Tên gọi và vị trí địa lý
Kim Lan là vùng đất ở phía Đông Nam kinh thành Thăng Long, ven bờ Sông Hồng. Kim Lan còn được biết đến theo tên nôm là làng Sưa, là nơi cư trú của cộng đồng Việt cổ từ thời kỳ sớm nhất. Trước kia, chùa Kim Lan thuộc xóm Chùa, nhưng hiện nay thuộc thôn 2, xã Kim Lan, huyện Gia Lâm.
Chùa Kim Lan (tên chữ là “Linh Ứng tự”) là một ngôi chùa cổ nổi tiếng từ rất lâu, một nơi danh lam bậc nhất, có sông đẹp quanh co thành hình lân vờn, vượn múa trôi đi, lác đác núi non kỳ vĩ thành cái thế hổ náu, rồng chầu, quả là nơi có phong thuỷ cực đẹp (theo bài minh trên quả chuông “Kim Lan tự chung”).
Lịch sử và nhân vật
Căn cứ vào khối kiến trúc vật chất và những di vật hiện còn, có thể suy đoán định chùa Kim Lan được xây dựng vào cuối thời Lê và được trùng tu nhiều lần vào thời Nguyễn.
- Năm Tự Đức thứ 23 (1870), chùa được trùng tu lớn tòa tiền đường và thượng điện.
- Năm Duy Tân thứ 6 (1912), bà Đào Thị Xuyến cúng 50 đồng và 4 sào ruộng sửa chữa gác chuông chùa.
Năm 1933, chùa được trùng tu lớn, ghi nhận trên tấm bia “Công đức bị ký” niên hiệu Bảo Đại thứ 8 (1933) đã ghi việc sửa chữa chùa Kim Lan như sau:
“… Trời dựng cửa huyền, đất xây thắng cảnh, nước sông Nhị lăn tăn soi bóng ngôi chùa vằng vặc, ấy là cảnh ngôi chùa này vậy. Nhưng do tháng năm đằng đẵng, ngói vỡ tường nghiêng, gió táp, mưa sa làm chùa bị hư hỏng. Nay có vị chư nhân cửu phẩm là Vũ Văn Cư ở bản xã, mở lòng từ tâm, bỏ tiền của đứng ra tu tạo tòa tiền đường, thượng điện đều khang trang sạch, đẹp”.
Nhà Mẫu chùa được xây dựng và khánh thành năm 1951. Sau đó, vào năm 1995, nhà tổ được xây dựng. Tới năm 2002 thì xây lại nhà Mẫu. Hằng năm, chính quyền cùng với nhân dân địa phương và nhà chùa thường xuyên thực hiện công tác sửa chữa để duy trì và bảo tồn ngôi chùa lịch sử này.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Kim Lan với quy mô kiến trúc lớn và uy nghi, đồng thời là Thành hoàng của làng, đã hình thành một quần thể di tích kiến trúc độc đáo. Các công trình kiến trúc được bố cục hài hoà, đăng đối, với những mảng chạm khắc tinh tế, thể hiện rõ phong cách kiến trúc đặc trưng của thời Nguyễn.
Tam quan được xây dựng theo kiểu chồng diêm, với hai tầng tám mái và lợp ngói giả ống bằng vôi vữa. Hai đầu kìm được trang trí với hình rồng lá cuốn chầu vào phía giữa. Bốn góc đao cũng được trang trí với hình rồng cuốn chầu vào bờ nóc, phía dưới là ba chữ Hán “Kim Lan tự”. Cửa ra vào làm kiểu cửa vòm cuốn chỉ, có một cửa chính. Hai bên cửa xây hai trụ biểu, đỉnh trụ đắp hình búp sen, phía dưới trang trí các ô lồng đèn trang trí hình tứ quý, thân trụ đắp nổi các đôi câu đối chữ Hán.
Chùa chính được kết cấu chữ đinh, gồm năm gian tiền đường, ba gian thượng điện.
