Vị trí địa lí
Đền và chùa Văn Phú thuộc thôn Tuy Lộc, xã Văn Phú, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái có tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ là 1774,7 m2, cách Ủy ban nhân dân xã Văn Phú khoảng 2 km, cách trung tâm thành phố Yên Bái 8 km. Để đến di tích, du khách đi theo đường bộ khá thuận lợi. Từ thành phố Yên Bái theo đường Điện Biên, du khách đến km 4, rẽ phải đi theo đường xuống cầu Văn Phú khoảng 6 km, đến xã Văn Phú là đến di tích.
Lược sử
Vào đầu thế kỉ XIX, Văn Phú là vùng đất đồi núi hoang sơ, chưa có người sinh sống. Khi đó, có một số người dân ở xã Áo Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đi buôn bằng đường thuyền qua đây. Khi dừng lại nghỉ chân, thấy vùng đất chưa có người ở nên họ về quê rủ một số gia đình như gia đình ông Nguyễn Kim Lạng, gia đình ông Trần Văn Viễn, gia đình ông Nguyễn Đình Ích và gia đình ông Nguyễn Văn Hoàn lên khai hoang đất đai, lập làng sinh sống.
Do đây là vùng đất hoang, toàn đồi núi, chưa có người khai phá nên các ông là những người đầu tiên khai phá đất đai, lập làng, lập bản và đặt tên cho vùng đất là Văn Phú. Từ khi được khai hoang, vùng đất đã mọc lên các bản, làng và xuất hiện nhiều dân cư sinh sống. Từ đó, các dân tộc trong vùng sống đoàn kết, gắn bó với nhau, xây dựng bản làng trù phú, cuộc sống yên lành.
Trong cuộc sống sinh hoạt và trong lao động sản xuất, vùng đất Văn Phú có những bản sắc văn hóa riêng biệt, phong tục, tập quán khác nhau. Việc thờ thần thánh hay tín ngưỡng thờ Mẫu (theo lịch sử lâu đời của người Việt) đều hướng tới ước vọng sức khỏe, tài lộc, may mắn, cầu mong mang lại cho họ sức mạnh và niềm tin vào cuộc sống. Đối với tộc người Việt, tín ngưỡng thờ thần thánh đặc biệt là thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian bản địa được hình thành từ nhu cầu trong đời sống văn hóa – tâm linh của người dân trong vùng nói riêng và của tộc người Việt nói chung.
Hàng năm, gia đình các ông Nguyễn Kim Lạng, Nguyễn Đình Ích, Trần Văn Viễn thường về quê ở xã Áo Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ để đi lễ. Là cư dân nông nghiệp, cuộc sống còn khó khăn, giao thông đi lại vất vả nên họ không có điều kiện đi lễ thường xuyên. Do đó, các ông đã về quê xin chân nhang lên thờ, đồng thời lập nên đền Văn Phú (tên đền gắn với tên vùng đất).
Nằm trong quần thể di tích đền Văn Phú, chùa Văn Phú là ngôi chùa cổ, có từ lâu đời. Theo các cụ cao tuổi trong làng cho biết, xưa kia chùa Văn Phú có tên là chùa Cây Thông (do xung quanh chùa trồng nhiều cây thông), tọa lạc tại thôn Văn Liên, xã Văn Phú, huyện Trấn Yên (nay là xã Văn Phú, thành phố Yên Bái). Kiến trúc theo kiểu nhà gỗ ba gian, mái lợp cọ, xung quanh tường được lịa bằng gỗ.
Năm 1971 – 1973, chùa Cây Thông được chuyển lên thôn Tuy Lộc (cách nền đất cũ khoảng 500 mét) để lấy đất xây dựng trường học và được đổi tên là chùa Văn Phú cho đến ngày nay. Khi chuyển lên thôn Tuy Lộc, chùa Văn Phú đã đặt nhờ các tượng thờ ở phía trước đền Văn Phú. Năm 2012, chùa Văn Phú được xây dựng tại thôn Tuy Lộc (nằm bên cạnh đền Văn Phú) với kiến trúc nhà cấp 4, rộng ba gian, mái lợp ngói. Bên trong không có tượng thờ, chỉ có tranh thờ được đặt trong khung kính.
Kiến trúc
Đền – Chùa quay hướng Tây Nam, cột gỗ bốn hàng chân, mái lợp cọ, xung quanh tường trát đất, diện tích khoảng 25 m2 – 30 m2. Gian hậu cung có ngai và ban thờ Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thượng Thiên và Mẫu Thoải. Gian đại bái có các ban Công đồng, Ban Sơn trang, Ban Trần triều, Ban Ngũ hổ.
