng Thành Thị, xóm Bắc Hợp. Ông vốn là quan võ dưới triều Hậu Lê, lập nhiều chiến công, đặc biệt trong việc bảo vệ phiên dậu phía nam của đất nước, được phong tước Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Phù Nam vệ. Khi tuổi cao, ông về nghỉ hưu tại quê hương, mở nhà thuốc Tế Sinh đường, trở thành thầy thuốc nổi tiếng, tài giỏi và nhân đức, được dân trong vùng vô cùng tôn kính.

Ông Trần Viết Nho còn là Phật tử tu tại gia, được tôn hiệu là Huyền Uy đại pháp, đồng thời là chắt nội của Quốc Tử giám Giám sinh Trần Quý công (thụy Phúc) và cháu nội của Quốc Tử giám Giám sinh Trần Quý công (thụy Văn Trinh). Với lòng thành kính, ông cùng vợ, con cháu nội ngoại và các chức sắc, nhân dân trong làng đã phát tâm tạo khánh đá và tiến cúng cho chùa Điều.

Trước đây, khánh đá được đặt ở sân chùa, là một vật dụng tín ngưỡng quan trọng, vừa dùng trong nghi lễ, vừa biểu tượng cho công đức và tâm thành của người dân. Đến năm 2020, để bảo quản khánh đá tốt hơn, nhân dân và nhà chùa đã chuyển khánh vào một vị trí giữa tiền đường và tam bảo, nơi khánh được giữ gìn cẩn thận từ đó đến nay.

Minh văn trên khánh đá không chỉ là tư liệu lịch sử, mà còn là bằng chứng sống động về đời sống tâm linh, lòng thành kính Phật pháp, và tinh thần hiếu nghĩa, nhân đức của nhân dân địa phương. Qua đó, chùa Điều không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm văn hóa, lịch sử, và tín ngưỡng lâu đời của vùng đất Bình Giang – Ninh Bình ngày nay.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa Điều là một ngôi chùa cổ kính, trải qua nhiều thế kỷ, nhưng do chiến tranh và thiên tai, hầu hết công trình kiến trúc cổ, đồ thờ và hệ thống tượng pháp đã bị hủy hoại, không còn giữ được hình dáng ban đầu. Tuy nhiên, chùa hiện nay vẫn duy trì kiến trúc theo kiểu chữ “Nhị” (二), gồm hai tòa chính: thượng điện và tiền đường.

Thượng điện gồm 3 gian, được trùng tu vào tháng 10, năm Bình Thìn, niên hiệu Bảo Đại thứ nhất (1926). Công trình được xây theo kiểu hồi văn cánh bảng, mái lợp ngói nam truyền thống, phản ánh phong cách kiến trúc dân tộc Việt.

Khung gỗ của thượng điện gồm 4 hàng chân cột, các cột cái và cột quân đều là cột tròn, được bào nhẵn và thon dần về hai phía, tạo sự chắc chắn và thanh thoát. Hệ thống vì kèo kiểu chồng rường được bố trí khoa học, kết cấu vững chắc, đồng thời các con rường và đầu dư đều được chạm khắc tinh xảo với các họa tiết vân mây, lá lật, lá hỏa, triện tàu lá dắt, vừa đảm bảo tính mỹ thuật, vừa giữ vai trò chịu lực.

Tòa tiền đường cũng gồm 3 gian, được trùng tu vào tháng 11, năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Bảo Đại thứ 17 (1942). Kiến trúc và các chi tiết chạm khắc của tiền đường đồng bộ với thượng điện, tạo sự thống nhất về mặt thẩm mỹ và kỹ thuật xây dựng.