- Tiền đường xây theo kiểu tường hồi bít đốc với tay ngai, mái lợp hai tầng ngói ta. Lớp mái trên ở giữa bờ nóc đắp bức đại tự hình chữ nhật, phần giữa hai tầng mái được xây tường bao nổi lớp mái trên với lớp mái dưới, trên tường được trang trí thành các khung để viết hàng chữ Hán lớn. Nền nhà được tôn cao hơn sân chừng 20cm.
- Ba gian giữa trổ ba cửa dạng cửa bức bàn, hai gian bên xây bịt kín.
Hiên rộng khoảng 1m, gồm các cột tròn đỡ các đầu bẩy. Cách hai hồi hiên khoảng 1,2m là hai trụ biểu lớn, với đỉnh được đắp hình nậm rượu, đặt trên hình hoa sen và trang trí đấu vuông, mui luyện và ô lồng đèn.
Thân trụ hình vuông có khung để đắp câu đối bằng chữ Hán. Bộ khung nhà tiền đường gồm sáu bộ vì, đều được làm giống nhau theo kiểu “chồng rường”. Đầu các con rường được chạm hoa lá lớn, các đấu kê hình hoa sen. Các kẻ nách bên phải chạm hình hoa cúc, lá lật, bên trái chạm hoa lá. Các đầu kẻ gian giữa ở phía trong giáp với hậu cung cũng được chạm nổi thân trúc ở hai bên. Ngoài các phần trang trí trên, thân xà được bào trơn, kẻ soi. Sát hai gian hồi tiền đường có treo chuông và khánh lớn. Thượng điện gồm ba gian dọc, mái đổ bê tông, lợp ngói phía trên.
Hiện vật
Hiện nay, chùa Kim Lan còn lưu giữ được bộ sưu tập di vật đa dạng và phong phú về thể loại, chất liệu bao gồm đồ gỗ, đồ đồng, đồ đá, và đồ gốm sứ, mang theo mình những giá trị nghệ thuật tiêu biểu, đặc sắc, đại diện cho các phong cách nghệ thuật ở những giai đoạn lịch sử khác nhau.
Điều đáng lưu tâm là 43 pho tượng tròn được tạo ra với sự tỉ mỉ và công phu đặc biệt. Trong số đó, có những tượng nổi bật như bộ tượng Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Thế Âm Bồ Tát chuẩn đề, cũng như các tượng Khuyến Thiện, Trừng Ác, tượng Tổ, tượng Mẫu…
Tại thượng điện các pho tượng phật được bài trí như sau:
- Lớp thứ nhất là bộ tượng Tam Thế (thường trụ diệu pháp thân) đại diện cho 3000 vị phật ở ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Tượng ngồi thiền định trên tòa sen, hai tay đặt ngửa trên lòng đùi, khuôn mặt hơi tròn, tóc kết bụt ốc gồm chín lớp, lông mày cong hình bán nguyệt, sống mũi thẳng, miệng thoáng mỉm cười cứu độ, cổ tượng ba ngấn, mặc áo cà sa để lộ ngực. Đài sen pho giữa gồm hai lớp cánh, hai pho bên gồm ba lớp cánh, các cánh sen được làm to, không trang trí cầu kỳ. Tượng thuộc phong cách nghệ thuật thế kỷ XX.
- Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam tôn, gồm Tượng A Di Đà ngồi giữa và Quan Thế Âm bồ tát và Đại Thế Chí bồ tát ở hai bên. Tượng A Di Đà trong tư thế ngồi thiền, hai tay đặt ngửa xuống lòng đùi, mặc áo cà sa để lộ ngực, trên áo được tạo thành nhiều nếp gấp, các nếp gấp áo được tạo mềm mại rủ xuống để lộ rõ phần đùi của tượng. Tượng có khuôn mặt bầu, cổ cao ba ngấn, tai chảy dài thể hiện sự cao quý, tóc kết bụt ốc gồm chín lớp. Đây là tượng được tạc to nhất trong các pho tượng ở tòa thượng điện, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Đài sen phần dưới gồm hai lớp cánh to, mập. Quan Thế Âm bồ tát và Đại Thế Chí bồ tát được tạc trong tư thế ngồi trên đài sen hai lớp cánh, đầu đội mũ thiên quan, mũ chạm nổi các hình hoa cúc, tay cầm vật linh.
