Chùa Dương Đình (Gia Lâm, Hà Nội)

Chùa Dương Đình (Gia Lâm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Dương Đình tọa lạc tại thuộc thôn Dương Đình, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Cũng giống như các ngôi chùa khác trong vùng, chùa Dương Đình (Nguyên Xá tự) được dựng lên 1 để thờ Phật – một tôn giáo đã được du nhập vào nước ta ngay từ những năm đầu Công nguyên. 

Chùa Dương Đình nằm trên khu đất cao, quay hướng Nam đối diện với nghè Dương Đình. 

Lịch sử và nhân vật

Theo bài minh được khắc trên quả chuông có niên hiệu Minh Mệnh 19 (1838) hiện còn trong chùa cho biết: 

“Chùa Nguyên Xá có quả chuông to, năm Bính Ngọ, thời Lê Mạt gặp binh hoả nên chuông đã bị mất, nay thôn xã cùng khách thập phương công đức đúc lại chuông mới…” 

Do sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, chùa xuống cấp nghiêm trọng nên đã được trùng tu vào năm 1890.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa được kết cấu theo kiểu chữ “đinh” gồm tiền đường và thượng điện. 

Nhà tiền đường được xây cao hơn so với mặt sân 65cm, xung quanh có bó vỉa gạch. Nhà gồm ba gian hai chái, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, dạng bốn mái. Mái chùa lợp ngói mũi hài cổ, bờ nóc, bờ dải đắp kiểu bờ đinh không trang trí, chính giữa bờ nóc đắp một hình chữ nhật, trên đắp nổi ba chữ Hán “Nguyên Xá tự”, phía trước gian giữa xây ba bậc lên xuống bằng đá xanh hạt mịn. Hiên chùa rộng khoảng 1m20. Phía trước để ba cửa bức bàn dạng “thượng song – hạ bản”, hai gian bên để ô cửa sổ tròn hình chữ “thọ”. 

Trước toà tiền đường liền với hai hồi hiên xây hai trụ biểu cao, đỉnh trụ đắp nổi hình trái giành, thân trụ cũng đắp các đôi câu đối nhưng đã bị mờ. Mặt bằng toà tiền đường gồm bốn hàng chân. Bộ khung gỗ gồm bốn thức vì: hai vì giữa được kết cấu theo kiểu “chồng rường giá chiêng, hạ kẻ”, các cột bằng gỗ tròn làm theo kiểu “thượng thu, hạ thách”. Cấu trúc của các bộ vì kèo trong chùa là những bộ phận trụ chống chủ yếu được nối với nhau bằng những đường xà dọc phía dưới nối với đường hoành phía trên để tạo thành một bộ khung vững chắc nhằm đỡ toàn bộ lực đè của mái nhà. Các con rường được làm mỏng, thấp kê trên các đấu vuông thót đáy mỏng, thấp nhằm làm tăng độ vững chắc cho bộ khung nhà. 

Thượng điện là một nếp nhà ba gian dọc, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp nổi bờ đình không trang trí. Bộ khung được kết cấu theo kiểu “chồng rường giá chiêng – hạ kẻ”, trên các thức vì chồng rường, các rường nách được đặt khít trên một thanh xà ngang to, dày có đầu ăn mộng sâu vào trong cột, đầu kia tựa trực tiếp lên tường hồi để dỡ toàn bộ phần lực đè của mái nhà. Các đề tài trang trí ở chùa có phần đơn giản nhưng vẫn tạo sự mềm mại, thanh nhã và chứa đựng nội dung triết lý sâu sắc của đạo Phật trong một di tích có bề dày lịch sử tới hàng mấy trăm tuổi. 

Ngoài phần trang trí ở trên kiến trúc thì phần trang trí tập trung trên các bức cửa võng cũng hết sức sinh động: hầu hết trên các cửa võng chạm bong, chạm lộng để tài rồng chầu mặt trời ở chính giữa, hai bên là các đề tài tứ linh, tứ quý, cúc mãn khai… uyển chuyển và mềm mại tạo cho di tích vẻ đẹp thâm nghiêm, cổ kính. 

Nhà mẫu ở phía sau chùa gồm ba gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Bộ khung được kết cấu gồm hai thức vì bằng bê tông đơn giản, nền lát gạch Bát Tràng. Phần phía ngoài đặt một hương Tăng. Gian bên trong đặt tượng Mẫu, lớp trên cùng là tượng Tam Tòa Thánh Mẫu (Mẫu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải), Ngũ Vị Tôn Ông, Hoàng Bảy, Hoàng Mười, tượng cô, tượng cậu… 

Hệ thống tượng thờ tại chìa được bài trí theo quy định của đạo Phật, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. 