Ngoài ra, chùa còn lưu giữ một số đồ thờ và hiện vật quý, đặc biệt là chiếc Khánh đá niên hiệu Chính Hòa thứ 13 (1692), đời vua Lê Hy Tông, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Bảo vật quốc gia, đợt 13, năm 2024. Đây là hiện vật gốc, độc bản, quý hiếm và tiêu biểu của thời Lê Trung Hưng, thể hiện nghệ thuật trang trí tinh xảo, đồng thời chứa đựng nhiều giá trị nghiên cứu về:

Bên cạnh khánh đá, chùa Điều còn giữ được nhiều hiện vật khác có giá trị, như: tượng, ngai thờ, bát hương, với niên đại từ thế kỷ 17 – 18, phản ánh lịch sử lâu đời và truyền thống văn hóa tâm linh của vùng đất này.

Khánh đá chùa Điều

Khánh đá cao 0,95m, rộng 1,45m, dày 0,7m, nặng khoảng 300kg, được trang trí ở cả 2 mặt. Mặt trước có đỉnh khánh cao 23 cm, dài 59 cm. Giữa đỉnh khánh khắc hình lá đề, bên trong lá đề tạo vòng tròn như hình mặt trời. Vòng tròn có chấm to ở giữa, xung quanh là các đường cong cách quãng, hình dung như mặt trời tỏa ánh hào quang. Diềm lá đề tạo các đao to, nhỏ, cao, thấp không đều nhau, hướng ngược lên, trái, phải hai bên mỗi bên tạo một con rồng chầu, đầu có mào, mắt to, lồi, miệng rộng, lưỡi ngậm ngọc, cằm có râu, thân cuộn ba khúc, chân dài 3 ngón. Thân rồng được tạo bằng một đường cốt, xung quanh là các hành chấm. Đuôi rồng uốn cong vút ngược, tạo thế rồng giáng, hai bên đuôi các đao ngược như phát lửa xung quanh lá đề.

Cổ khánh chia làm hai phần không đều nhau, ranh giới đóng khung bằng các đường chỉ chìm nhỏ. Giữa hai đường chỉ chia đều 6 ô. Hai ô bên phải khắc chìm hai chữ “Cửu thiên”. Hai ô giữa để trống. Hai ô bên trái khắc chìm hai chữ “Ứng nguyên” (Cửu thiên ứng nguyên- ứng vào bậc nhất thấu chín tầng trời). Bên phải chữ “Cửu” tạo một núm khánh. Bên trái chữ “Nguyên” tạo một núm khánh. Hai núm hình tròn lồi như hình mặt trời. Phía trên núm khánh, bên trái khắc hình con bướm xòe cánh như đang bay. Giữa hai phần cổ khánh có khoảng trống nhỏ. Phần thứ hai rộng hơn, tạo khung bằng các đường chỉ, khắc chìm. Phần này có 4 chữ Hán nổi: “Bảo khánh Điều tự” (Khánh quý chùa Điều) được khắc nổi trong lòng hình lá đề biến thể trên nền của nửa tám bông hoa cúc mãn khai, trên dưới, trái, phải đối xứng. Giữa phần cổ là lỗ tròn tra cán treo khánh.

Hai bên tay khánh tạo khắc mỗi bên một con phượng múa, cùng chầu lên trên, hướng vào lá đề ở đỉnh khánh. Đôi phượng sải rộng cánh, cổ đầu, thân như ngỗng trời, chân dài bốn ngón, đuôi xòe rộng thướt tha mềm mại. Dưới chân phượng, bên phải có chữ “Xuân” (Mùa xuân), bên trái chữ “Thu” (Mùa thu) đều khắc trong lòng lá đề biến thể. Đuôi phượng phía trên trùm hai bên chữ “Xuân” bị mất. Dưới chữ “Hạ” bên trái tạo hình con rái cá trong khoảng nước, đầu, tai, đuôi đều to, bốn chân choãi ra, thân thon nhỏ uốn cong, đang vờn con cá chép cuộn khúc.

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ nêu trên khánh đá chùa Điều hội tụ đủ các điều kiện đề nghị Nhà nước công nhận là Bảo vật quốc gia. 