- Lớp thứ ba là pho tượng Tứ Giác Hoa ngồi trên đài sen, tay trái đặt ngửa xuống lòng đùi trái, tay phải để lên đầu gối đùi phải. Khuôn mặt tượng hơi tròn, cổ mập, ngắn, sống mũi cao và thẳng, mắt khép hờ, tai to chảy xuống ngang cầm. Đầu đội mũ tỷ lư, trên thành mũ được chạm rất cẩn thận hình lưỡng long chầu nhật, hai bên thành mũ còn để lộ hai đoạn dây quai mũ buông xuống quấn vào tai tượng rồi rủ xuống vai. Tượng mặc áo cà sa lộ ngực. Các nếp do phía trên thân được tạo mềm thành những đường thẳng buông xuống tự nhiên, bên dưới tạo thành những đường cong che kín phần đùi tượng chỉ để lộ rõ các ngón chân. Đài sen của tượng gồm ba lớp cánh. Tượng mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Hai bên là hai tượng phù trợ.
- Lớp thứ tư là tượng Ngọc Hoàng ở giữa, hai tượng thị giả đứng hai bên.
- Lớp thứ năm là tòa Cửu Long cùng Thích Ca sơ sinh, hai bên có hai tượng Nam Tào, Bắc Đẩu. Tượng mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Sát tường hồi thượng điện, bên phải đặt tượng Quan m tống tử, bên trái đặt tượng Quan m chuẩn đề. Tượng Quan m chuẩn đề được tạc trong tư thế ngồi trên tòa sen, sắc tướng đôn hậu thể hiện sự thấu suốt toàn năng. Tượng đội mũ tỳ lư, giữa thành mũ trang trí hình mặt trời. Khuôn mặt tượng trái xoan, cổ hơi mập ba ngấn. Tượng gồm 14 cánh tay, đôi tay chính chắp trước ngực, đôi tay thứ hai đặt ngửa xuống lòng đùi, các cánh tay khác tỏa đều sang hai bên, trên tay cầm vật linh. Đài sen tượng gồm hai lớp cánh được chạm khắc đơn giản mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XX.
Dọc hai bên tường hồi thượng điện là bộ tượng Thập Điện Diêm Vương.
Nhà mẫu ở phía sau chùa chính đã được tu bổ vào năm 2002, bao gồm năm gian tiền đường và ba gian hậu cung. Nhà được xây theo kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, và các vì được làm bằng bê tông phỏng, giữ nguyên cách thức của vì cổ truyền. Ba gian giữa làm nơi thờ tự, hai gian bên dùng làm nơi ở của chùa. Gian giữa xây bục cao làm nơi thờ Tam tòa Thánh mẫu, hai gian bên đặt tượng cô, tượng cậu. Sát tường hồi bên trái gắn tám tấm bia đá.
Nhà tổ được làm ở phía bên phải nhà mẫu. Nếp nhà này gồm bảy gian, mái lợp ngói ta, hiên đổ bê tông, các vì đều bằng bê tông được mô phỏng cách thức vì cổ truyền. Bên cạnh các pho tượng, nhiều di vật bằng gỗ cũng đạt đến độ tinh xảo của nghệ thuật chạm khắc gỗ như năm bức đại tự, hai câu đối sơn son thếp vàng, hai biển đề bài thơ… mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Đặc biệt là một hương án gỗ cao 1,2m, kích thước 1,2m x 0,9m. Mặt trước hương án được chia làm hai cấp. Phần trên được chia thành các ô hình vuông và hình chữ nhật, bên trong chạm các đề tài “tứ linh” hoa văn chữ triện, phần dưới cũng được chia ra nhiều ô to nhỏ chạm bong, chạm thủng các hình chim phượng, lá hóa rồng, mặt hổ phù… Trên bề mặt chính hương án ở giữa chạm đôi rồng chầu mặt trời, hai bên là các cánh sen cách điệu. Hai bên chạm các mặt hổ phù, tứ linh, tứ quý. Hương án mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Xếp Hạng
Với những giá trị về mặt khoa học lịch sử nghệ thuật, kiến trúc, văn hóa, Chùa Kim Lan đã được UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 905/QĐ-UB ngày 29/01/2003 xếp hạng di tích Lịch sử – Kiến trúc nghệ thuật.
