Đình Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh)

Đình Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Quan Lạn tọa lạc tại thôn Đoài, xã Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh theo địa danh hành chính trước đây, nay thuộc đặc khu Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh. Di tích nằm trong khu vực bến Đình, gần bến thuyền trung tâm của đảo Quan Lạn, cách thành phố Cẩm Phả khoảng 35 km theo đường biển.

Đình có hướng Tây, mặt quay ra biển. Phía trước là ba ngọn núi Sao Trong, Sao Ngoài và Sao Ơn, phía sau có năm ngọn núi, tạo thành thế đất được dân gian gọi là “Tiền Tam thai, hậu Ngũ nhạc”. Vị trí này được lựa chọn khi đình di chuyển về thôn Đoài dưới triều Nguyễn, vào năm Thành Thái thứ 12 (1900).

Đình Quan Lạn thuộc quần thể di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn. Trong đó, đình là nơi thờ Thành hoàng và tổ chức các hoạt động cộng đồng; nghè thờ Trần Khánh Dư; các miếu thờ những vị thần và nhân vật có công với địa phương. Các công trình nằm trong không gian cư trú của cộng đồng dân biển, gắn với lịch sử hình thành và phát triển thương cảng Vân Đồn.

Nhân vật và lịch sử

Nhân vật thờ phụng

Đình Quan Lạn thờ vua Lý Anh Tông (1138–1175), vị vua thứ sáu của triều Lý, cùng các vị Thành hoàng và những bậc tiền nhân có công khai lập, xây dựng làng. Vua Lý Anh Tông được nhân dân phụng thờ vì có công thành lập trang Vân Đồn vào năm 1149, đặt nền móng cho sự phát triển của thương cảng Vân Đồn. Theo sử liệu, năm đó, thuyền buôn các nước Trảo Oa, Xiêm La và Lộ Lạc đến vùng Hải Đông xin được cư trú, buôn bán. Triều đình nhà Lý cho lập trang ở vùng hải đảo, gọi là Vân Đồn, trở thành một trong những thương cảng quan trọng của Đại Việt.

Đình còn gắn với việc tưởng niệm tướng Trần Khánh Dư và những người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông năm 1288. Khi quân Nguyên tiến hành cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ ba, Trần Khánh Dư chỉ huy lực lượng quân Trần đánh đoàn thuyền lương do Trương Văn Hổ chỉ huy tại vùng biển Vân Đồn. Chiến thắng này góp phần cắt đứt nguồn tiếp tế của quân Nguyên, tạo điều kiện cho quân dân nhà Trần giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến.

Bên cạnh Trần Khánh Dư, truyền thống địa phương còn ghi nhận công lao của ba anh em họ Phạm tham gia chiến đấu chống quân Nguyên. Các vị được thờ tại những ngôi miếu trong khu vực Quan Lạn, gồm miếu Sao Ơn, miếu Đức Ông và miếu Đồng Hồ. Hằng năm, nhân dân tổ chức lễ rước bài vị Trần Khánh Dư từ nghè về đình, kết hợp với các hoạt động tưởng niệm chiến thắng Vân Đồn.

Lịch sử hình thành và di chuyển

Đình Quan Lạn được xây dựng lần đầu vào thời Hậu Lê, khoảng thế kỷ XVII, tại bến Cái Làng, trung tâm của thương cảng cổ Vân Đồn. Khu vực này từng là nơi tập trung hoạt động giao thương giữa Đại Việt với thương nhân các nước trong khu vực. Đến thời Trần, thương cảng tiếp tục phát triển, giữ vai trò quan trọng trong giao thương đường biển và hoạt động phòng thủ vùng Đông Bắc.

Từ thời Lê sơ, chính sách quản lý ngoại thương có nhiều thay đổi, ảnh hưởng đến hoạt động của thương cảng Vân Đồn. Sang thời Mạc và Lê Trung Hưng, hoạt động buôn bán có giai đoạn được khôi phục. Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVII, khi những trung tâm giao thương như Thăng Long, Phố Hiến và Hội An phát triển, vai trò của Vân Đồn dần suy giảm. Đến thời Nguyễn, thương cảng cổ không còn duy trì hoạt động thương mại như trước.