Tại toà Phật điện trên cùng là bộ tượng Tam Thế thường trụ diệu pháp thân đại diện cho 3000 vị Phật ở ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. 

  • Tượng ngồi thiền định trên toà sen cao khoảng 1m20, tay kết ấn tam muội với hai tay đan vào nhau để ngửa đặt trên lòng đùi, tóc kết bụt ốc như hình tháp cao chạy dần lên tận nhục kháo, khuôn mặt thanh thoát, phúc hậu thể hiện nét từ bi, bác ái của đạo Phật, sống mũi thẳng, miệng nhỏ, tai chảy dài thể hiện sự cao quý, đức độ, mắt khép hờ thể hiện sự soi dọi chúng sinh đau khổ. Tượng mặc áo cà sa hai lớp phủ hoàng kim để lộ ngực, bụng thon, các nếp áo mềm mại chảy dài xuống tận đài sen tạo thành những đường cong mềm mại và uyển chuyển. 
  • Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam Tôn. Tượng A Di Đà ngồi giữa cao khoảng 1m30, mặc áo cà sa để lộ ngực, tóc kết bụt ốc nhiều lớp, khuôn mặt hơi bầu, tròn, sống mũi cao, thẳng, tai dày, cổ hơi mập. Tượng ở tư thế ngồi thiền định trên đài sen hai lớp cánh. Cũng giống như tượng Tam Thế, đài sen của tượng A Di Đà có niên đại tạo tác muộn và ít mang tính nghệ thuật. Đứng hai bên A Di Đà là Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, đầu đội mũ tỳ lư, trên vành mũ điểm xuyết hình bông cúc mãn khai, hoa dây, vân dấu hỏi, đường hồi văn. Các nếp áo tượng chảy dài xuống tận chân thành những đường cong mềm mại. 
  • Lớp thứ ba là tượng Thích Ca Niêm Hoa có kích thước lớn hơn hẳn so với những pho tượng khác trong chùa. Tượng ngồi thiền định trên đài sen, tay phải nâng bông hoa lên ngang mặt, tay trái đặt ngửa trên lòng đùi, tóc kết bụt ốc nhiều lớp. Tượng có khuôn mặt tròn, bầu, thân hình hơi mập, nét mặt đôn hậu, từ bi, cổ tượng mập có hai ngấn. Tượng mặc áo cà sa hai lớp. Đây là pho tượng mà nhà chùa mới tạc thêm nhằm bổ sung cho phật điện của chùa. 
  • Lớp thứ tư là bộ tượng Ngọc Hoàng cùng Phạm Thiên và Đế Thích ở hai bên. Tượng Ngọc Hoàng ngồi giữa, đầu đội mũ bình thiên, vành mũ trang trí hình rồng chầu mặt trời và các vân mây, vân dấu hỏi, hoa dây, chân đi hia, tay phải cầm lệnh bài, tay trái cầm viên ngọc, tượng mặc áo trang trí hình rồng, hoa dây. 
  • Lớp thứ năm là Toà Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh bằng đồng, xung quanh thể hiện nhiều đề tài gắn với tích truyện về Phật. Ngoài chín con rồng linh thiêng phun nước để tắm cho đức Phật khi mới ra đời còn điểm xuyết vào các thiên thần và nhạc công từ thiên quốc xuống để chào mừng và nhã nhạc vang động cả bầu trời. Tượng như mang một sức sống khởi nguyên trong sáng và tươi vui. 
  • Hai bên Thích Ca là tượng Di Lặc cùng Tuyết Sơn. Tượng Di Lặc Bồ Tát được tạc thân hình béo tốt, mập mạp thể hiện sự viên mãn, nét mặt hỉ hả vô lo nghĩ. Tượng mặc áo cà sa ít lớp ngồi hơi ngửa ra sau, chân khoanh chân chống một cách vững chãi biểu hiện của “tịnh lạc”, bụng lớn tròn, ngực to, xệ, khuỷu tay tì trên túi “hậu thiên”. Tượng được bố cục một cách tự nhiên không bị gò bó bởi quy luật đăng đối, vẻ đẹp của tượng còn được tăng lên bởi ý nghĩa giải thoát, không bị ràng buộc bởi lục căn, lục trần. Di Lặc Phật còn được gọi là đấng từ tôn. 