Tham khảo
- Di tích Lịch sử văn hoá – Cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm
__________________________
Các ngôn ngữ khác
1. English
Name and Location
Kim Lan lies to the southeast of the former imperial citadel of Thang Long, along the banks of the Song Hong (Red River). Also known by its vernacular name “Lang Sua,” it has been inhabited by an early Viet community since the earliest periods. Formerly, Kim Lan Pagoda belonged to Xom Chua; today it is located in Thon 2, Kim Lan Commune, Gia Lam District.
Kim Lan Pagoda (formal name: “Linh Ung Tu”) has long been renowned as an ancient scenic temple. As recorded on the bell “Kim Lan Tu Chung,” its site enjoys exceptional geomancy: a meandering river encircles like auspicious beasts at play, with distant hills forming the posture of crouching tigers and attending dragons—an ideal feng-shui configuration.
History and Personages
Based on the built fabric and surviving artifacts, Kim Lan Pagoda was likely founded in the late Le period and underwent multiple renovations during the Nguyen period.
-
Tu Duc 23 (1870): major refurbishment of the Tien Duong (Front Hall) and Thuong Dien (Upper Hall).
-
Duy Tan 6 (1912): Madam Dao Thi Xuyen donated 50 sapèques and 4 sao of paddy fields to repair the bell tower.
In 1933, a substantial restoration is recorded on the stele “Cong Duc Bi Ky” (Bao Dai 8, 1933), which describes the temple’s renewal:
“Heaven set up a mysterious gate and earth shaped a fine landscape; the ripples of the Nhi River mirror the luminous pagoda—such is this scene. Yet the long years brought broken tiles and leaning walls, winds and rains harmed the temple. Now a virtuous gentleman of nine-rank, Vu Van Cu of this commune, opened his benevolent heart and financed the rebuilding of the Front Hall and Upper Hall, which are now clean, handsome, and well-ordered.”
The Mau Hall (Mother Goddess Hall) was built and inaugurated in 1951; the Patriarchs’ Hall (Nha To) was added in 1995; the Mau Hall was rebuilt in 2002. Each year, authorities, residents, and the monastic community continue maintenance to preserve this historic pagoda.
Architectural Landscape
With its imposing scale—and also serving as the village’s tutelary cult—the complex forms a distinctive architectural ensemble. Buildings are symmetrically composed with refined carvings characteristic of Nguyen-period architecture.
Tam Quan (Triple Gate). Built in the overlapping-eaves style (two tiers, eight roofs) and finished with lime-rendered faux round tiles. Dragon-leaf scrolls curl inward at the ridge ends; four upturned finials also bear coiling dragons converging on the roof ridge, beneath which appears the three characters “Kim Lan Tu.” The arched entrance has a single central door; on both sides stand two pillar-markers capped with lotus-bud finials, below which lantern panels depict the Four Seasons; raised Han-character couplets adorn the shafts.
Main Pagoda. Planned in ding (T-shaped) configuration with five-bay Front Hall and three-bay Upper Hall.
