Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Đông Khê còn gọi là Đình Đông, tọa lạc tại thôn Đông Khê, xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Ngày nay, theo quy hoạch hành chính sau năm 2025, khu vực này sẽ được sáp nhập thành xã Đan Phượng, thuộc thành phố Hà Nội.
Đình thờ Tích Lịch Hỏa Quang (còn gọi là Hỏa Quang Sơn Thần), vị thành hoàng làng có công bảo trợ, gìn giữ sự bình yên và đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng. Đông Khê là một làng Việt cổ có lịch sử lâu đời, đến nay, làng vẫn bảo tồn được nhiều di sản văn hóa quý giá như: đình Đông Khê, chùa Đông Khê, đền Thanh Khê, cổng làng cổ, giếng đá cổ và nhiều cây cổ thụ từ lâu đời. Những di sản này góp phần phản ánh rõ nét lịch sử lâu đời và đời sống văn hóa đặc trưng của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Lịch sử và nhân vật
Căn cứ vào hiện trạng kiến trúc và hệ thống di vật, đặc biệt hiện đình Đông Khê còn bảo lưu được hệ thống đá niên hiệu Vĩnh Thịnh, niên hiệu Chính Hòa, các tấm bia có khắc chữ Hán với nội dung ghi lại việc nhân dân hưng công, tu sửa di tích và việc bầu người làm hậu thần. Đây là những cứ liệu, cơ sở khoa học có giá trị để nhận định đình Đông Khê là một công trình kiến trúc cổ có niên đại nửa cuối thế kỉ XVII.
Tương truyền rằng vào thời vua Hùng thứ 18, tức Hùng Duệ Vương, khi nhà vua đóng đô tại Việt Trì (Bạch Hạc), vua là bậc minh quân, văn võ song toàn, vừa chăm lo chính sự vừa giữ yên bờ cõi, đem lại cuộc sống ấm no cho muôn dân.
Vào khoảng thượng tuần tháng Giêng năm Canh Thân, tại vùng phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, thiên tai và dịch bệnh bỗng bùng phát dữ dội. Riêng ở trang Đông Khê, mỗi ngày có hàng chục người ngã bệnh, số tử nạn tới hai ba chục, thuốc men đều vô hiệu. Trong cơn nguy cấp, dân làng đã làm đơn tấu trình lên triều đình.
Nhận được tin, Hùng Duệ Vương lập tức sai quan quân đến xem xét tình hình. cho quân sĩ lập Một đàn tế lớn được lập ngay tại vùng đất này, trâu dê được dùng làm lễ vật cáo yết trời đất, cầu xin giải tai trừ nạn.
Giữa lúc tế lễ đang diễn ra, mây đen kéo đến, trời đất mù mịt, sấm sét nổi lên, bỗng xuất hiện một tấm lụa đỏ từ đám mây vàng trên trời buông xuống trước cửa đàn. Khi mưa tạnh, trời quang, một cụ già râu tóc bạc phơ bất ngờ hiện ra trên đàn tế, xưng rằng:
“Ta là thần nhà trời phụng mệnh đức Thượng đế có chiếu chỉ sai ta xuống hạ giới cứu tai nạn cho dân, đưa chúng sinh từ nơi than lửa bùn lầy, đặt lên nơi giường màn chiếu chăn êm ấm”.
Nói rồi, vị thần đi vào làng cứu chữa người bệnh. Chỉ trong vòng năm ngày, nhiều người được chữa khỏi bệnh. Dân làng vô cùng cảm kích, liền tấu việc lên triều đình. Cảm phục trước sự linh ứng và công đức cứu dân, nhà vua đã ban sắc phong thần hiệu là Tích Lịch Hỏa Quang Đại Vương, đồng thời cho phép trang Đông Khê lập miếu thờ phụng.
Ban đầu, nơi thờ chỉ là một ngôi miếu nhỏ. Về sau, Dần dần, cùng với sự xuất hiện của loại hình kiến trúc đình làng tại vùng đồng bằng Bắc bộ vào thế kỉ XVI, nhân dân Đông Khê, với lòng kính ngưỡng sâu sắc, đã dựng nên ngôi đình khang trang để thờ phụng vị thần.
