Giới thiệu
Chùa Vo Đông, hay còn được gọi là chùa Nông Vụ Đông, nằm trên mảnh đất có lịch sử xây dựng từ thời kỳ rất lâu. Từ đây, tầm nhìn mở ra về phía bắc là Phù Đồng, quê hương của anh hùng làng Gióng, và không xa về phía tây là Luy Lâu – trung tâm Phật giáo quan trọng thuộc đất nước trong giai đoạn đầu của thời kỳ Bắc thuộc.
Trong thời kỳ Lê và đầu thời Nguyễn, khu vực này được biết đến với tên là Nông Vụ Đông, hay làng Vo Đông, nằm trong xã Nông Vụ, huyện Gia Lâm, phủ Thuận Thành, trấn Kinh Bắc, tỉnh Bắc Ninh; sau này thuộc thôn Đông, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Từ năm 2004, di tích chùa thuộc tổ 18, phường Phúc Lợi, quận Long Biên.
Lịch sử
Ban đầu, những người cư dân đến đây đã khám phá và sinh sống qua các đời, lập nên trang Nông Vụ. Theo thời gian, trang ấp ngày một phồn thịnh, với sự tăng động dần dần của cư dân, trang Nông Vụ phát triển thành ba thôn: Thượng, Trung và Đông. Theo truyền thống địa phương, từ thời Hùng Vương thứ 6, lãnh đạo của trang Nông Vụ, được cho là tráng đinh, đã tham gia cùng với người anh hùng làng Gióng trong cuộc đánh đuổi giặc ân. Đến thế kỷ VI, vùng đất này đã có ba anh hùng tham gia chiến đấu chống lại quân giặc ngoại xâm do Lý Nam Đế lãnh đạo, đóng góp vào việc xây dựng Nhà nước Vạn Xuân độc lập. Những người này, với những đóng góp to lớn, được nhân dân tôn kính và thờ phụng như Thành hoàng trong các đình thôn thuộc trang Nông Vụ.
Vào thời kỳ Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII), chúa Trịnh đã xây dựng hành cung tại Cổ Bi, gần phía nam của trang Nông Vụ, thu hút nhiều quận chúa, cung phi và gia tộc trong phủ chúa đến tham quan, ngắm cảnh và đóng góp tài chính để xây dựng, tu bổ các công trình kiến trúc trong khu vực, trong đó có chùa Nông Vụ Đông. Giống như nhiều ngôi chùa khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, chùa Nông Vụ Đông được xây dựng để thờ Phật, một môn phái tôn giáo đã du nhập vào Việt Nam từ khá sớm và phát triển qua các giai đoạn lịch sử để đáp ứng nhu cầu văn hóa và tín ngưỡng của cộng đồng địa phương.
Theo thông tin từ văn bia tại chùa, thời kỳ Lê Trung Hưng, chùa Nông Vụ Đông có tên chữ là Bảo Long tự (chùa Bảo Long) và được biết đến với tên Long Khám tự (chùa Long Khám) do tọa lạc trên xứ đồng Long Khám. Trong thời kỳ Nguyễn, chùa giảm cấp độ và đã trải qua nhiều lần tu bổ nhờ sự hỗ trợ của cư dân thôn Nông Vụ Đông và các địa phương lân cận, duy trì và phát triển truyền thống tâm linh của nơi này.
Kiến trúc
Chùa Nông Vụ Đông, với quy mô kiến trúc lớn, nằm kế bên đình Nông Vụ Đông, tạo nên một quần thể di tích đình chùa Vo Động. Chùa hướng về phía nam và có mặt bằng kiến trúc bao gồm cổng chùa, giếng tròn, sân vuông, chùa chính, Tả, Hữu mạc, 2 am thờ nhỏ theo tín ngưỡng dân gian. Tam quan được xây 2 tầng với 4 mái đao cong, tầng dưới mở cửa vòm cuốn, tầng trên là gác chuông, treo quả chuông đồng lớn đề Bảo Long tự chung. Chùa chính có mặt bằng kiến trúc hình chữ đinh gồm Tiền đường, Thiêu hương và Thượng điện. Giống như nhiều ngôi chùa khác được quy hoạch lại vào thời Nguyễn, Thiêu hương và Thượng điện là một nếp nhà dọc 4 gian nối liền với gian giữa của Tiền đường. Toàn bộ khu chùa chính được xây tường bao xung quanh, tạo thành không gian khép kín riêng biệt cho một công trình di tích cổ.
Tiền đường được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, với đầu 2 bức tường hồi vượt ra khỏi diềm mái chừng 40cm nối với trụ biểu. Mái chùa lợp ngói mũi hài, bờ nóc, bờ giải đắp kiểu bờ đinh, chính giữa có bức phù điêu đề 3 chữ Hán lớn “Tường Vân tập” (nơi tụ tập của mây lành). Khung Tiền đường có cấu trúc vững chắc với 8 bộ vì làm theo kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ”. Mỗi vì gồm 4 hàng chân, mái phân thượng tứ hạ ngũ. Phía trước có hiên rộng tương ứng với 7 khoảng hoành. Đỡ phần mái hiên là những kẻ cong dài ăn mộng qua đầu cột quân và cột hiên, nền nhà lát gạch Bát Tràng, sát tường hậu và 2 hồi có xây bệ gạch cao để đặt tượng thờ.