-
Front Hall (Tien Duong). Fire-screen gables with “arm-chair” shoulders; double layers of traditional tiles. Between the two tiers a wall band forms framed fields for large Han inscriptions; a rectangular “great title” tablet crowns the upper ridge. The floor is raised c. 20 cm above the courtyard. The three central bays open with paneled folding doors; the two flanking bays are closed. The veranda (c. 1 m deep) uses round posts and struts. About 1.2 m from the end verandas stand two large pillar-markers with wine-flask finials set on lotus and decorated with square abaci, cavetto moldings, and lantern panels. The timber frame comprises six identical bent-frames in “stacked purlin” technique; rafter tails are carved with large floral motifs; abaci are lotus-shaped. Right spandrels bear chrysanthemum and turned leaves; left spandrels floral scrolls; inner head-brackets near the sanctuary carry carved bamboo culms. Tie-beams are planed and beaded. A bell and a large gong hang near the two end bays.
-
Upper Hall: Three longitudinal bays; concrete roof slab overlaid with ceramic tiles.
Collections and Relics
Kim Lan preserves a rich, multi-material collection—wood, bronze, stone, ceramics—representing significant artistic styles across historical periods.
Of particular note are 43 full-round sculptures executed with meticulous care: the Tam The (Three Buddhas), Amitabha Triad (Di Da Tam Ton), Avalokitesvara Cundi, as well as figures of Khuynh Thien (Admonisher of Good), Trung Ac (Punisher of Evil), Patriarchs, and Mother Goddess images.
Upper Hall iconographic order:
- Tam The (Ever-Abiding Wondrous Dharma Body). Seated in meditation on lotus thrones, palms up on thighs; slightly rounded faces; nine coils of spiraled hair; crescent brows; straight noses; faint salvific smiles; triple neck folds; outer kasaya exposing the chest. The central lotus has two petal tiers; the flanking lotuses have three; petals are broad with minimal ornament; stylistically 20th century.
- Amitabha Triad. Amitabha seated in meditation (largest image in the hall), chest partly exposed, soft drapery revealing the thighs; round face, triple neck folds, long pendant ears; nine hair coils; lotus base with two thick petal tiers. Flanking Guanyin and Mahasthamaprapta are seated on double-tier lotuses, wearing celestial crowns incised with chrysanthemums; each holds sacred attributes. Style: Nguyen.
- Tứ Giác Hoa (a doctrinal image). Seated on a triple-tier lotus; left palm up on left thigh, right hand on right knee; round face, short full neck, high straight nose, half-closed eyes, large ears to the jawline; wearing a ti lu crown with “paired dragons flanking the sun,” with chin-straps curling to the ears and shoulders; chest-exposed kasaya, upper drapery falling in straight, natural lines and lower folds forming soft curves. Nguyen style. Two attendants flank the image.
- Jade Emperor in the center with two standing attendants.
- Nine Dragons Bathing the Infant with the Infant Shakyamuni, flanked by Nam Tao and Bac Dau (Lords of Birth and Death). Style: 19th century.
Against the right sanctuary wall stands Guanyin Bestower of Sons; to the left, Cundi Guanyin seated on a double-tier lotus with fourteen arms (principal hands joined at the chest; a second pair resting palms-up on the thighs; the others radiating with ritual implements). Gentle oval face; triple neck folds; sun emblem on the crown; 20th-century style.
Along both side walls: the Ten Kings of Hades.
Mau Hall (2002). Five-bay Front Hall and three-bay Sanctuary; fire-screen gables; traditional roof tiles; reinforced-concrete frames modeled on classical trusses. The central three bays form the altar area; the flanking bays serve residential functions. The central pedestal enshrines the Three Mother Goddesses; side bays hold Miss and Master images. Eight stone stelae are set on the left end wall.
Patriarchs’ Hall (Nha To). To the right of the Mau Hall; seven bays; tiled roof; concrete veranda; concrete trusses modeled on tradition. In addition to the sculptures, numerous carved wooden artifacts—five great title plaques, two gold-lacquered couplet boards, and two poem panels—show 19th-century style. A notable wooden incense table (h. 1.2 m; 1.2 × 0.9 m): the front face has two registers—upper with square/rectangular panels carved with Four Spirits and seal-script meanders; lower with pierced phoenixes, leaf-dragons, and demon-masks. The top field centers paired dragons flanking the sun, with stylized lotus petals; sides bear demon-masks, the Four Spirits, and the Four Seasons; overall 19th-century workmanship.