Người Việt đã coi Di Lặc như một đấng cứu thế. Bên trái toà Cửu Long là tượng Tuyết Sơn tạc ngồi trên núi tuyết với thân hình gầy guộc, nét mặt đầy vẻ khắc khổ. Tượng ngồi trên toà sen, một chân chống gối, chân kia để nằm, tay trái cầm viên ngọc đặt trên đầu gối chân trái, tay phải đặt tự nhiên trên chân phải, mình mặc áo cà sa hở ngực. Tượng Tuyết Sơn là sự phản ánh đầy đủ những tâm tư của đức Thích Ca khi tu khổ hạnh: đôi mắt sâu lắng, thân hình gầy guộc như muốn nhắc nhở chúng sinh đừng theo lối tu khổ hạnh mà hãy tu theo lối vô chấp, không lệ thuộc vào hình, danh, sắc, tướng. Sát hồi trái toà thượng điện đặt tượng Quan Âm Chuẩn Để tạc ngồi trên toà sen với mười một đôi tay. Đôi tay chính chắp trước ngực, các cánh tay khác toả ra các hướng trong các thế ấn và cầm những vật linh, tượng đội mũ tỳ lư, trên vành mũ có hình mặt trời, thân tượng mặc cà sa để lộ ngực, tượng ngồi trên đài sen ba lớp cánh. 

Đối diện với tượng Quân Âm Chuẩn Đề là tượng Thánh Tăng. Dọc hai bên thượng điện là bộ tượng Thập Điện Diêm Vương. Hai gian hồi tiền đường đặt tượng Khuyến Thiện – Trừng Ác, Đức Ông và Thánh Tăng. 

Hệ thống tượng tròn được tạo tác bằng chất liệu gỗ của chùa Dương Đình hiện còn 54 pho bao gồm tượng Phật, tượng Tổ và tượng Mẫu được tạo tác một cách công phu, tỉ mỉ với cách bố cục cân xứng, hài hoà, đăng đối của từng pho tượng tạo cho Phật điện chùa thêm phần đa dạng, hấp dẫn. 

Những pho tượng có giá trị nghệ thuật tiêu biểu của chùa là bộ tượng Tam Thế, tượng Di Đà Tam Tôn, tượng Ngọc Hoàng, Phạm Thiên, Đế Thích… là những tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Bên cạnh tượng Phật là các tượng Hộ Pháp, tượng Thánh Tăng, Đức Ông, tượng Tổ, tượng Mẫu cũng được tạo tác khá chuẩn mực mang tính chân dung cao với lối tả thực đầy chất dân dã. 

Hiện vật

Hiện nay, chùa Dương Đình còn lưu giữ bộ di vật đa dạng về chất liệu, phong phú về chủng loại và mang giá trị nghệ thuật thế kỷ XIX – XX như: chuông đồng, bia đá niên hiệu thời Nguyễn, hương án, hoành phi, câu đối…

Các di vật này ngoài giá trị về nghệ thuật còn là nguồn sử liệu quý giá góp phần tìm hiểu về lịch sử nghệ thuật, phong tục, tập quán của một vùng quê giàu truyền thống văn hoá. 

Sự kiện và lễ hội


Ngày 15/5/2016, tại chùa Nguyễn Xá tổ chức chương trình “Kính mừng Đại lễ Phật Đản” và trao trợ cấp thường xuyên năm 2016 cho trẻ em mồ côi trên địa bàn huyện. Nhân dịp này, Đại đức Thích Quảng Phúc và Đạo tràng Ngũ Bách Hành Thiện – Tịnh tông Pháp hoa chùa Dương Đình đã trao tặng 10 xuất trợ cấp thường xuyên năm 2016, mỗi xuất 2.400.000 để tặng các trẻ em mồ côi, đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần vào việc đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn.

Xếp hạng di tích 

Ngày 22/01/2009, chùa Dương Đình đã được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử văn hoá.

Tham khảo


  • Di tích Lịch sử văn hoá – Cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm
  • https://phatgiao.org.vn/ha-noi-khanh-thanh-niem-phat-duong-nha-tang-chua-nguyen-xa-d16209.html
  • https://gialam.hanoi.gov.vn/chi-tiet-tim-kiem/-/view_content/1008251-chua-duong-dinh-kinh-mung-dai-le-phat-dan-va-trao-tro-cap-thuong-xuyen-cho-tre-em-mo-coi-nam-20-1.html

__________________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and Location

Duong Dinh Pagoda (traditional name: Nguyen Xa Tu) stands in Duong Dinh Hamlet, Duong Xa Commune, Gia Lam District, Hanoi. Like many pagodas in the area, it was erected to venerate the Buddha—a religion introduced into Viet Nam in the early Common Era.