Hiện trạng di tích đền Văn Phú: Đền Văn Phú được xây dựng từ thế kỉ XIX. Từ đó đến nay, di tích đền Văn Phú, xã Văn Phú không thay đổi gì nhiều về kiến trúc. Đền có quy mô nhà gỗ bốn hàng chân, mái lợp cọ, lịa ván xung quanh. Gian hậu cung có ban thờ Tam tòa Thánh Mẫu, ở giữa gian Đại bái có ban thờ Công đồng, bên trái Đại bái là ban Sơn trang, bên phải Đại bái là ban Thánh Trần.
Thờ tự
Theo các cụ già trong làng cho biết, đền Văn Phú thờ Tam tòa Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần. Đây là những vị thần, thánh đã có công giúp dân khai phá đất đai, lập làng bản, trồng lúa nước, đánh giặc ngoại xâm bảo vệ đất nước.
– Mẫu Thượng Ngàn: Là công chúa La Bình, con gái Sơn Tinh và công chúa Mị Nương. Khi còn trẻ, La Bình là cô gái đức hạnh, tài sắc vẹn toàn, cô thường được cha cho đi khắp mọi nơi từ miền núi non, hang động đến miền trung du.
– Mẫu Thượng Thiên: Vốn là Thiên cung tiên nữ, con gái Ngọc Hoàng, được dân gian sùng bái gọi là Cửu Thiên Huyền nữ.
– Mẫu Thoải: Là vị thần trị vì vùng sông nước, có xuất thân từ dòng dõi Long vương, liên quan trực tiếp đến thủy tổ dân tộc Việt buổi đầu dựng nước.
– Đức Thánh Trần: Theo thần tích, ông tên thật là Trần Quốc Tuấn hay còn gọi là Hưng Đạo Vương – một danh tướng kiệt xuất của dân tộc.
Chùa Văn Phú, xã Văn Phú là ngôi chùa cổ, chưa có tượng thờ (hiện chỉ có tranh thờ); chùa thờ Phật tam thế, Đức Chúa ông và Đức Thánh hiền.
– Phật tam thế: Gồm ba tranh thờ giống hệt nhau, đại diện cho Phật quá khứ, Phật hiện tại và Phật tương lai được xếp thành một dãy ở chính giữa gian thờ. Bộ tranh thờ này liên quan đến lực lượng tự nhiên, thể hiện khát vọng cầu mưa, cầu mùa màng,… của tộc người Việt.
– Đức Chúa ông: hay còn gọi là Ban Đức ông, là Trưởng Giả cấp cô độc. Ông thường xuyên giúp đỡ người nghèo, cứu người khổ, chia sẻ với những ai thiếu thốn.
– Đức Thánh hiền: Theo cách gọi dân gian, đây là A Nan Đà (dịch nghĩa là hoan hỉ), là anh họ của Đức Thích ca Mâu Ni, là người có công kết tập kinh điển của Phật.
Di vật
Hiện nay, di tích đền Văn Phú còn các hiện vật sau: Một lư hương cổ bằng đồng, một lư hương bằng sành sứ, ngựa gỗ, hai ngai thờ.
Sự kiện – Lễ hội
Xuân thu nhị kì, tại đền Văn Phú diễn ra nhiều lễ hội, trong đó, có một số lễ hội chính:
– Mở cửa đền – Ngày mùng 9 tháng Giêng: Hàng năm vào ngày mùng 9 tháng Giêng, tại đền Văn Phú diễn ra lễ mở cửa đền, khởi đầu cho một năm mới.
– Lễ giỗ Mẫu (ngày mùng 3 tháng 3 âm lịch): Từ xa xưa, đạo Mẫu đã lấy Mẹ là hình tượng và đề cao vai trò của người phụ nữ trong xã hội; luôn lấy nghề nông làm nền tảng chính. Do đó, dân gian Việt Nam có câu “Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ” là nói đến lễ giỗ Mẫu.
– Lễ vào hè (ngày mùng 1 tháng 4) và Lễ ra hè (ngày mùng 1 tháng 7): Hàng năm, vào ngày mùng 1 tháng 4 và ngày mùng 1 tháng 7 âm lịch, người dân thôn Tuy Lộc, xã Văn Phú tổ chức lễ vào hè và lễ ra hè hay còn gọi là Lễ Yên Kỳ để cầu cho ba tháng mùa hè và chín tháng mùa đông được an lành, thịnh vượng, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.
– Lễ giỗ Cha – Ngày 20 tháng 8: Đạo Mẫu lấy Mẹ là hình tượng, nhưng bên cạnh Mẹ có Cha. Nếu tháng ba, đền Văn Phú làm lễ giỗ Mẫu thì tháng tám vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm là ngày giỗ Cha – Hưng Đạo Vương – Đức Thánh Trần. Đức Thánh Trần là người Vạn Kiếp, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300).