Heritage Designation
For its historical, artistic, architectural, and cultural values, Kim Lan Pagoda was designated a National Architectural and Artistic Monument by Decision No. 905/QD-UB (29 January 2003) of the People’s Committee of Hanoi.
2. Francais
Dénomination et localisation
Kim Lan est située au sud-est de l’ancienne citadelle impériale de Thang Long, sur la rive du Song Hong (fleuve Rouge). Connu aussi sous le nom vernaculaire « Lang Sua », le site fut habité dès les premières périodes par une communauté Viet ancienne. Autrefois, la pagode Kim Lan relevait de Xom Chua ; elle se trouve aujourd’hui à Thon 2, commune de Kim Lan, district de Gia Lam.
La pagode Kim Lan (nom lettré : « Linh Ung Tu ») est célèbre depuis longtemps. Selon l’inscription de la cloche « Kim Lan Tu Chung », l’emplacement bénéficie d’une géomancie exceptionnelle : le cours sinueux du fleuve forme des figures auspicieuses, tandis que les reliefs dessinent le « tigre accroupi » et le « dragon en adoration ».
Histoire et personnages
D’après la structure bâtie et les objets conservés, la fondation remonterait à la fin de la période Le ; plusieurs campagnes de travaux eurent lieu sous les Nguyen.
- Tu Duc 23 (1870) : restauration majeure du Tien Duong (salle antérieure) et du Thuong Dien (sanctuaire).
- Duy Tan 6 (1912) : Mme Dao Thi Xuyen offre 50 sapèques et 4 sao de rizières pour réparer le clocher.
En 1933, une grande restauration est relatée par la stèle « Cong Duc Bi Ky » (Bao Dai 8, 1933) qui loue la reconstruction menée par Vu Van Cu, bienfaiteur du village.
Le Pavillon de la Mère (Mau) fut édifié et inauguré en 1951 ; la Maison des Patriarches (Nha To) en 1995 ; le Pavillon de la Mère fut reconstruit en 2002. Autorités, habitants et communauté monastique assurent chaque année l’entretien du monument.
Paysage architectural
Par son échelle et sa fonction de culte tutélaire du village, l’ensemble forme un complexe architectural harmonieux, orné de sculptures raffinées typiques de l’époque Nguyen.
Porte Tam Quan. Type à deux niveaux, huit toitures, enduits simulant des tuiles rondes. Aux extrémités, rinceaux en forme de dragons ; les quatre angles portent des dragons enroulés convergeant vers le faîtage, sous lequel figure l’inscription « Kim Lan Tu ». L’entrée arquée comprend une porte centrale ; deux piliers latéraux coiffés de boutons de lotus, décorés de panneaux-lanternes (Quatre Saisons) et de couplets en caractères Han.
Bâtiment principal. Plan en T (forme « ding ») : cinq travées pour la salle antérieure, trois pour le sanctuaire.
-
Salle antérieure. Pignons coupe-feu à « épaules de fauteuil » ; toiture à deux nappes ; bandeau mural intermédiaire avec cadres pour inscriptions ; grand cartouche rectangulaire au faîtage. Sol rehaussé d’env. 20 cm. Trois portes pliantes au centre ; travées latérales murées. Galerie (env. 1 m) sur poteaux ronds et consoles. À 1,2 m des extrémités, deux grands piliers-marqueurs sur base de lotus et chapiteaux « flacon à vin », avec panneaux-lanternes. Charpente de six fermes « à pannes empilées » ; queues de chevrons sculptées de grandes fleurs ; dés en lotus. Écoinçons sculptés (chrysanthèmes, rinceaux, bambous). Battants planés et moulurés. Une cloche et un grand khánh (gong) pendent aux extrémités.
-
Sanctuaire. Trois travées longitudinales ; dalle de toit en béton recouverte de tuiles.