Tích Lịch Hỏa Quang Đại Vương, một vị thần có uy linh, gắn liền với nhiều thần tích, thần sắc lưu truyền trong dân gian. Các bản thần tích, sắc phong qua các triều đại phong kiến không chỉ ghi nhận công lao, sự hiển ứng của ngài trong việc bảo hộ xóm làng, trừ tai dứt họa, mà còn thể hiện sự sắc phong, ban tặng mỹ tự của các triều vua nhằm khẳng định vị thế linh thiêng của ngài trong đời sống tín ngưỡng. Hệ thống thần tích, thần sắc phong phú này chính là bằng chứng về bề dày lịch sử, văn hóa của làng Đông Khê, đồng thời phản ánh niềm tin sâu sắc và sự tri ân của cộng đồng đối với vị thành hoàng bảo trợ cho sự bình yên, no đủ của dân làng.
- Thần tích thôn Đông Khê: Văn bản được sao chép vào năm 1938, gồm 6 trang viết bằng chữ Quốc ngữ, hiện được lưu giữ tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội, với ký hiệu tư liệu: Q4’18/II, 5. Bản thần tích kể lại truyền thuyết về một vị thiên thần tên là Quang, người được dân làng Đông Khê suy tôn làm thành hoàng làng, vị thần có công giúp dân trừ dịch, cứu nạn, mang lại bình yên cho cộng đồng.
- Thần tích “Ty Lịch Hóa Quang đại vương”, không rõ người và năm soạn chép; văn bản gồm 17 tờ, khổ 16x30cm, trong “Hà Đông tỉnh Đan Phượng huyện các xã thần tích”, lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu: AE.a2/11. Nội dung: Sự tích vị thần được sắc phong Ty Lịch Hóa Quang đại vương; ngoài ra chép một số văn tế dùng cho các ngày lễ trong năm.
- Thần tích, chép năm 1938, văn bản gồm 4 tờ chục Quốc ngữ; lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội, ký hiệu: Q4’18/II, 7. Nội dung: Sự tích hai thiện thần là Quang và Thông.
- Thần sắc, văn bản gồm 28 trang, trong “Hà Đông tỉnh Đan Phượng huyện các xã thôn phương thần sắc”, lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu: AD.a2/19. Nội dung: Phong cáo cho Tích Lịch đại vương vào các năm Dương Hòa (1 đạo), Vĩnh Thịnh (1 đạo), Cảnh Hưng (2 đạo), Chiêu Thống (1 đạo), Quang Trung (1 đạo) và Cảnh Thịnh (1 đạo).
Trải qua chiều dài lịch sử, kiến trúc đình hiện nay là kết quả của một lần trùng tu lớn vào thời nhà Nguyễn, nhưng vẫn bảo lưu nhiều chi tiết chạm khắc giá trị của nghệ thuật thế kỉ XVII – XVIII.
Kiến trúc cảnh quan
Đình Đông Khê nằm ở vị trí trung tâm làng Đông Khê, phía trước là dòng sông Đáy, một nhánh sông gắn liền với đời sống và văn hóa của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngày nay, đình Đông Khê được quy hoạch theo hướng Tây Nam, bao gồm các hạng mục chính: Nghi Môn, Đại bái, Tả/Hữu Mạc, ao hồ, tạo nên một tổng thể hài hòa, đặc trưng cho kiến trúc đình làng truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nghi Môn
Nghi môn đình Đông Khê được xây dựng phía bên trái sân đình, mang kiểu dáng bốn trụ biểu. Lối đi chính giữa được tạo bởi hai trụ biểu lớn, có chiều cao khoảng 3m, phần đỉnh trụ được trang trí bằng hình tượng tứ phượng chầu, ngay dưới là bốn hình hổ phù. Các ô lồng đèn trên trụ được đắp nổi hình tứ linh, phần thân trụ được trang trí bằng các đường gờ kẻ chỉ sắc nét, bên trọng là câu đối bằng chữ Hán chyaj dọc thân cột, chân đế thắt lại tạo thành cổ bồng vững chắc.
Từ trụ biểu lớn, nối sang hai bên là hai bức tường lửng, chiều ngang khoảng 1,5m, được trang trí họa tiết hồi văn theo kiểu chữ triện cổ điển. Bức tường nối liền với hai trụ biểu thấp hơn ở hai bên, hai trụ biểu nhỏ có cấu trúc và kiểu dáng tương tự trụ biểu lớn, chỉ khác ở phần đỉnh trụ được đắp đôi nghê hướng mặt vào trong đình.
