Tên gọi và vị trí địa lý
Cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 15km về phía Đông Nam, Quận Dương Kinh là cầu nối giao lưu giữa các vùng phát triển linh hoạt của thành phố, với hệ thống giao thông đa dạng, kết cấu hạ tầng được quy hoạch và đầu tư cơ bản, dân cư phân bố khá tập trung trên nền tảng văn hóa truyền thống. Hưng Đạo là một phường thuộc quận Dương Kinh, trên địa bàn quận có nhiều di tích, danh lam thắng cảnh không chỉ thu hút du khách với cảnh quan yên tĩnh, thanh bình mà còn mang nhiều giá trị lịch sử, văn hóa. Trong đó, chùa Tiểu Trà (tên chữ Khánh Long tự) nép mình dưới không gian xanh mát của tán cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
Lịch sử và nhân vật
Cũng như bao ngôi đình làng Việt Nam ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ, di tích chùa Tiểu Trà gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng xã.
Theo sách Chùa cổ Hải Phòng:
Nguồn gốc của chùa phát triển cùng với trang Tiên Trà do Đô đài Thiên quang Phạm Hải đứng đầu. Đến năm Canh Thân (đời vua Chính Hòa – 1680) chùa được vị xã quan Bùi Kiến Gián và vợ là Lưu Thị Khuê đứng lên cùng dân làng trang trí lại tòa tiền đường. Nám Thành Thái thứ 14 (1902), chùa được dân làng quyên góp tu tạo lại to đẹp hơn, tượng Phật được bổ sung cùng với các đồ thờ tự quý như hoành phi, câu đối, cuốn thư, cửa võng sơn son thếp vàng rực rỡ. Năm 1946 thực dân Pháp đánh chiếm Hải Phòng.
Chùa Tiểu Trà là nơi đóng quân của đơn vị cảnh vệ phòng thủ chiến đấu ở mặt trận phía Đông thành phố (Cầu Rào – Đồ Sơn). Năm 1947 chùa là nơi che giấu bảo vệ cán bộ hoạt động trong lòng địch. Chùa được coi là trạm giao thông đưa đón cán bộ chiến sĩ biệt động luồn sâu vào vùng địch tạm chiếm của bộ đội Hải Phòng – Kiến An.
Cũng từ năm 1948, ni sư Bùi Thị Thân và Thích Đàm Thư về trụ trì tại chùa đã đào hầm bí mật nuôi dưỡng cán bộ về địa phương hoạt động. Cơ sở bí mật được duy trì đến ngày đình chiến ở Việt Nam.1
Trong bản dịch văn bia và cây tháp đá cổ dựng ở ngôi chùa Tiểu Trà, giáp cạnh đình có niên đại cách đây 336 năm cho biết: các ông Bùi Kiến Gián và thê thiếp, ông Bùi Sử Ốc công đức kinh phí trùng tu và tôn tạo đình chùa, họ đều đã được phong là Hậu thần vào thời vua Lê Hy Tông, niên hiệu Chính Hòa (10/1680 đến 3/1705), thời điểm này nhà Mạc đã bị mất ngôi, nhà Nguyễn ở đàng trong, đằng Ngoài nhà Trịnh đang phù Lê triều.
Kiến trúc cảnh quan
Năm 1991 chùa được sự quan tâm giúp đỡ của Thành hội Phật giáo Hải Phòng là sư cụ Thích Đàm Thăng, trụ trì chùa Đông Khê (Nguyệt Quang tự) giúp đỡ tranh thủ nguồn tài trợ của hội Phật giáo Châu Á, do hòa thượng Thích Minh Thông chủ trương. Chùa Tiểu Trà được trùng tu lại với quy mô lớn như nội ngoại thất, cảnh quan, dựng tượng đài Quán Thế Âm. Tòa Phật điện của chùa cao ráo, ngán nắp, có kết cấu kiểu chữ Đinh, bái đường 3 gian, 2 chái, có chuôi vồ, phần khung gỗ gồm 4 vì.
Trong chùa là sự kết hợp hài hòa giữa vật liệu cổ truyền thống gỗ, đá, gốm với công nghệ xây dựng mới tạo cho ngôi chùa thêm chắc chắn, sáng sủa. Nhà thờ Tổ là nơi đặt bàn thờ Sư tổ. Ngoài ra khu vườn chùa còn có vườn tháp chứa xá lị các vị Sư tổ viên tịch tại chùa.
Hiện vật
Chùa Tiểu Trà hiện nay còn bảo tồn được một số di vật cổ có giá trị lịch sử, mỹ thuật có niên đại thời Nguyễn đầu thế kỷ 19 như: bộ tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Quán Âm tiếp dẫn…
Xếp hạng
Chùa Tiểu Trà là trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân trong vùng. Chùa Tiểu Trà được xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Thành phố năm 2005.
Tham khảo
- Thích Thanh Giác, Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng, 2017, tr 257-259.