Tài liệu tham khảo

  1. Đỗ Văn Hiến, 2024, Khánh đá chùa Điều – Bảo vật quý của Hà Nam, UBND tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://baoninhbinh.org.vn/khanh-da-chua-dieu-bao-vat-quy-cua-ha-nam-2409280534000.html
  2. Đỗ Văn Hiến, 2025, Chùa Điều, xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình, sở Văn hóa Thể thao và Di lịch tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://vhtt.ninhbinh.gov.vn/vi/tuyen-truyen-phat-trien-du-lich/chua-dieu-xa-binh-giang-tinh-ninh-binh-1679.html

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Dieu Pagoda (Binh Giang Commune, Ninh Binh Province) – History and Stone Bell

Location and Name

Dieu Pagoda, in Chinese characters Dieu Tu (Điều Tự), is located in Dong Tu hamlet, Binh Giang Commune, Ninh Binh Province (formerly in Vu Ban Commune, Binh Luc District, Ha Nam Province). The pagoda sits on elevated, open land amid vast rice fields, providing a serene and peaceful environment.

Dieu Pagoda has a long history, having undergone many changes in administrative boundaries and village names. From the Tran Dynasty to the early Nguyen Dynasty, the area belonged to Thanh Thi Village (also known as Voc Village), which was successively called: Dai Muc → Nhan Muc → Quac Thi → Quac Huong → Thanh Thi. This area was part of Kim Lu commune, My Loc district, Thien Truong prefecture, Nam Dinh Province, later under Ha Nam Province (1890), and is now in Binh Giang Commune, Ninh Binh.

The pagoda is located close to several notable historical sites:

  • About 500 meters east of Dinh Ca, where Thai Su Tran Thu Do is worshiped.
  • About 6 km north of the Tran Temple – Pho Minh Pagoda National Special Site, forming a closely connected cultural and spiritual area.

Historical Formation

The inscription on the stone bell (khánh đá) of Dieu Pagoda was created in August, 1692 (Nhâm Than year, 13th year of Chinh Hoa era, under King Le Hy Tong). The inscription reads:

“…Dieu Pagoda in this commune is a renowned and historic scenic site of Vietnam, with towering dragon balconies, intricately carved beams and columns, phoenix pillars reaching the blue sky, elevated and solid foundations, and an immovable main hall. Nightly, monks chant sutras; daily, they offer flowers and dedicate all efforts to virtue… Only the stone bell has not yet been made, awaiting the contribution of a virtuous person from this place…”

The inscription shows that:

  • Dieu Pagoda already existed before 1692, renowned in the region with a complete layout including a Tam Quan gate, bell tower, main hall, and guest hall.
  • The stone bell, an important ritual object in Buddhist practice, had not yet been made and awaited a devout local contributor.

According to local records and legends, the bell was commissioned by Tran Viet Nho (1642 – 1712) from Thanh Thi Village, Bac Hop Hamlet. He was:

  • A military official under the Later Le Dynasty, with notable achievements in defending the southern frontier, granted the title Dac Tien Phu Quoc Thuong Tuong Quan Phu Nam Ve.
  • Upon retirement, he opened the Te Sinh Duong pharmacy, a well-known and respected physician.
  • A lay Buddhist, honored with the title Huyen Uy Dai Phap, and the great-grandson of the royal academy scholars Tran Quy Cong (posthumously Phuc) and Tran Quy Cong (posthumously Van Trinh).

With devotion, he, his family, village officials, and local residents contributed to the creation and donation of the stone bell to Dieu Pagoda. Originally placed in the pagoda yard, the bell was relocated in 2020 to the space between the front hall and main sanctuary for better preservation.

Architectural Layout

Dieu Pagoda today retains a “Nhi” (二) layout, consisting of two main halls: the upper hall and the front hall.