Bên trong khuôn viên đình, phía tay trái cổng là một hồ nước lớn có mặt bằng hình vuông, tọa lạc phía trước tòa Đại bái và được ngăn cách bằng một khoảng sân rộng.
Hồ được bao quanh bởi hệ thống tường rào kiên cố. Nổi bật ở đoạn tường đối diện tòa Đại bái là một bức bình phong dạng cuốn thư với kích thước lớn, đặt cân xứng giữa hai cột trụ biểu. Cách bức bình phong một đoạn là hai cổng nhỏ, dẫn lối xuống hồ. Mỗi cổng đều có thang, tạo lối đi thuận tiện để người dân tiếp cận mặt nước trong các dịp lễ hội hoặc nghi thức liên quan đến yếu tố thủy trong không gian tín ngưỡng truyền thống.
Đại Bái
Qua Nghi Môn là một khoảng sân rộng lát gạch đỏ, đây là khoảng sân chầu, nơi tổ chức các nghi lễ tế trong những ngày lễ hội.
Nằm bên phải cổng chính là tòa Đại bái với kết cấu hình chữ Đinh (丁), gồm Tiền Đường và Hậu Cung. Tiền Đường gồm 3 gian 2 chái. Ba gian giữa là nơi tiến vào trong đình, với hệ thống cửa gỗ bức bàn. Hai chái hai bên được xây kín, giữa tường trổ cửa chữ Thọ.
Bên trong, tương ứng với 4 hàng chân cột là hệ thống các bộ vì được liên kết theo kiểu thống nhất, gồm thượng chồng rường, hạ rường nách và bẩy hiên. Điển hình là các đầu dư được chạm hình đầu rồng trên khúc gỗ nguyên khối, kết hợp kỹ thuật chạm lộng và bong kênh tinh tế, tỉ mỉ. Đầu rồng có mũi hếch, miệng rộng, đao mác thon nhọn kéo dài đến thân và đuôi cách điệu hình cá chép, nét đặc trưng của điêu khắc thế kỉ XVII. Ngoài ra, trên xà đùi (cấu kiện gỗ ở bộ vì gian giữa) còn chạm nổi các họa tiết đao mác và mây cụm rất đặc sắc. Mỗi gian đều được làm hệ thống cửa võng chạm lộng, thiết kế đồ sộ, sơn son thếp vàng cùng với những bộ hoành phi, câu đối lộng lẫy, đều được khắc chữ Hán bên trong. Phía trong án thờ là bài trí tượng và ngai thờ, xung quanh bài trí các đồ thờ cúng.
Nối liền gian giữa Tiền Đường là ba gian dọc của Hậu Cung, với các bộ vì thượng được làm bằng kỹ thuật chạm bong kênh và chạm lộng rất tinh xảo. Bộ vì thượng tại gian trong cùng (phía trên khám thờ) gồm các con rường chồng khít lên nhau, trang trí theo các đề tài dân gian. Con rường áp câu đầu chạm ba hình mặt trời cách điệu theo kiểu hoa cúc, nối tiếp theo phương ngang, các đao mác của mặt trời kéo dài và chấm vào các đao mác của mặt trời kế bên. Phía trên là năm đầu rồng được tạo hình chính diện. Đặc biệt, bên trái còn chạm một tiên nữ với khuôn mặt thanh tú, tay giơ cao trong tư thế múa uyển chuyển. Xen kẽ giữa các mảng chạm là những con thú nhỏ rất sinh động.
Bộ vì thượng gian ngoài có kiểu thức tương tự, trang trí chủ đạo là đôi rồng nhìn nghiêng cùng các họa tiết đao mác và vân mây dày đặc, xen giữa là những con thú nhỏ: rùa, lân mã, rồng, rắn và mây… bằng phương pháp chạm bong kênh, chạm lộng mang đặc trưng nghệ thuật thế kỷ XVII.
Mái Tiền Đường gồm bốn mái, lợp ngói mũi hài, bờ nóc mái được trang trí bằng dải hoa chanh tinh xảo, hai đầu bờ nóc đắp hình hai con kìm cách điệu, ở đầu guột có tượng nghê, đầu đao chạm rồng lá, các góc đầu đao uốn cong. Những chi tiết này góp phần tạo nên dáng mái mềm mại, thanh thoát và mang đậm nét nghệ thuật truyền thống.
