Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Tam Bảo, tên chữ là Thần Quang Tự, tọa lạc tại thôn Tam Bảo, xã Nam Hồng, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Ngôi chùa gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa – tâm linh của cộng đồng địa phương, đặc biệt là nghề làm hương truyền thống của người dân thôn Tam Bảo.
Lịch sử và nhân vật
Theo sử liệu và bia ký, đây từng là danh lam nổi tiếng – nơi Không Lộ Thiền sư đời Lý tu hành và đắc đạo, cho thấy chùa có lịch sử hình thành từ thời Lý, hơn 900 năm trước.
Trong quá trình tồn tại, chùa đã nhiều lần được trùng tu, đặc biệt là vào các năm 1608, 1632 và 1698. Các văn bia còn lưu giữ ghi rõ những lần đại trùng tu do các vương triều và gia tộc quý tộc họ Trịnh, họ Nguyễn cùng tăng ni và dân chúng cúng dường, đóng góp ruộng đất, tài vật. Các nhân vật nổi bật liên quan gồm: Bình An Vương Trịnh Tùng, công chúa Nhật Quang, cung tần Trịnh Thị Ngọc Trân, Thái quốc lão Đặng Thị Ngọc Dao, Thiền sư Trần Viết Phó, cùng nhiều tiến sĩ, quan lại như Nguyễn Thực, Đỗ Viết Hồ, Nguyễn Danh Nho… Đây cũng là thời kỳ chùa có quy mô lớn, với 21 dãy và 154 gian, được xem là trung tâm Phật giáo – văn hóa khu vực.
Trong thời cận đại, chùa gắn liền với sự nghiệp hành đạo và hoạt động xã hội của Cố Ni trưởng Thích Đàm Đoan (thế danh Trần Thị Viên). Bà sinh năm 1918 tại xã Tây Phong, Tiền Hải, và xuất gia từ rất sớm. Năm 1945, bà được cử trụ trì chùa Tam Bảo, khởi đầu giai đoạn phục hưng ngôi chùa trong bối cảnh đói kém, chiến tranh. Ni trưởng đã có nhiều công lao: vừa kiến tạo chùa cảnh, cứu đói dân nghèo, vừa nuôi dưỡng cán bộ cách mạng trong giai đoạn kháng chiến. Bà còn truyền nghề làm hương trầm cho Phật tử thôn Tam Bảo, tạo sinh kế ổn định cho nhân dân địa phương từ năm 1945.
Ngoài vai trò là trụ trì, Ni trưởng còn là ủy viên Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thái Bình (1958–1981), đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh, và nhiều lần đảm nhận vai trò Tôn chứng sư trong các giới đàn Ni. Với những đóng góp đó, bà được tặng nhiều bằng khen và huy chương. Ni trưởng viên tịch năm 2007, trụ thế 89 năm, hạ lạp 60 năm.
Trong thời kỳ gần đây, chùa Tam Bảo do Sư thầy Thích Đàm Trí trụ trì (ít nhất đến năm 2020), và tiếp tục là điểm tu học, lễ bái, sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng quan trọng.
Kiến trúc và cảnh quan
Chùa Tam Bảo từng được ghi nhận là một “danh lam bậc nhất của nước Nam”, cho thấy vị trí nổi bật cả về thẩm mỹ và tâm linh trong không gian văn hóa truyền thống.
Nhiều bia đá còn lưu lại tại chùa hiện nay phản ánh các đợt trùng tu, mở rộng quy mô qua nhiều thế kỷ:
- Bia “Phụng tạo Tam Bảo bi ký” niên đại Hoằng Định thứ 9 (1608) ghi rõ việc trùng tu chùa do Đại pháp sư trụ trì chủ trì, với sự đóng góp của Bình An Vương Trịnh Tùng, các công chúa họ Trịnh và các tín thí gần xa. Điều này cho thấy sự quan tâm và hỗ trợ của triều đình đối với Phật giáo, đồng thời khẳng định tầm vóc của chùa trong giai đoạn này.