Cùng với sự dịch chuyển nơi cư trú của cộng đồng, đình Quan Lạn được di chuyển từ bến Cái Làng về thôn Nam. Đến năm Thành Thái thứ 12 (1900), đình tiếp tục được chuyển về thôn Đoài và xây dựng lại tại vị trí hiện nay. Theo hồ sơ di tích, qua các lần di chuyển và thay đổi quy mô, đình từ kiến trúc chín gian ban đầu được thu hẹp còn bảy gian. Công trình hiện nay mang dấu ấn của lần xây dựng cuối thời Nguyễn, đồng thời bảo lưu các cấu kiện và mảng chạm khắc có phong cách nghệ thuật từ những giai đoạn trước.

Kiến trúc cảnh quan

Tổng thể kiến trúc

Đình Quan Lạn được xây dựng trên khuôn viên rộng khoảng 500 m², có mặt bằng hình chữ Công (工), gồm tòa tiền đường, ba gian ống muống và hậu cung. Theo tư liệu kiến trúc, tiền đường có năm gian hai chái, phía sau được nối với hậu cung qua hệ thống ống muống. Các hạng mục được xây dựng bằng kết cấu khung gỗ truyền thống, sử dụng hệ thống cột, xà, kèo và những cấu kiện liên kết bằng mộng.

Toàn bộ kiến trúc có 32 cột cái và 26 cột quân, chủ yếu được chế tác từ gỗ mần lái, kết hợp với một số cấu kiện gỗ lim. Mái đình lợp ngói vẩy, các đầu đao uốn cong, trên bờ nóc có hình lưỡng long chầu nguyệt. Hệ thống trang trí tập trung trên các cấu kiện gỗ của tòa tiền đường, các đầu bẩy, bức cốn, cửa võng, xà và kèo.

Tòa tiền đường

Tòa tiền đường là hạng mục kiến trúc chính của đình Quan Lạn, có quy mô năm gian hai chái. Công trình sử dụng hệ thống khung gỗ với các hàng cột cái, cột quân, liên kết cùng xà, kèo và những cấu kiện nâng đỡ mái. Một số cột có chu vi khoảng 3,2 m, kích thước lớn so với nhiều công trình đình làng truyền thống. Chất liệu chính là gỗ mần lái, loại gỗ được khai thác tại vùng đảo Ba Mùn thuộc khu vực Vân Đồn.

Mặt trước tòa tiền đường sử dụng hệ thống trấn song gỗ được liên kết bằng mộng với ngưỡng cửa và hàng cột hiên. Cấu trúc này cho phép ánh sáng và không khí lưu thông qua mặt đứng của công trình ngay cả khi đóng cửa. Các bộ phận cửa, khung gỗ và cột hiên được tổ chức thống nhất với hệ thống khung chịu lực của tòa nhà.

Phần lớn những mảng chạm khắc của đình tập trung tại tòa tiền đường, đặc biệt trên các đầu bẩy, bức cốn, cửa võng, xà và kèo. Các đề tài trang trí gồm rồng, phượng, hoa lá và những hình tượng phản ánh hoạt động sản xuất của cư dân địa phương. Nhiều chi tiết được chạm nổi, chạm bong và bố trí theo từng mảng trên cấu kiện gỗ.

Hệ thống ống muống và hậu cung

Phía sau tiền đường là ba gian ống muống, có chức năng kết nối tòa tiền đường với hậu cung, tạo thành bố cục mặt bằng hình chữ Công. Đây là phần kiến trúc nằm giữa hai khối nhà chính, duy trì sự liên thông trong không gian thờ tự.

Hậu cung nằm phía sau hệ thống ống muống, là nơi đặt các đối tượng thờ phụng của đình. Theo hồ sơ kiến trúc, hậu cung có quy mô một gian hai chái. Công trình thuộc hệ thống thờ chính, gắn với việc phụng thờ vua Lý Anh Tông và các vị thần được tôn thờ tại đình Quan Lạn.

Hệ thống cột và chất liệu gỗ mần lái

Một đặc điểm kiến trúc của đình Quan Lạn là việc sử dụng gỗ mần lái làm vật liệu chính. Đây là loại gỗ mọc tại vùng núi đá trên đảo Ba Mùn, có thớ mịn, độ cứng cao và khả năng chịu tác động của môi trường ẩm, hơi muối biển. Theo tư liệu địa phương, gỗ mần lái có độ bền cao, khả năng chống mối mọt và chịu nước biển tốt. Việc sử dụng loại gỗ này gắn với điều kiện vật liệu và môi trường tự nhiên của vùng đảo Vân Đồn.