Tả/Hữu Mạc
Phía trước tòa Đại Bái, hai bên là hai dãy Tả mạc và Hữu mạc, được xây dựng theo kiểu tường hồi bít đốc, lợp bằng ngói mũi hài truyền thống. Mỗi dãy gồm 3 gian, kết cấu vì kèo theo kiểu quá giang, hai dãy nhà với kiến trúc đơn giản, không trang trí hoa văn cầu kỳ.
Tả/Hữu mạc không chỉ đóng vai trò là nơi tiếp khách, đón lễ trong những dịp trọng lễ, mà còn được dùng để lưu giữ, bảo quản các đồ tế khí và di vật phục vụ nghi lễ truyền thống trong đình.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội truyền thống làng Đông Khê được tổ chức vào các ngày 11, 12 và 13 tháng Ba Âm lịch hàng năm. Công tác chuẩn bị cho lễ hội được người dân thực hiện một cách kỹ lưỡng và trang trọng, từ việc lựa chọn ban tế lễ, người đọc văn tế, đội rước kiệu, cho đến sắp xếp các nghi thức theo đúng truyền thống.
Theo khoán ước lập năm 1781, Đông Khê được xem là anh cả trong lễ hội Tổng Phùng, có vai trò chủ trì toàn bộ lễ hội, đảm nhiệm vai trò chủ tế và tả văn, phối hợp cùng 8 thôn anh em khác trong vùng.
Trong không khí linh thiêng của phần lễ, lễ hội còn mang đậm sắc màu dân gian với nhiều hoạt động truyền thống như: đánh đu, leo cầu ao, bắt vịt, thả chim bồ câu, chọi gà, chơi cờ bỏi, cờ người, thi thổi cơm, nấu bánh đúc, bánh tẻ… Đặc biệt, vào buổi tối, không khí lễ hội thêm phần sôi nổi với các tiết mục liên hoan văn nghệ, biểu diễn hát chầu văn, quan họ, thu hút đông đảo người dân và du khách thập phương tham dự.
Lễ hội không chỉ là dịp để tưởng nhớ công đức thành hoàng làng và các bậc tiền nhân, mà còn là cơ hội để gắn kết cộng đồng, phát huy truyền thống đoàn kết, góp phần giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa làng xã Việt.
Di vật
Bên cạnh giá trị nổi bật về kiến trúc nghệ thuật, đình Đông Khê hiện còn bảo tồn được một hệ thống di vật phong phú, có niên đại chủ yếu từ thế kỷ XVII đến XIX, với nhiều chất liệu và loại hình khác nhau.
- Các sắc phong thần được ban dưới triều Lê và triều Nguyễn, hiện vẫn còn lưu giữ khá đầy đủ.
- Nhiều bức hoành phi, câu đối có niên đại từ thời Lê đến thời Nguyễn.
- Một bộ long ngai bài vị, một cửa võng chạm lộng, cùng một kiệu bát cống, đều có niên đại thế kỷ XVIII.
- Một hương án gỗ chạm lộng quý hiếm, có niên đại đầu thế kỷ XVIII, là hiện vật tiêu biểu nhất trong số các di vật còn lại. Đặc biệt, hương án này được tạo tác bằng kỹ thuật chạm lộng tinh xảo. Mặt trước hương án được chia thành nhiều ô, trong đó chủ đạo là đề tài rồng cuộn, được chạm khắc sắc nét với các đao mác dày đặc. Phần ngăn cách giữa các ô là các đường gờ nổi tinh tế. Ấn tượng nhất là hai bên đầu hương án được chạm hình rồng xuyên qua biểu tượng mặt trời, một đề tài hiếm gặp trong mỹ thuật truyền thống, thường được gọi là “rồng ấp”, mang giá trị nghệ thuật và biểu tượng cao.
Đặc biệt là ba tấm bia đá có niên hiệu: Vĩnh Thịnh, Chính Hòa, Thành Thái, phản ánh quá trình tu sửa, công đức và tổ chức tín ngưỡng của làng qua các thời kỳ.
- Bia Kiến lập Hậu thần bi kí/建立後神碑記, niên đại Vĩnh Thịnh thứ 7(1711), người soạn Trịnh Quốc Dụng/鄭國用, người viết là Phạm Công Quán/范公冠, quê quán ở huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai. Nội dung bia cho biết: Ông Thận Nghĩa hầu họ Trịnh và vợ là Trịnh Thị Ngọc vốn nhà dòng dõi, sống có đức độ, được mọi người kính trọng. Ông bà đã bỏ tiền của xây 3 gian thờ và tường gạch bao quanh đền thờ thần của thôn Đông Khê. Dân thôn nhớ ơn, tôn bầu hai người làm Hậu thần.