The pagoda occupies a raised plot, faces south, and looks toward the Duong Dinh communal shrine (nghe).

Historical Background and Associated Figures

A bell inscription dated Minh Menh 19 (1838) preserved at the site records:

“Nguyen Xa Pagoda once had a great bell. In the year Binh Ngo, during the Late Le, war and fire destroyed it. Now the villagers and pilgrims have contributed to cast a new bell…”

Owing to time and conflict, the pagoda deteriorated and underwent a major restoration in 1890.

Architectural Layout and Setting

The complex follows a ding-shaped (T-plan) arrangement comprising a Front Hall and an Upper Hall.

Front Hall

  • Elevated 65 cm above the courtyard with brick curbing; three bays with two lean-tos; gable-end walls (bit doc tay ngai); four-slope roof.

  • Traditional “shoe-shaped” tiles; ridge and eaves formed in plain “din” style; the ridge center bears a rectangular plaque in relief with three characters “Nguyen Xa Tu.” Three fine blue-stone steps lead to the central bay. The veranda is c. 1.20 m deep.

  • Facade: three panelled doors (upper lattice, lower board); the side bays have circular “Shou” (longevity) windows.

  • Two tall gate-pillars stand before the eaves; pillar tops are modeled as fruit clusters; faded antithetical couplets remain on the shafts.

  • Structure: four rows of posts; four principal trusses. The two central trusses employ the “stacked-purlin with bell-frame, lower brackets” system. Round wooden columns taper upward. Longitudinals tie the lower frame; purlins above create a rigid load-bearing cage. Slender bracket-arms sit on thin, waisted square blocks to stiffen the frame.

Upper Hall 

  • Longitudinal three-bay sanctuary with gable-end walls; roofed in traditional shoe-tiles; plain ridge.

  • Framing again uses the “stacked-purlin with bell-frame, lower brackets” system. The jack-rafters rest tightly on a stout cross-beam; tenons sink deeply into the inner columns while outer ends bear directly on the gable walls to take roof loads.

  • Decorative themes are restrained yet graceful, conveying Buddhist philosophical ideals within a centuries-old monument.

Carved Screens and Decorative Program

Beyond architectural members, decoration concentrates on the openwork ritual screens: central roundels of “dragons adoring the sun” flanked by Four Supernatural Creatures, Four Seasons, and full-bloom chrysanthemums—fluid compositions that lend solemnity and antiquity.

Mother Goddess Hall

Behind the pagoda stands a three-bay hall (gable-end walls; traditional tiles; “din” ridge). The frame comprises two simple reinforced-concrete trusses; Bat Trang tiles pave the floor.

Inside: a monk’s incense table occupies the outer bay; the inner bay enshrines Mother Goddess icons—upper tier Tam Toa Thanh Mau (Heavenly Mother, Forest Mother, Water Mother), the Five Venerable Lords, Lord Bay, Lord Muoi, with attendant Young Lady and Young Lord images.

Image Array and Iconography

The image program follows Vietnamese Buddhist convention with a 19th-century artistic character.

  • Top tier: the Three Eternal Bodies of the Dharma (Tam The Thuong Tru Dieu Phap Than), representing Buddhas of past, present, and future.

    Each seated in meditation on a lotus (c. 1.20 m high), hands in samadhi mudra, hair in snail-shell coils rising to the usnisa; serene features and long earlobes convey compassion and virtue. Double-layered kasaya drape in soft folds to the lotus dais.

  • Second tier: Amitabha Triad (Di Da Tam Ton)—Amitabha seated centrally (c. 1.30 m), flanked by Avalokitesvara and Mahasthamaprapta wearing tilu crowns adorned with chrysanthemum rosettes, running-scrolls and cloud motifs. Robes fall in long, gentle curves. (The two-ring lotus bases here are of later date and simpler artistry.)

  • Third tier: Sakyamuni “Holding the Flower” (Niem Hoa)—larger than other images; right hand raises a blossom; left hand rests open on the lap; round, kindly face; double neck-lines; double-layered kasaya. (A recently added work completing the pagoda’s pantheon.)