  • Upper Hall: 3 bays, restored in 1926 (Bao Dai 1st year), built with traditional Vietnamese ngoi nam roof tiles.
  • Front Hall: 3 bays, restored in 1942 (Bao Dai 17th year).
  • Timber frame with round columns, using a chong ruong roof structure, with intricately carved beam heads and rafters featuring cloud patterns, leaf motifs, fire leaves, and decorative trims, combining aesthetics and structural support.

Stone Bell of Dieu Pagoda

  • Dimensions: height 0.95 m, width 1.45 m, thickness 0.7 m, weight ~300 kg.
  • Front face: bell apex 23 cm high, 59 cm long, decorated with a stylized Bodhi leaf, featuring a circular sun motif. Flanked by dragons with segmented bodies, three-toed feet, curling tails, and fire-like edges around the leaf.
  • Neck of bell: divided into two parts with six recessed panels, inscribed “Cuu Thien Ung Nguyen” (highest level reaching nine heavens). Two knobs, circular and protruding, above which a butterfly is engraved.
  • Lower section: four raised characters “Bao Khanh Dieu Tu” (Precious Bell of Dieu Pagoda), set in a Bodhi leaf frame with half eight-petal chrysanthemum designs, symmetrically arranged.
  • Bell handles: engraved with a pair of phoenixes, wings spread, curving necks, long tails. Beneath are inscriptions “Xuan” (Spring) and “Thu” (Autumn), with a carved otter playing with a carp beneath “Ha” (Summer) on the left side.

Due to its historical, cultural, spiritual, and artistic significance, the stone bell was officially recognized as a National Treasure (13th batch, 2024), representing a rare and exemplary artifact of the Later Le period, with exquisite decoration and unique research value.

References

  1. Đỗ Văn Hiến, 2024, Khánh đá chùa Điều – Bảo vật quý của Hà Nam, UBND tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://baoninhbinh.org.vn/khanh-da-chua-dieu-bao-vat-quy-cua-ha-nam-2409280534000.html
  2. Đỗ Văn Hiến, 2025, Chùa Điều, xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình, sở Văn hóa Thể thao và Di lịch tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://vhtt.ninhbinh.gov.vn/vi/tuyen-truyen-phat-trien-du-lich/chua-dieu-xa-binh-giang-tinh-ninh-binh-1679.html

Tiếng Pháp

Chua Dieu (Xa Binh Giang, Tinh Ninh Binh)

Position géographique et nom

Chua Dieu, appelée en caractères chinois Dieu Tu, est située au hameau Dong Tu, commune Vu Ban, district Binh Luc, province Ha Nam, aujourd’hui rattachée à la commune Binh Giang, province Ninh Binh. Ce temple possède une longue histoire et a traversé de nombreux changements administratifs et variations de nom du village.

Avant la dynastie Tran jusqu’au début de la dynastie Nguyen, la zone où se trouve le temple appartenait au village Thanh Thi (également appelé village Voc), et a porté différents noms selon les époques : d’abord Dai Muc, puis Nhan Muc, ensuite Quac Thi, puis Quac Huong, pour enfin devenir Thanh Thi, relevant du tong Kim Lu, district My Loc, prefecture Thien Truong, province Nam Dinh. Lors de la création de la province Ha Nam en 1890, la commune Thanh Thi appartenait au tong Kim Lu (renommé Ngoc Lu) du district Binh Luc.

Chua Dieu est implantée sur un terrain élevé et dégagé, au milieu de vastes rizières, créant un espace calme et paisible. Selon les anciens du village, le temple a été construit à l’époque Tran, au centre de l’ancien Thai ap Quac Huong, une région importante pour la cour Tran. Sa position est proche de plusieurs sites historiques célèbres : à environ 500 mètres à l’est du Dinh Ca, dédié à Thai su Tran Thu Do et aux souverains de la dynastie Tran, et à environ 6 km au nord du Khu di tich quoc gia dac biet Den Tran – Chua Pho Minh, formant ainsi un espace spirituel et historique étroitement lié.