- Bia Mãi trù văn khế chi bi/ 買籌文絜之碑, niên đại Chính Hòa thứ 9 (1688), nội dung bia: Hai giáp Thượng, Hạ Ty giáo phường huyện Đan Phượng trước nay sở hữu quyền hát cửa đình thôn Đông Khê. Vì nay mới có lệnh không được chia đều các khoản tiền trù và cỗ bàn trong các dịp lễ tiết trong năm nên thiếu tiền chi dùng, bởi vậy mới bán quyền sở hữu đó cho thôn Đông Khê với giá 40 quan tiền cổ. Từ nay cửa đình Nhị Khê thuộc về sở hữu của thôn Đông Khê, vào các dịp lễ tiết, nếu có dịp các đội ca trù ở nới khác đến tham gia thi tuyển trúng cách, giáo phường bản huyện không được cấm đoán hay sách nhiễu đòi hỏi các khoản tiền trù, tiền trùm và chia cỗ bàn.
- Bia Kiến mưu phúc viễn thạch bi chi đồ/ 建謀福遠石碑之圖, niên đại Chính Hòa thứ 10 (1689), có nội dung: Quan viên thôn Đông Khê mua lại các khoản thu từ hát cửa đình vào các kỳ nhập tịch, tàng quy, cầu phúc nguyên là sở hữu của nhị giáp ty Giáo phường huyện Đan Phượng với giá 40 quan tiền cổ. Quy định từ nay, các khoản tiền xướng ca trù, tiền nhiêu trùm và cỗ bàn không phải chia cho nhị giáp ty Giáo phường như trước nữa. Phần cuối khắc bài ca chữ Hán ca ngợi đình Đông Khê.
Xếp hạng
Đình Đông Khê đã được xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo quyết định ban hành năm 2008, ghi nhận giá trị đặc sắc về lịch sử, kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc truyền thống.
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Dong Khe Communal House, also known as Dong Communal House, is located in Dong Khe hamlet, Dan Phuong commune, Dan Phuong district, Hanoi city. According to the administrative planning after 2025, this area will be merged into Dan Phuong commune, under Hanoi city.
The communal house is dedicated to Tich Lich Hoa Quang (also known as Hoa Quang Son Than), the tutelary deity who protected the village, ensured peace, and preserved the spiritual life of the people. Dong Khe is an ancient Vietnamese village with a long history, still preserving many valuable cultural heritages such as Dong Khe Communal House, Dong Khe Pagoda, Thanh Khe Temple, the ancient village gate, the old stone well, and centuries-old trees. These relics vividly reflect the long-standing history and cultural identity of the Northern Delta inhabitants.
History and Legendary Figures
Based on the current architectural state and relic system, particularly the stone steles inscribed with the reign titles Vinh Thinh and Chinh Hoa, along with Han-character inscriptions recording village restoration works and the election of tutelary worshippers, it is identified that Dong Khe Communal House dates back to the late 17th century.
According to legend, during the reign of the 18th Hung King (Hung Due Vuong), while the king resided in Viet Tri (Bach Hac), he ruled wisely, maintaining stability and prosperity for his people.
Around the first lunar month of the year Canh Than, in Quoc Oai prefecture, Son Tay district, disasters and epidemics broke out. In Dong Khe village, dozens of people fell ill daily, with many deaths despite medical efforts. In despair, villagers submitted a petition to the royal court.
Upon hearing the news, Hung Due Vuong sent troops to investigate and organized a grand offering ritual, sacrificing cattle and goats to heaven and earth for relief. During the ceremony, dark clouds and thunder appeared, and suddenly, a red silk descended from golden clouds before the altar. When the sky cleared, an old man with white hair appeared, proclaiming:
“I am a celestial deity, sent by the Supreme God to descend and rescue humanity from disaster, saving them from fire and mud, bringing warmth and peace.”
The deity then cured the villagers, and within five days, many were healed. Grateful, the people reported to the king, who conferred upon the deity the title Tich Lich Hoa Quang Dai Vuong, allowing the construction of a shrine. Initially, it was a small temple, but by the 16th century, with the spread of communal house architecture, villagers built the grand Dong Khe Communal House to worship him.