  • Fourth tier: Jade Emperor with Brahma and Indra at either side. The Jade Emperor wears a flat-top court crown with “dragons adoring the sun,” cloud scrolls, and running motifs; boots; right hand with command tablet; left with a jewel; dragon-and-scroll patterned robe.

  • Fifth tier: Nine Dragons Bathing the Infant Buddha (Toa Cuu Long)—bronze Sakyamuni at birth amid nine sacred dragons, celestial beings and musicians welcoming the advent; a vivid image of pristine joy.

Flanking images include Maitreya and Snow-Mountain Ascetic:

  • Maitreya: corpulent and radiant, symbolizing fulfillment and bliss; relaxed seated pose, ample belly and chest, elbow on the “post-celestial” cloth bag—an untrammeled composition evoking liberation beyond the six senses and objects.

  • Snow-Mountain Ascetic: emaciated figure seated on a lotus over snowy crags; one knee raised, the other recumbent; left hand with jewel on the knee, right hand relaxed on the other leg; open-chested kasaya. The introspective eyes and lean body recall the Buddha’s ascetic period—an admonition to avoid extremes and practice non-attachment.

    Near the left return-bay stands Eleven-headed/Armed Avalokitesvara (Quan Am Chuan De) seated on a triple-tier lotus: principal palms joined at the chest, other arms radiating in mudras and holding sacred implements; tilu crown with solar emblem; open-chested kasaya.

Opposite is Saintly Monk (Thanh Tang). Along both sides of the Upper Hall runs the Ten Kings of Hell set. The Front Hall’s side bays display Encouraging Good / Suppressing Evil, Duc Ong (Anathapindika), and Saintly Monk.

In total, Duong Dinh Pagoda preserves 54 wooden sculptures—Buddhas, Patriarchs, and Mother-Goddess icons—finely carved and symmetrically composed, enriching both diversity and dignity of the main sanctuary. Representative 19th-century works include the Three Eternal Buddhas, Amitabha Triad, Jade Emperor, Brahma, and Indra. Portrait-like renderings of Dharma Protectors, Saintly Monk, Duc Ong, Patriarchs, and Mother-Goddess images exhibit vivid realism with vernacular warmth.

Collections and Moveable Heritage

The pagoda retains a varied corpus of 19th–20th-century artifacts of artistic and documentary value, including:

  • A large bronze bell,
  • Nguyen-period stone stele,
  • Altars and ritual tables,
  • Horizontal plaques (hoanh phi) and paired couplets (cau doi), etc.

Beyond their craftsmanship, these objects are crucial sources for studying regional art history, customs, and ritual practice.

Community Events and Recent Activities

On 15 May 2016, Nguyen Xa Pagoda (Duong Dinh) hosted the Vesak Grand Celebration and awarded 2016 regular stipends to orphans in the district. On this occasion, Venerable Thich Quang Phuc and the Ngu Bach Hanh Thien – Pure Land, Lotus Sutra Lay Association of Duong Dinh Pagoda granted 10 annual stipends (VND 2,400,000 each) to orphans and socially vulnerable children, contributing to local social welfare.

Protection Status

On 22 January 2009, the Ministry of Culture, Sports and Tourism listed Duong Dinh Pagoda as a National Historical–Cultural Monument.


2. Français

Nom et situation géographique

La pagode Duong Dinh, dont le nom liturgique est Nguyen Xa Tu, se situe au hameau Duong Dinh, commune de Duong Xa, district de Gia Lam, à Hanoï.

Comme la plupart des pagodes de la région, elle fut édifiée pour honorer le Bouddha, religion introduite au Viet Nam dès les premiers siècles de notre ère.

Établie sur un terrain surélevé, la pagode fait face au sanctuaire communal de Duong Dinh et s’oriente plein sud.

Historique et personnages associés

Une inscription gravée sur la cloche datée de la 19ᵉ année de Minh Menh (1838), encore conservée sur place, relate :

« La pagode Nguyen Xa possédait une grande cloche ; en l’année Binh Ngo, sous la fin des Le, la guerre et le feu la détruisirent. Aujourd’hui, les villageois et les fidèles ont uni leurs offrandes pour en fondre une nouvelle… »

Sous l’effet du temps et des guerres, l’édifice s’était gravement dégradé ; il fut restauré en 1890.