Các bộ vì Thượng điện có kết cấu “thượng chồng rường giá chiêng, hạ kẻ“. Mỗi vì có 2 hàng cột lớn, các xà lòng gối vào tường bao. Trong Thượng điện có xây một hệ thống bệ gạch cao dần từ ngoài vào làm nơi tọa lạc cho các bức tượng Phật. Song song với Thượng điện là 2 dãy Tả, Hữu mạc có quy mô nhỏ, kiến trúc đơn giản kiểu tường hồi bít đốc, vì kèo quá giang. Phía trước có xây 2 am thờ nhỏ đặt trên trụ tròn cao khoảng 1,2m làm kiểu 2 tầng mái cong, phần cổ diêm giữa 2 mái trang trí bằng những mảnh sứ nhiều màu hình Long, Ly, Quy, Phượng. Năm 2001, chùa Nông Vụ Đông được xây dựng mới với mặt bằng kiến trúc gồm: Tam quan, giếng tròn nhỏ trước sân gạch vuông rộng, Tam bảo và Nhà Mẫu.
Khác với đình làng, giá trị nghệ thuật của chùa Nông Vụ Đông được thể hiện tập trung qua hệ thống tượng tròn với số lượng tượng lớn, được sắp đặt hợp lý trên Phật điện và có niên đại trải dài qua nhiều thế kỷ. Toàn bộ hệ thống tượng của chùa (hơn 40 pho) được tạo tác tỷ mỉ, công phu, đầy tính sáng tạo nghệ thuật. Gây ấn tượng mạnh nhất là nhóm tượng mang niên đại Lê Trung Hưng: bộ tượng Tam thế, A Di Đà, Quan âm Chuẩn Đề, Ngọc Hoàng cùng Nam Tào, Bắc Đẩu, Thích Ca sơ sinh với vành Cửu Long, tượng Tuyết Sơn cùng nhiều tượng khác… Đặc biệt có tượng bà Trịnh Thị Ngọc Thuần – người có nhiều công đức đối với dân làng và với chùa đã được nhân dân bầu hậu. Ngoài ra, chùa còn có 3 pho tượng Tổ được tạc với nét chân dung nhân hậu cùng các tượng Thánh Mẫu mang vẻ đẹp dân dã, tràn đầy tính nhân đạo vẫn có của dân tộc, xứng đáng là một điểm sáng trong dòng chảy của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo nước nhà. Bên cạnh đó, ở chùa còn lưu giữ được một quả chuông đồng quý có niên đại Cảnh Thịnh rất có giá trị cùng nhiều đồ tế tự khác để phục vụ các hoạt động tín ngưỡng. Những hiện vật quý trên cho thấy chùa Nông Vụ Đông là một tài sản rất quý giá mà cha ông để lại cho con cháu.
Giá trị
Năm 1995, đình – chùa Nông Vụ Đông đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa.
_____________________________________
Các ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Chùa Vo Dong, also known as Nong Vu Dong Pagoda, is situated on historically significant land in Nong Vu Dong, Gia Lam, Hanoi. With a panoramic view of Phu Dong and Luy Lau, this location has played a crucial role in the history of Buddhism in Northern Vietnam. Across various historical periods, Nong Vu Dong Pagoda has connections to the village hero, Giong, and spiritual leaders of the region. The pagoda has been constructed and renovated multiple times, reflecting the prosperity and spiritual beliefs of the community. In 1995, it was recognized as a Cultural Heritage Site by the Ministry of Culture and Information. This site is a valuable monument, combining grand architecture, intricate sculptures, and the preservation of enduring spiritual values.
Tiếng Trung (Chinese)
卧佛寺,又称农务东寺,位于河内嘉林农务东的历史悠久之地。从这里可以俯瞰到夫洞和涝楼,这个地方在越北佛教历史中扮演着至关重要的角色。经历了多个历史时期,农务东寺与村庄英雄“龙”以及该地区的精神领袖有着联系。寺庙经过多次建设和翻新,反映了社区的繁荣和精神信仰。1995年,它被文化和信息部认定为文化遗产。这个遗址是一个宝贵的纪念碑,融合了宏伟的建筑、精致的雕塑以及对持久精神价值的保护。
Tiếng Pháp (French)
Le temple Vo Dong, également connu sous le nom de pagode Nong Vu Dong, est situé sur une terre historiquement significative à Nong Vu Dong, Gia Lam, Hanoï. Avec une vue panoramique sur Phu Dong et Luy Lau, cet endroit a joué un rôle crucial dans l’histoire du bouddhisme dans le nord du Vietnam. À travers différentes périodes historiques, la pagode Nong Vu Dong est liée au héros du village, Giong, et aux leaders spirituels de la région. Le temple a été construit et rénové à plusieurs reprises, reflétant la prospérité et les croyances spirituelles de la communauté. En 1995, il a été reconnu comme un site du patrimoine culturel par le ministère de la Culture et de l’Information. Ce site est un monument précieux, alliant une architecture imposante, des sculptures complexes et la préservation de valeurs spirituelles durables.