Throughout dynasties, sacred records and royal decrees honored his miracles and benevolence, affirming his revered position in Vietnamese folk beliefs.
Several historical manuscripts and steles, preserved in the Institute of Hán-Nôm Studies and the Institute of Social Sciences Information, recount these legends, confirming Dong Khe as a village with deep-rooted cultural and spiritual traditions.
Architecture and Landscape
Dong Khe Communal House is located at the village center, facing the Day River. The complex includes the Nghi Mon (gate), Dai Bai (worship hall), left and right auxiliary houses (Ta/Huu Mac), and a pond. The architectural layout exemplifies traditional Northern Delta communal houses.
-
Nghi Mon: built with four pillars, decorated with phoenixes, tigers, and Han inscriptions.
-
Pond: square-shaped, in front of Dai Bai, with small gates leading to water for rituals.
-
Dai Bai: arranged in “Đinh (丁)” shape, with intricate wood carvings of dragons, clouds, and folklore motifs from the 17th–18th centuries.
-
Ta/Huu Mac: simple structures used for receiving guests and storing ritual objects.
Festivals and Events
Dong Khe traditional festival takes place annually on the 11th–13th of the third lunar month. According to the 1781 village pact, Dong Khe presides over the Tong Phung Festival, coordinating with neighboring villages.
The festival includes both solemn rituals and folk games: swing contests, duck catching, dove releasing, cockfighting, human chess, cooking competitions, and traditional singing such as hat chau van and quan ho.
It is not only a commemoration of the tutelary deity but also an opportunity to strengthen community bonds and preserve local cultural identity.
Relics
Dong Khe Communal House preserves numerous relics dating from the 17th–19th centuries:
-
Royal decrees (sac phong) from the Le and Nguyen dynasties.
-
Wooden altars, palanquins, and gilded carved screens from the 18th century.
-
Three important stone steles (Vinh Thinh, Chinh Hoa, Thanh Thai) recording restorations and donations.
Heritage Recognition
In 2008, Dong Khe Communal House was recognized as a National Architectural and Artistic Monument, affirming its historical and cultural significance.
2. Tiếng Pháp (Français)
Nom et Situation Géographique
La maison communale de Dong Khe, également appelée maison communale de Dong, est située au hameau de Dong Khe, commune de Dan Phuong, district de Dan Phuong, ville de Hanoi. Après 2025, cette zone sera intégrée à la commune de Dan Phuong, dépendant de la ville de Hanoi.
Ce lieu est dédié à Tich Lich Hoa Quang (aussi nommé Hoa Quang Son Than), génie tutélaire qui protégeait le village, garantissait la paix et la vie spirituelle des habitants. Dong Khe est un ancien village vietnamien conservant encore de nombreux patrimoines culturels précieux tels que la maison communale, la pagode de Dong Khe, le temple de Thanh Khe, l’ancien portail du village, le vieux puits en pierre et des arbres séculaires.
Histoire et Personnages Légendaires
D’après les vestiges architecturaux et les stèles de pierre gravées sous les règnes Vinh Thinh et Chinh Hoa, la maison communale de Dong Khe remonterait à la fin du XVIIᵉ siècle.
La légende raconte que sous le règne du 18ᵉ roi Hung (Hung Due Vuong), une épidémie frappa la région de Quoc Oai. À Dong Khe, de nombreux habitants moururent malgré les remèdes. Face à cette détresse, les villageois s’adressèrent à la cour.
Le roi organisa un grand sacrifice. Pendant la cérémonie, un nuage doré laissa tomber une soie rouge, et un vieillard apparut, se présentant comme une divinité céleste envoyée par le Souverain céleste pour sauver la population. Après cinq jours, les malades furent guéris. Reconnaissant, le roi conféra à la divinité le titre Tich Lich Hoa Quang Dai Vuong et autorisa la construction d’un sanctuaire.
Peu à peu, avec l’essor des maisons communales au XVIᵉ siècle, les habitants édifièrent un édifice plus vaste et somptueux.
Les décrets royaux et les chroniques témoignent de la vénération constante portée à cette divinité protectrice, inscrivant son culte dans les traditions populaires vietnamiennes.
Architecture et Paysage
Située au centre du village, face à la rivière Day, la maison communale comprend : Nghi Mon (porte monumentale), Dai Bai (salle des cérémonies), bâtiments auxiliaires (Ta/Huu Mac), et un étang rituel.