Architecture et cadre

Le plan de la pagode adopte la forme du caractère chinois « Dinh » (丁) – c’est-à-dire une disposition en T – comprenant un Pavillon antérieur et un Sanctuaire supérieur .

Pavillon antérieur 

  • Élevé de 65 cm au-dessus de la cour, ce bâtiment à trois travées et deux ailes latérales repose sur un soubassement de briques. Il est construit avec murs pignons pleins et toiture à quatre versants couverte de tuiles « nez de soulier ».

  • Le faîte, de style « dinh » sobre, porte au centre une plaque rectangulaire en relief portant trois caractères : « Nguyen Xa Tu ».

  • Trois marches en pierre bleue conduisent à la travée centrale. Une galerie de 1,20 m fait le tour de la façade. Celle-ci s’ouvre par trois portes à panneaux et, sur les côtés, par deux fenêtres circulaires en forme du caractère « Thọ » (longévité).

  • Deux piliers d’honneur se dressent devant le pavillon ; leurs chapiteaux sculptés en fruits stylisés dominent des fûts jadis ornés de sentences parallèles, aujourd’hui effacées.

  • La charpente, à quatre rangées de poteaux, comprend quatre travées principales ; les deux centrales utilisent le système « empilement de pannes et cadre de cloche, avec consoles inférieures ». Les poteaux, ronds et légèrement évasés à la base, sont reliés par des entraits longitudinaux et transversaux formant une ossature robuste soutenant toute la toiture. Les consoles fines reposent sur de petits dés carrés échancrés, renforçant la stabilité du bâti.

Sanctuaire supérieur 

  • Trois travées dans le sens de la longueur, murs pignons pleins, toiture en tuiles traditionnelles et faîte lisse.

  • Charpente suivant le même principe technique : pannes empilées et cadres de cloche, les chevrons secondaires s’appuyant sur une grosse poutre transversale engagée profondément dans les colonnes et reposant à l’autre extrémité sur les murs pignons.

  • Les motifs décoratifs restent simples mais élégants : ils traduisent la pensée bouddhique sur l’harmonie, la légèreté et la paix intérieure.

Décor sculpté

Les panneaux ajourés concentrent la richesse ornementale : dragons adorant le soleil, Quatre Animaux sacrés, Quatre Saisons, chrysanthèmes épanouis, entrelacs de nuages et de feuillages – un ensemble souple et raffiné qui confère au monument son allure ancienne et majestueuse.

Maison des Déesses-Mères 

Derrière la pagode, un bâtiment à trois travées (murs pignons, toiture en tuiles, faîte de type « dinh ») abrite le culte des divinités féminines.

La charpente comporte deux travées en béton armé ; le sol est dallé de carreaux de Bat Trang.

L’extérieur reçoit une table d’encens pour les moines ; l’intérieur est consacré aux statues des Mères célestes : au sommet, la Triade des Saintes Mères (Céleste, Forestière et Aquatique), les Cinq Seigneurs vénérés, les Seigneurs Sept et Dix, ainsi que les figures des jeunes divinités Cau et Co.

Programme statuaire et iconographie

L’ensemble suit les canons traditionnels du bouddhisme vietnamien, avec une esthétique du XIXᵉ siècle.

  • Premier registre : les Trois Corps éternels du Dharma (Tam The Thuong Tru Dieu Phap Than), représentant les Bouddhas du passé, du présent et du futur.

    Assis en méditation sur le lotus (hauteur env. 1,20 m), mains en mudra de concentration, chevelure en spirales montant vers l’ushnisha ; visages sereins, oreilles allongées symbolisant compassion et sagesse. Les kasaya à deux couches retombent en plis souples sur les dais de lotus.

  • Deuxième registre : la Triade d’Amitabha (Di Da Tam Ton).

    Amitabha trône au centre (hauteur env. 1,30 m), torse découvert, chevelure en multiples rangs de boucles, visage arrondi, nez droit, oreilles épaisses. Il médite sur un lotus à deux couronnes.

    De part et d’autre, Avalokitesvara et Mahasthamaprapta portent des tiares tilu ornées de chrysanthèmes et de nuages.

  • Troisième registre : Sakyamuni “tenant la fleur” – statue plus grande, main droite levant la fleur, main gauche ouverte sur la cuisse ; visage plein et bienveillant, double pli du cou, robe monastique à deux couches ; œuvre moderne ajoutée pour compléter le sanctuaire.

  • Quatrième registre : le Souverain de Jade, entouré de Brahma et Indra.