Collections et objets
Le site conserve un ensemble varié (bois, bronze, pierre, céramique) illustrant plusieurs styles historiques. On compte 43 statues en ronde-bosse, dont : Tam The (Trois Bouddhas), Triade d’Amitabha (Di Da Tam Ton), Avalokitesvara Cundi, Khuynh Thien (Exhortant au Bien), Trung Ac (Punissant le Mal), statues des Patriarches et de la Déesse-Mère.
Ordre iconographique du sanctuaire :
- Tam The (Corps de Loi Merveilleux Éternel) – trois Bouddhas assis en méditation sur des lotus, mains paumes vers le haut, visages doux, neuf spirales de cheveux, triple pli du cou, kasaya découvrant la poitrine ; lotus à deux/trois rangs de pétales (XXe s.).
- Triade d’Amitabha. Amitabha (plus grande statue) assis en méditation ; draperies souples ; visage plein, oreilles pendantes ; lotus à deux rangs épais. À gauche/droite : Guanyin et Mahasthamaprapta, assises sur lotus double, coiffées de couronnes célestes ornées de chrysanthèmes, tenant des attributs (style Nguyen).
- Tứ Giác Hoa – figure doctrinale assise sur lotus triple ; main gauche paume en haut sur la cuisse ; main droite sur le genou ; visage rond ; nez droit ; yeux mi-clos ; grande couronne « dragons affrontés au soleil » avec jugulaires ; kasaya découvrant la poitrine ; volants droits et courbes (style Nguyen) ; deux assistants.
- Empereur de Jade au centre, deux assistants debout.
- Neuf Dragons baignant l’Enfant Shakyamuni, flanqué de Nam Tao et Bac Dau (Seigneurs de la Vie et de la Mort) – style XIXe s.
Sur le mur droit : Guanyin dispensant des fils ; à gauche : Cundi (14 bras) assise sur lotus double, visage ovale, triple pli du cou, emblème solaire sur la couronne (XXe s.).
Le long des murs latéraux : Dix Rois des Enfers.
Pavillon de la Mère (2002). Cinq travées antérieures, trois travées arrière ; charpentes en béton inspirées du modèle traditionnel. Les trois travées centrales sont dévolues au culte (Trois Déesses-Mères) ; travées latérales à usage résidentiel ; huit stèles de pierre murales.
Maison des Patriarches (Nha To). Sept travées, tuiles traditionnelles ; charpentes en béton de type ancien. Boiseries notables : cinq grands panneaux titulaires, deux paires de couplets laqués et dorés, deux panneaux poétiques (style XIXe s.). Table d’encens en bois (h. 1,2 m ; 1,2 × 0,9 m) : avant-corps à deux registres, panneaux sculptés (Quatre Esprits, méandres « sceau »), parties ajourées (phoenix, feuilles-dragons, masques), plateau avec dragons affrontés au soleil et pétales stylisés (XIXe s.).
Classement patrimonial
Par décision No. 905/QD-UB du 29 janvier 2003 du Comité populaire de Hanoi, la pagode Kim Lan est inscrite Monument national d’architecture et d’arts.