– Lễ Tất niên, đóng cửa rừng – Ngày 25 tháng Chạp: Đây là lễ kết thúc một năm cũ, chuẩn bị đón năm mới, kể từ ngày này không ai được lên rừng chặt củi hay làm nương rẫy. Đến tháng Giêng, sau lễ mở cửa đền mọi người mới được lên rừng.
Hàng năm, tại chùa Văn Phú diễn ra các kì lễ chính như Lễ Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng), Lễ Phật Đản (ngày mùng 8 tháng 4), Lễ xá tội vong nhân – Vu Lan (ngày 15 tháng 7) và Lễ Cầu an – Tất niên.
– Lễ Thượng Nguyên (ngày rằm tháng Giêng): Đây được coi là ngày lễ thiêng liêng nhất của một năm mới. Rằm tháng Giêng còn được gọi là “Hội hoa đăng” hay “Lễ hội đèn hoa”.
– Lễ Phật Đản (ngày mùng 8 tháng 4 âm lịch): Đây là ngày lễ trọng đại được tổ chức hàng năm, thu hút nhiều khách thập phương đến tham dự.
– Lễ xá tội vong nhân (Ngày 15 tháng 7): Theo tín ngưỡng dân gian, ngày 15 tháng 7 âm lịch hàng năm là ngày “mở cửa địa ngục”, các cô hồn được xá tội, thoát về dương thế.
– Lễ Cầu an – Tất niên: Kết thúc một năm cũ và chuẩn bị đón năm mới với nhiều may mắn và tài lộc, hàng năm tại chùa Văn Phú tổ chức lễ cầu an và làm tất niên cho năm cũ.
_____________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
The Van Phu Temple and Pagoda are located in Tuy Loc hamlet, Van Phu commune, Yen Bai city, Yen Bai province, with a protected area of 1774.7 square meters. To get there, tourists can travel by road through Yen Bai city, turn right from Dien Bien street and go about 6 km to Van Phu bridge, then another 2 km to the Van Phu commune People’s Committee. The history of this land dates back to the 19th century, when people from Ao Loc commune, Phu Tho province, came here to trade and later established villages. With distinctive folklore and cultural beliefs, the Van Phu Temple worships three saints: Supreme Deity, Heavenly Queen, and Easing Deity, as well as Saint Tran. The Van Phu Pagoda worships the Three Jewels of Buddhism, the Lord God, and the Holy Saint. Annual festivals here such as temple opening ceremony, Mother’s Day, summer entering and leaving rituals, Father’s Day, and New Year’s Eve attract the attention and participation of many people.
Tiếng Trung (Chinese)
文福庙和寺庙位于越南宁宝省宁宝市文福区杜乐村,文福乡,保护面积为1774.7平方米。要到那里,游客可以通过道路经过宁宝市,从滇边街右转,然后再前往文福乡人民委员会。这片土地的历史可以追溯到19世纪,当时来自富川省奥洛区的人们来这里交易,后来建立了村庄。具有独特的民间文化和文化信仰,文福庙供奉了三位圣人:至高神,天后和缓解神,以及圣人。文福寺供奉佛教的三宝,主神和圣人。这里的年度节庆,如庙宇开幕典礼,母亲节,夏季进出仪式,父亲节和新年前夜吸引了许多人的关注和参与。
Tiếng Pháp (French)
Le temple et le pagode de Van Phu sont situés dans le hameau de Tuy Loc, la commune de Van Phu, la ville de Yen Bai, la province de Yen Bai, avec une superficie protégée de 1774,7 mètres carrés. Pour s’y rendre, les touristes peuvent voyager par la route à travers la ville de Yen Bai, tourner à droite depuis la rue Dien Bien et parcourir environ 6 km jusqu’au pont de Van Phu, puis 2 km supplémentaires jusqu’au comité populaire de la commune de Van Phu. L’histoire de cette terre remonte au XIXe siècle, lorsque des personnes de la commune d’Ao Loc, de la province de Phu Tho, sont venues ici pour commercer et ont ensuite établi des villages. Avec des croyances culturelles et folkloriques distinctives, le temple de Van Phu rend hommage à trois saints : le Dieu Suprême, la Reine Céleste et le Dieu Apaisant, ainsi qu’à Saint Tran. La pagode de Van Phu rend hommage aux Trois Joyaux du bouddhisme, au Seigneur Dieu et au Saint Saint. Les festivals annuels ici, tels que la cérémonie d’ouverture du temple, la fête des mères, les rituels d’entrée et de sortie d’été, la fête des pères et la veille du Nouvel An, attirent l’attention et la participation de nombreuses personnes.