    Le Souverain de Jade, assis, porte une couronne plate ornée de dragons, de soleils et de nuées, des bottes rituelles, un insigne dans la main droite et un joyau dans la gauche ; la robe est décorée de dragons et de rinceaux.

  • Cinquième registre : le Bain des Neuf Dragons (Toa Cuu Long) et le Bouddha nouveau-né en bronze, entouré de dragons soufflant l’eau et d’anges célestes jouant de la musique – symbole éclatant de la naissance du Bouddha et de la pureté originelle.

Sur les côtés :

  • Maitreya au corps rebondi et au sourire bienheureux, incarnation de la joie et de la délivrance;

  • Ascète du Mont de Neige (Tuyet Son), silhouette maigre et regard profond, rappelant la période d’ascèse du Bouddha et prônant la voie du détachement.

    Près du mur gauche : Avalokitesvara à onze bras (Quan Am Chuan De), assise sur un lotus triple, les mains principales jointes, les autres en divers mudra ou tenant des objets sacrés, couronnée du disque solaire.

En vis-à-vis se trouve la statue du Saint Moine (Thanh Tang).

Le long des parois du sanctuaire s’alignent les Dix Rois des Enfers (Thap Dien Diem Vuong).

Dans les ailes du pavillon antérieur : statues de Khuyen Thien et Trung Ac, du Seigneur Duc Ong et du Saint Moine.

Au total, la pagode conserve 54 statues en bois : Bouddhas, Patriarches et Déesses-Mères, finement sculptées et disposées avec équilibre et symétrie. Les œuvres majeures – Triade des Bouddhas, Triade d’Amitabha, Souverain de Jade, Brahma, Indra – illustrent l’art du XIXᵉ siècle. Les portraits de protecteurs, saints moines et patriarches révèlent un réalisme empreint de ferveur populaire.

Objets et collections mobilières

La pagode Duong Dinh abrite un ensemble varié d’objets des XIXᵉ–XXᵉ siècles :

  • cloche en bronze,

  • stèle de pierre de l’époque Nguyen,

  • autels, tables rituelles,

  • panneaux horizontaux (hoanh phi), sentences parallèles (cau doi), etc.

Ces pièces, au-delà de leur valeur artistique, constituent des sources précieuses pour l’étude de l’histoire de l’art, des coutumes et de la spiritualité d’un terroir riche en traditions.

Événements et vie communautaire

Le 15 mai 2016, la pagode Nguyen Xa (Duong Dinh) a célébré la Grande Fête du Vesak et remis des allocations annuelles à des orphelins du district.

À cette occasion, le Vénérable Thich Quang Phuc et la communauté Ngu Bach Hanh Thien – Tinh Tong Phap Hoa ont offert dix bourses annuelles de 2 400 000 VND chacune à des enfants défavorisés, contribuant ainsi à la solidarité sociale locale.

Classement patrimonial

Le 22 janvier 2009, la pagode Duong Dinh a été officiellement classée Monument historique et culturel national par le Ministère de la Culture, des Sports et du Tourisme.


3. 中文(繁體)

名稱與地理位置

楊亭寺,古名「阮舍寺」,位於越南河內市嘉林縣陽舍社楊亭村。

與本區其他寺廟相同,楊亭寺為奉佛而建,佛教於公元初年即傳入越南。

寺院建於高地,面向南方,與楊亭祠相對。

歷史沿革與相關人物

據寺內現存銅鐘銘文記載,該鐘鑄於明命十九年(1838),文曰:

「阮舍寺舊有大鐘,丙午之歲,黎末兵火,鐘遂失。今村社與十方施主同心布德,重鑄新鐘……」

由於歲月與戰亂侵蝕,寺宇損毀嚴重,於光緒二十一年(1890)重修。

建築佈局與景觀

楊亭寺為「丁」字形格局,包括前殿(前堂)與上殿(主殿)。

前殿

前殿高出庭坪六十五公分,周圍砌磚緣帶。建築三間兩廊,封火山牆、四坡頂。屋覆「鞋口瓦」,脊為「釘脊」式,中央嵌矩形匾刻「阮舍寺」三字。

中間三階青石為臺階,前廊深約一點二公尺。正面開三扇板門「上棂下版」,兩側圓窗作「壽」字形。

前廊兩端各立表柱,高大挺立,頂塑果實形飾,柱身原刻對聯,今漫漶不清。屋架四列柱,四架樑。中間兩架採「重樑架鐘,下插楔」結構。木柱圓形,上收下放,以縱橫橫樑連結成堅實之骨架以承屋頂之重。細樑承於方形薄座上,以增穩固。