- Bia “Trùng tu Tam Bảo tự bi ký” niên đại Đức Long thứ 4 (1632) ghi công cung tần Trịnh Thị Ngọc Trân – vợ vua Lê Thần Tông, cùng các tín thí trong việc đại trùng tu chùa. Văn bia cho biết:
Phàm tiền đường, hậu đường, tả hữu hành lang, tất thảy 21 dãy, cộng 154 gian, trụ đá thiêu hương, tam quan, thạch kiều đều được dựng mới.
Quy mô 154 gian và 21 dãy kiến trúc cho thấy chùa từng là một quần thể kiến trúc lớn và phức tạp.
- Bia chuông chùa Tam Bảo (niên đại Chính Hòa thứ 19 – năm 1698) cho biết chùa đã có từ lâu nhưng chưa có chuông. Thiền sư Trần Viết Phó đã khởi xướng và vận động nhân dân đóng góp để đúc chuông, bổ sung một yếu tố kiến trúc và âm thanh tâm linh quan trọng cho chùa. Bia viết:
Tự lập chi sơ, vô chung… kim do Trần Viết Phó hòa thượng hưng công tạo tạo.
Các bia đá tại chùa cũng ghi nhận lượng lớn ruộng đất được ban cấp hoặc cúng dường, phản ánh sự hưng thịnh của chùa và vai trò trung tâm trong đời sống làng xã:
- Bia “Phụng tạo Tam Bảo bi ký” (1608) liệt kê: 93 mẫu ruộng tại bản thôn, 65 mẫu tại bản xã, 9 mẫu ruộng do công chúa Nhật Quang ban tặng tại xã Cổ Lễ, 7 mẫu ruộng do vua Lê Đoan Khánh ban ở huyện Đại An.
- Bia chuông (1698) tiếp tục ghi nhận chùa sở hữu: “Tổng cộng 1371 mẫu 2 sào ruộng”, được sử dụng làm ruộng đèn hương – phục vụ duy trì nghi lễ Phật giáo, cúng tế và sinh hoạt thường nhật.
- Một số bia không ghi niên đại rõ nhưng cho biết chùa từng sở hữu “59 mẫu ruộng công điền”.
Hiện vật
Bia “Thần Quang tự bi” (Chính Hòa 19 – 1698):
- Người soạn: Đỗ Viết Hồ (Tiến sĩ 1697).
Bia “Hưng công tín thí” (Đức Long 4 – 1632):
- Người soạn: Nguyễn Thực (Tiến sĩ 1595).
Bia “Trùng tu Thần Quang tự” (Hoằng Định 9 – 1608):
- Người viết: Vũ Hồng.
Minh chuông (Chính Hòa 19 – 1698):
- Người soạn: Nguyễn Danh Nho (Tiến sĩ 1670).
Sự kiện và lễ hội
Chùa Tam Bảo (Thần Quang Tự) không chỉ là trung tâm sinh hoạt tôn giáo của nhân dân xã Nam Hồng mà còn là nơi tổ chức nhiều sự kiện văn hóa – tâm linh có ý nghĩa. Một trong những hoạt động tiêu biểu là chương trình văn nghệ chào mừng Đại lễ Khánh thành đền thờ và kỷ niệm 104 năm ngày Đản sinh Đức Nam Thiên Thánh Tổ, tổ chức vào ngày 29 tháng 10 năm 2020.
Bên cạnh đó, chùa còn tổ chức các lễ Phật Đản, Vu Lan Báo hiếu, và các khóa lễ tụng kinh cầu an – cầu siêu định kỳ, thu hút đông đảo Phật tử và nhân dân trong vùng. Đặc biệt, làng Tam Bảo với truyền thống làm hương gắn bó mật thiết với chùa, cũng thường tổ chức các hoạt động tôn vinh nghề hương vào dịp lễ hội, vừa tri ân Ni trưởng Thích Đàm Loan – người truyền nghề, vừa thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa tín ngưỡng, văn hóa và sinh kế cộng đồng.
Tham khảo
- Mạnh Thắng (2025), Hương trầm Tam Bảo, trên trang: https://baothaibinh.com.vn/.
- Tiểu sử Ni Trưởng – Trụ trì chùa Tam Bảo – Thái Bình, trên trang: https://www.daophatngaynay.com/.