3. 中文 (繁體)
名稱與地理位置
金蘭位於昇龍皇城(今河內)東南,臨紅河之濱,俗稱「蘇村」。此地自上古即有越族先民聚居。昔日金蘭寺隸屬寺巷,今屬金蘭社第二村、嘉林縣、河內市。
金蘭寺(字名「靈應寺」)歷負盛名。據銅鐘《金蘭寺鐘》銘:寺址形勝,水勢回環,如瑞獸嬉戲;遠山羅列,作「虎踞龍拱」之勢,誠風水佳境。
歷史沿革與人物
依現存建築與文物判斷,寺創於黎朝末期,阮朝屢經修葺。
- 嗣德二十三年(1870):大修前殿、上殿。
- 維新六年(1912):陶氏璇施銀五十、田四畝,以修鐘樓。
保大八年(1933)《功德碑記》述寺之重修:景致優游,年深日久,風雨摧毀;本社九品武文居發心捐資,重建前殿上殿,煥然一新。
母殿建成於1951年;祖堂興建於1995年;2002年重修母殿。其後,官民與寺方每歲整修維護,以守斯邑勝蹟。
建築與景觀
寺規模宏大,且兼司里社之城隍信仰,蔚為一組合獨特之建築群。佈局對稱,雕刻精工,具阮代風格。
三門:重簷八脊式,灰作圓筒瓦。鰭脊盤龍內趨,四隅飛檐龍盤向脊,脊下陰刻「金蘭寺」三字。正中券拱門一;左右立表柱,蓮蕾覆頂,下設燈窗飾「四時」,柱身陽刻漢聯。
大殿為「丁」字形:前殿五間、上殿三間。
-
前殿:封火山牆、「扶手」式肩;雙層瓦面。上下簷間砌牆帶為題額區,脊置長方「匾額」。地坪高出院面約二十公分。中三間設板折門,兩旁封實。廊深約一公尺;圓柱承挑。距兩端廊約一點二公尺各立大表柱,以酒壺形寶頂置蓮座之上,飾方斗、圓弧與燈窗。木構六架,悉用重梁疊檁法;梁尾大花;斗座蓮形。右側叉手刻菊與卷葉,左側為花葉;近後殿內轉角刻雙竿竹。梁枋刨光起線。兩端懸鐘與大磬。
-
上殿:縱向三間,混凝土覆頂,上覆陶瓦。
文物與典藏
寺藏多材質文物:木、銅、石、陶瓷,代表諸時代藝術風格。其中特別者為四十三尊圓雕:三世佛、阿彌陀三尊、觀音準提,及勸善、懲惡、祖師像、母神像等。
上殿佛像陳設:
- 三世佛(常住妙法身):結跏趺坐蓮臺,兩掌仰置於股上;面圓和,螺髮九層,月眉,鼻直,含笑度生,項現三紋,外披袈裟露胸。中像蓮座二層瓣,兩側三層,瓣寬簡飾,二十世紀風。
- 阿彌陀三尊:中為阿彌陀佛(全殿最大),胸前露衣,衣褶柔垂,腿部若隱;面圓、三道頸紋、長耳;螺髮九層;蓮座二重厚瓣。左右觀世音、大勢至坐雙層蓮,戴天冠,冠飾菊花,手捧法器(阮代式)。
- 「四覺花」像(教義像):坐三層蓮;左掌仰置左股,右手按右膝;面圓、頸短豐、鼻直、目半闔、耳大垂頤;戴提盧冠,冠飾「雙龍拱日」,冠帶繞耳垂肩;袈裟露胸,上襬直下,下襬圓轉,阮代風;左右侍者各一。
- 玉皇大帝居中,左右二侍立。
- 九龍灌浴太子與釋迦初生,側立南斗、北斗二神,十九世紀風。
上殿右壁供觀音送子,左壁供準提觀音,坐雙層蓮,面容雍和、冠中央飾日輪,卵面、頸三紋、十四臂(主手合十,次手仰置股上,其餘分持法器),二十世紀風。兩側列十殿閻王。
母殿(2002):前五間、後三間;仿古混凝土梁架。中三間為祀所:供三座聖母;兩側為「姑」「舅」像。左端牆嵌石碑八方。
祖堂(祖師殿):在母殿右側,七間;仿古混凝土梁架。木雕精絕:五方大匾、兩副金漆楹聯、二詩牌,皆十九世紀風。尤有木製香案(高一點二米;一點二×零點九米):前檻二層,上層方長諸格,刻「四靈」、篆文回紋;下層透雕鳳凰、葉化龍、饕餮;案面中央雙龍拱日,旁飾變形蓮瓣與四靈四時,具十九世紀工。
文物等級
以其歷史、藝術、建築與文化價值,金蘭寺經河內市人民委員會第905/QD-UB號(2003年1月29日)決定,列為國家級歷史—建築藝術古蹟。