上殿

上殿為縱向三間,牆封山式,瓦覆「鞋口瓦」,屋脊平整無飾。

屋架仍用「重樑架鐘,下插楔」法。橫樑厚大,端榫深入柱內,另一端承於山牆,以承整體屋面重量。

寺內裝飾雖簡而雅,線條柔順,寓佛理之圓融與寧靜。

雕飾與門罩

雕飾集中於木製「闕門罩」之上:中央為「龍拱日」,兩側飾「四靈」、「四季」、「菊花盛放」等題材,雕工鏤空流暢,使整座寺宇古樸而莊嚴。

母殿

寺後為母殿,三間,封山牆式,覆「本瓦」,脊作「釘脊」式。屋架二榀混凝土梁,地鋪白藤磚。

外置僧香案,內供諸母神像:上層為「三座聖母」(天母、上山母、水母),次列「五位尊翁」、黃七、黃十及少男少女像。

佛像陳設與造像藝術

楊亭寺佛像陳設依越南佛寺傳統格式,風格屬十九世紀藝術。

  • 第一層:三世常住妙法身佛,象徵過去、現在、未來三千佛。

    坐於高約一點二公尺蓮臺上,雙手結「三昧印」,髮螺上聳至肉髻,面容安祥,長耳垂肩,表慈悲與德慧。雙層袈裟披於身,褶紋柔順延至蓮座。

  • 第二層:阿彌陀三尊。

    中為阿彌陀佛(高約一點三公尺),袒胸結跏趺坐,髮螺層疊,面圓鼻直,耳厚頸豐。左右為觀世音與大勢至,皆戴「提嚕冠」,冠上飾菊花、雲紋、卷草等。袍褶垂至足,線條流暢。

  • 第三層:釋迦拈花佛,體量最大,右手拈花至面前,左手仰置於膝,頭圓頸豐,面相慈和,雙層袈裟。此像為近代補塑,以充佛壇。

  • 第四層:玉皇大帝居中,梵天、帝釋侍立左右。

    玉皇頭戴平頂冕冠,冠飾「龍拱日」與雲紋;身著龍紋袍,右手執令牌,左手捧寶珠,足履朝靴。

  • 第五層:九龍灌浴太子與銅釋迦誕生像。

    九龍噴水為太子沐浴,環以諸天、樂神齊奏,象徵佛陀降世、光明初啟之景。

佛壇兩側:

  • 彌勒佛體肥腹圓,笑容喜悅,象徵圓滿與解脫。坐姿自然不拘,右肘倚「後天袋」,寓「清淨快樂」之意。

  • 雪山苦行像,身瘦骨立,坐於雪峰蓮臺,一膝立、一膝伏,左手持珠置膝,右手自然下垂,袈裟露胸。面容清峻、目光深遠,寓示佛陀苦修時之悟道:勸世不執著形名色相。

上殿左側設「十一面觀音」坐三層蓮臺,雙手合十,其餘諸臂展向四方,結印持法器,頭戴日輪冠,袈裟露胸。

對面為「聖僧」像。上殿兩壁列「十殿閻王」,前殿兩翼設「勸善、懲惡」、「德翁」及「聖僧」像。

全寺現存木雕佛像五十四尊,包括佛、祖、母神像,雕工精細,布局勻稱。代表十九世紀作品有「三世佛」、「阿彌陀三尊」、「玉皇」、「梵天」、「帝釋」等。護法、聖僧、祖師與母神像寫實生動,具濃郁民間氣息。

文物與遺存

楊亭寺保存十九至二十世紀多件珍貴文物,材質多樣、題材豐富,如:

  • 銅鐘一口;

  • 阮朝石碑一方;

  • 香案、供桌;

  • 匾額、對聯等。

此等遺物除藝術價值外,亦為研究地方藝術史、禮俗與信仰之重要史料。

活動與節慶

二〇一六年五月十五日,阮舍寺舉行「佛誕大典」並向本縣孤兒頒發常年補助。

值此,釋廣福法師與五百行善淨宗法華道場捐贈十份年度補助金(每份二百四十萬越盾)予孤兒與弱勢兒童,以促進地方社會安康。

文物保護等級

二〇〇九年一月二十二日,越南文化體育與旅遊部將楊亭寺列為國家級歷史文化古蹟。

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)