Histoire et développement

Chua Dieu est un temple ancien, mentionné dans l’inscription gravée sur le Khanh da (gong de pierre) en août de l’année Nham Than, 13e année du règne Chinh Hoa (1692), sous le roi Le Hy Tong. L’inscription indique :

“…Nous reconnaissons que Chua Dieu dans la commune est un site historique et un lieu pittoresque renommé du Vietnam, avec des tours de dragons imposantes, des poutres et colonnes sculptées par couches, des colonnes de phénix s’élevant vers le ciel, fondations solides et grandes, et une salle principale stable comme une pierre. Chaque nuit, les moines récitent les sutras et offrent des fleurs, mettant tout leur cœur dans les bonnes actions. Les pins et bambous sont luxuriants, le parfum de la cannelle embaume pour des générations, un lieu prospère pour toujours, n’est-ce pas un monde féerique et un site pittoresque exceptionnel ? Seul le khanh da n’est pas encore créé, attendant la vertu de quelqu’un pour l’offrir ici…”

Le texte montre que Chua Dieu existait avant 1692, avec une architecture complète comprenant tam quan, gac chuong, thuong dien, nha khach, etc. Cependant, à cette époque, le Khanh da, un objet rituel essentiel du bouddhisme, n’était pas encore fabriqué, en attendant la générosité des habitants vertueux du village.

Selon les archives et légendes locales, Tran Viet Nho (1642–1712), du village Thanh Thi, hameau Bac Hop, fut responsable de la fabrication du khanh da. Ancien militaire sous la dynastie Hau Le, il se distingua dans la défense du sud du pays et reçut le titre Dac tien phu quoc Thuong tuong quan Phu Nam ve. Retiré dans son village natal, il ouvrit la maison médicale Te Sinh Duong, devint médecin réputé, talentueux et vertueux, respecté par la population locale.

Tran Viet Nho était également pratiquant bouddhiste laïc, connu sous le titre Huyen Uy dai phap, et descendant du Quoc Tu Giam Giam sinh Tran Quy Cong. Avec dévotion, il réalisa le khanh da avec sa famille et la population du village, l’offrant au temple.

Autrefois placé dans la cour du temple, le khanh da servait à la fois pour les rituels et comme symbole de mérite et de dévotion. En 2020, pour mieux le préserver, il fut déplacé entre le Tien duong et le Tam Bao, où il reste soigneusement conservé.

L’inscription du khanh da constitue une source historique et un témoignage vivant de la spiritualité, de la dévotion et de la vertu de la population locale. Ainsi, Chua Dieu n’est pas seulement un lieu de culte, mais également un centre culturel et historique de la région Binh Giang – Ninh Binh.

Architecture et paysage

Chua Dieu est un temple ancien, ayant traversé plusieurs siècles. Les guerres et catastrophes naturelles ont détruit la plupart des bâtiments anciens, objets de culte et statues, perdant ainsi leur forme originelle. Aujourd’hui, le temple conserve une architecture de style “Nhi” (二), composée de deux bâtiments principaux : Thuong dien et Tien duong.

  • Thuong dien : 3 travées, restaurée en octobre de l’année Binh Thin, 1ère année du règne Bao Dai (1926). Construction de type hoi van canh bang, toiture en tuiles traditionnelles du Sud, reflétant le style architectural vietnamien.
  • Charpente en bois : 4 rangées de colonnes, colonnes principales et secondaires rondes, polies et effilées, structure solide et élégante. Système de vi keo chong ruong, avec poutres et têtes sculptées de motifs nuage, feuille, feu, garantissant la beauté et la résistance.
  • Tien duong : également 3 travées, restaurée en novembre de l’année Nham Ngo, 17e année du règne Bao Dai (1942). Architecture et sculptures harmonisées avec le Thuong dien.