Les sculptures raffinées (dragons, nuages, animaux mythiques) datent principalement des XVIIᵉ–XVIIIᵉ siècles, représentatives de l’art vietnamien traditionnel.
Fêtes et Cérémonies
Chaque année, les 11, 12 et 13 du troisième mois lunaire, se tient la fête traditionnelle de Dong Khe. Selon une convention de 1781, Dong Khe jouait le rôle central dans la fête régionale de Tong Phung.
Outre les rituels solennels, la fête propose des jeux populaires (balançoires, combats de coqs, concours culinaires) et des spectacles artistiques (hat chau van, quan ho).
Vestiges et Objets
La maison communale conserve :
-
Des décrets royaux des dynasties Le et Nguyen.
-
Des autels, palanquins et panneaux gravés du XVIIIᵉ siècle.
-
Trois stèles importantes datant de Vinh Thinh, Chinh Hoa et Thanh Thai.
Classement Patrimonial
En 2008, la maison communale de Dong Khe a été classée Monument National d’Architecture et d’Art, reconnaissant son importance historique et culturelle.
3. Tiếng Trung (中文)
名称与地理位置
东溪 đình(又称东 đình),位于河内市丹凤县丹凤社东溪村。根据 2025 年后的行政规划,该地区将并入河内市丹凤社。
此 đình 供奉积历火光(又称火光山神),是保佑村庄、守护安宁和精神生活的村神。东溪是一个古老的越南村落,保存了大量珍贵的文化遗产,如东溪 đình、东溪寺、清溪庙、古村门、古石井和许多古树。这些遗产体现了北部平原居民悠久的历史与独特的文化生活。
历史与人物
根据现存的建筑与文物,特别是保存的永盛、正和年号石碑,以及刻有汉字的碑文记载村民修建 đình 庙与选立 hậu thần,可以断定东溪 đình 建于 17 世纪后半期。
相传在第 18 代雄王(雄睿王)时期,越池(白鹤)为都。某年正月上旬,山西镇国威府发生灾害与瘟疫,东溪村每日都有数十人染病死亡。村民急奏朝廷。
雄睿王命官兵设大祭坛,祭天祈福。仪式中,天空乌云雷鸣,一条红绸从金云飘落。雨过天晴,一位白发老人显现,自称:
“吾乃天神,奉上帝之命,下凡拯救百姓,使众生脱离火坑泥泞,安享温暖。”
随后他救治村民,五日内多人痊愈。雄王感其灵应,赐号“积历火光大王”,允许东溪村立庙祭祀。最初为小庙,后至 16 世纪,随 đình 建筑兴起,村民建成宏伟的东溪 đình。
历代神迹与诏书记录了此神驱灾护民的功德,确认其在越南民间信仰中的神圣地位。
建筑与景观
东溪 đình 位于村中心,前临 Đáy 河。整体布局包括:仪门、大拜殿、左右廊房与方形水池。其建筑风格展现了北部平原 đình 的典型特色。
-
仪门:四柱门楼,饰有凤鸟、虎符与汉字楹联。
-
水池:大拜殿前方形水池,两侧有小门通向水边,用于祭祀。
-
大拜殿:丁字形结构,雕刻龙、云、太阳、仙女等纹饰,体现 17–18 世纪雕刻艺术。
-
左右廊:简朴建筑,用于接待宾客和存放祭器。
节日与庙会
东溪村庙会每年农历三月十一至十三举行。根据 1781 年的村约,东溪在总丰庙会中为首,主持主要祭礼。
庙会除祭祀外,还有丰富的民间活动:荡秋千、斗鸡、赛棋、放鸽子、捉鸭、烹饪比赛及唱唱文、官贺等表演,吸引众多民众与游客。
文物
东溪 đình 保存了 17–19 世纪的大量文物:
-
历代黎、阮王朝赐予的神册诏书。
-
木制香案、龙椅、八抬轿与雕刻门屏。
-
三块石碑(永盛、正和、成泰年号)记录修建与功德。
遗产等级
2008 年,东溪 đình 被列为国家级建筑艺术遗迹,彰显其历史与文化价值。
Tham khảo
- Địa chí Đan Phượng, Sở văn hóa và thể thao Hà Nội ( 2025).
- Vũ Văn Quân ( 2022), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long, tập 7, Nxb Hà Nội.
- Cổng thông tin điện tử, Bộ văn hóa, thể thao và Du lịch.
- Cổng thông tin điện tử huyện Đan Phượng.