Le temple conserve également des objets précieux, notamment le Khanh da de l’année Chinh Hoa 13 (1692), sous Le Hy Tong, reconnu comme Bao vat quoc gia (13e lot, 2024). Il est unique, précieux, typique de la période Le Trung Hung, illustrant un art décoratif raffiné et offrant une grande valeur pour la recherche.

Outre le khanh da, le temple conserve des statues, sièges d’autel, encensoirs datant des XVIIe – XVIIIe siècles, témoignant de l’histoire et des traditions spirituelles de la région.

Khanh da de Chua Dieu

  • Dimensions : hauteur 0,95 m, largeur 1,45 m, épaisseur 0,7 m, poids ~300 kg, décoré sur deux faces.
  • Face avant : sommet du khanh 23 cm de haut, 59 cm de long, gravé d’une feuille de banian avec cercle central symbolisant le soleil, entouré de rayons stylisés. Bordure en feuilles avec dragons stylisés, corps enroulé sur trois sections, pattes à trois doigts, queue relevée.
  • Manche du khanh : divisé en deux parties, gravure de Cuu thien Ung Nguyen (référence cosmique). Deux boutons ronds au-dessus de chaque inscription, motif de papillon volant entre eux. Partie plus large : gravure en relief Bao khanh Dieu Tu, décorée de demi-huit fleurs de chrysanthème, symétrique sur tous les côtés.
  • Chaque côté : un phénix en vol, ailes déployées, tête et cou comme un oiseau céleste, pattes à quatre doigts, queue longue et élégante. Sous chaque phénix : inscription Xuan (printemps) et Thu (automne), gravée dans la feuille stylisée.

Avec ces valeurs exceptionnelles sur le plan historique, culturel et esthétique, le khanh da de Chua Dieu remplit les conditions pour être reconnu Bảo vật quốc gia.

Références

  1. Đỗ Văn Hiến, 2024, Khánh đá chùa Điều – Bảo vật quý của Hà Nam, UBND tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://baoninhbinh.org.vn/khanh-da-chua-dieu-bao-vat-quy-cua-ha-nam-2409280534000.html
  2. Đỗ Văn Hiến, 2025, Chùa Điều, xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình, sở Văn hóa Thể thao và Di lịch tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://vhtt.ninhbinh.gov.vn/vi/tuyen-truyen-phat-trien-du-lich/chua-dieu-xa-binh-giang-tinh-ninh-binh-1679.html

Tiếng Trung

调寺(宁平省平江社)

名称与地理位置

调寺(汉名:调寺)位于宁平省平江社,原属河南省平禄县武板社东寺村。该寺历史悠久,历经行政区划及乡村名称变更。
在陈朝以前至阮朝初期,寺址所在地区属于成市村(又称Vọc村),村名曾多次更迭:最初称“大目”,后改“仁目”,再为“Quắc thị”,接着“Quắc hương”,最终定名“成市”,隶属金禄总、美国县、天长府、南定省。1890年河南省成立时,成市社隶属金禄总(后更名玉禄),属于平禄县。

调寺坐落在高旷地,四周为广阔稻田,环境宁静清幽。据当地长者口述,寺建于陈朝时期,位于古Quắc hương太庙中心,系陈朝重要行政地带。寺址临近多处历史遗迹:距供奉陈守度及陈朝历代君王的总祠约500米,距国家特级文物区陈庙—普明寺约6公里,形成密切关联的精神文化区。

历史沿革与发展

调寺为古老寺院,1692年(成化十三年、正和年间,黎熙宗时期)石钟铭文记载:

“…今见调寺在社内,为越南胜地名胜,楼龙高耸,梁柱雕刻层层,凤柱入青天,建基厚实坚固,上殿稳如石台。夜晚诵经念佛,僧人每日供花,倾心行善。此地松竹茂盛,千年昌盛,兰桂香远,万代兴隆,岂非仙境之地。唯石钟未制,尚待德行深厚之人来兴工…”

铭文显示,调寺建于1692年前,为区域著名胜地,具规模完整的建筑群:三门、钟楼、上殿、客殿等,但石钟尚未铸造,待地方贤德完成供奉。

地方记载及传说,石钟铸造者为陈越诺(Trần Viết Nho,1642–1712),成市村北合里人,原为后黎朝武官,屡立战功,曾任扶南卫特别进附国上将军。晚年归乡开济生堂行医,德才兼备,深受民众敬仰。陈越诺为在家居士,号玄威大法,系国子监监生陈贵公(谥福)玄孙、国子监监生陈贵公(谥文正)孙。

陈越诺与妻、子孙及村中贤达共同铸造石钟,奉献调寺。石钟曾置于寺院院内,用于礼仪,象征功德与民众虔诚。2020年,为保护石钟,将其移至正殿与三宝殿之间,妥善保管至今。

石钟铭文不仅为历史资料,也体现当地民众的佛法虔诚及孝悌仁德精神,使调寺成为平江—宁平地区的重要文化、历史与宗教中心。

建筑景观

调寺现存建筑保持“二”字型布局,由上殿与前殿组成。
上殿三间,于1926年(保大元年,丙辰十月)重修,采用回文翼板结构,南方传统屋顶,体现越南民族建筑风格。木构架由四排柱列支撑,主柱与次柱皆为圆柱,光滑并逐渐收细,结构稳固且造型优雅。椽梁、斗拱雕刻精美,云纹、卷叶纹、火焰纹、竹叶纹交错,兼顾美学与承重功能。

前殿三间,于1942年(保大十七年,壬午十一月)重修,结构与雕刻与上殿一致,保持整体美学统一。

调寺还保存多件珍贵文物,尤以1692年(正和十三年,黎熙宗)石钟为代表,该石钟于2024年第13批被越南总理认定为国家宝物,为独一无二的珍贵原件,展现精湛装饰艺术,研究价值极高。

石钟尺寸:高0.95米,宽1.45米,厚0.7米,重约300公斤,两面装饰精美。

  • 石钟顶部高23厘米,长59厘米,中间雕荷叶,内有太阳形圆纹,中央点大圆,周围曲线象征光芒。叶缘高低不等,左右各有一条龙,头戴冠,眼大凸,口宽,舌衔珠,颌有须,身三段卷曲,三趾爪。尾部上翘,形成降龙之势,两侧如火焰般散布。
  • 钟颈分两部分,边界以细凹线框定,中间划六格,右两格刻“九天”,中间两格空,左两格刻“应元”,右“九”左“元”各置圆钮,顶部左侧刻蝴蝶飞翔。
  • 第二部分宽,刻“调寺宝钟”四字,镶嵌荷叶变形,背景半八瓣满开菊花,四周对称。中心设圆孔悬挂竹柄。
  • 钟两侧各雕凤凰展翅,朝向顶端荷叶。下方右侧刻“春”,左侧刻“秋”,下方左侧还雕水中水獭戏鲤鱼。

石钟体现历史、文化与美学价值,具备国家宝物认定条件。

参考资料

  1. Đỗ Văn Hiến, 2024, Khánh đá chùa Điều – Bảo vật quý của Hà Nam, UBND tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://baoninhbinh.org.vn/khanh-da-chua-dieu-bao-vat-quy-cua-ha-nam-2409280534000.html
  2. Đỗ Văn Hiến, 2025, Chùa Điều, xã Bình Giang, tỉnh Ninh Bình, sở Văn hóa Thể thao và Di lịch tỉnh Ninh Bình, truy cập tại: https://vhtt.ninhbinh.gov.vn/vi/tuyen-truyen-phat-trien-du-lich/chua-dieu-xa-binh-giang-tinh-ninh-binh-1679.html
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
1 chua diều

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)