Hệ thống cột của đình gồm 32 cột cái và 26 cột quân, trong đó có những cột gỗ có chu vi lên tới khoảng 3,2 m. Các cột được liên kết với xà và kèo bằng kỹ thuật mộc truyền thống, tạo thành bộ khung chịu lực nâng đỡ toàn bộ hệ mái. Nhiều cấu kiện còn có những mảng chạm khắc trang trí, kết hợp giữa chức năng kết cấu và nghệ thuật điêu khắc.

Kết cấu mái và trang trí bờ nóc

Mái đình Quan Lạn được lợp bằng ngói vẩy, có các đầu đao uốn cong. Trên bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt, với hai con rồng hướng về hình mặt nguyệt ở vị trí trung tâm. Đây là đề tài trang trí được sử dụng trong kiến trúc đình, đền truyền thống của người Việt.

Các chi tiết rồng còn xuất hiện tại góc đao, đầu bẩy và những cấu kiện nâng đỡ mái. Theo tư liệu, có những đầu bẩy được chạm tới chín hình rồng, sắp xếp thành nhiều lớp trên cùng một cấu kiện. Hệ thống mái và các bộ phận liên kết với mái là nơi tập trung nhiều chi tiết trang trí có giá trị nghệ thuật của đình.

Nghệ thuật chạm khắc rồng

Hình tượng rồng là đề tài trang trí chủ đạo trong kiến trúc đình Quan Lạn, xuất hiện trên hệ thống đầu bẩy, xà ngang, kèo, bức cốn, cửa võng và những cấu kiện gỗ khác. Các hình rồng được thể hiện dưới nhiều dạng thức như rồng ẩn trong mây, rồng cuộn trong lửa, rồng chầu mặt nguyệt, rồng trên cuốn thư và những tổ hợp rồng kết hợp với hoa văn trang trí.

Theo các tư liệu nghiên cứu, hình tượng rồng tại đình Quan Lạn thể hiện đặc điểm nghệ thuật của nhiều thời kỳ, từ Lý, Trần đến Lê và Nguyễn. Một số chi tiết có dạng đuôi rồng uốn trong mây, gợi phong cách nghệ thuật thời Trần; hình rồng có mắt xếch, râu và bờm mang đặc điểm thường gặp trong điêu khắc thời Lê. Những hình rồng nhe răng, có râu dài và móng vuốt sắc nhọn được nhận diện theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Sự hiện diện của những đặc điểm tạo hình khác nhau cho thấy ảnh hưởng của nhiều phong cách nghệ thuật trong hệ thống chạm khắc tại đình. Tuy nhiên, việc nhận diện phong cách Lý, Trần, Lê hoặc Nguyễn không đồng nghĩa tất cả các mảng chạm đều có niên đại trực tiếp từ những triều đại tương ứng. Một số chi tiết có thể được kế thừa, mô phỏng hoặc bổ sung trong quá trình xây dựng và tu sửa.

Các đề tài trang trí khác

Bên cạnh hình tượng rồng và phượng, đình Quan Lạn còn có những mảng chạm khắc hình con ngài tằm và con bề bề. Đây là hai hình tượng gắn với hoạt động sản xuất của cư dân địa phương, trong đó nghề trồng dâu nuôi tằm và khai thác hải sản từng có vai trò trong đời sống kinh tế của làng.

Các hình tượng này được thể hiện trên những cấu kiện kiến trúc, bên cạnh hệ thống đề tài linh vật và hoa lá truyền thống. Sự xuất hiện của hình con ngài tằm và con bề bề là đặc điểm đáng chú ý trong trang trí đình Quan Lạn, cho thấy việc đưa hình ảnh nghề nghiệp và môi trường sinh sống của cộng đồng vào nghệ thuật chạm khắc đình làng.

Cảnh quan khu di tích

Đình Quan Lạn có mặt chính quay về hướng Tây, nhìn ra vùng biển phía trước. Ba ngọn núi Sao Trong, Sao Ngoài và Sao Ơn nằm ở phía trước đình, được dân gian xem là bức bình phong tự nhiên. Phía sau đình có năm ngọn núi, tạo thành thế đất được gọi là “Tiền Tam thai, hậu Ngũ nhạc”.

Di tích nằm trong khu vực trung tâm làng Quan Lạn, gần bến Đình và không gian sinh hoạt của cư dân đảo. Khu vực bến nước trước đình còn liên quan đến hoạt động đua thuyền trong lễ hội truyền thống. Sự bố trí đình gần bến thuyền phản ánh mối liên hệ giữa công trình tín ngưỡng và đời sống của cộng đồng cư dân vùng biển.

Hiện vật

Đình Quan Lạn lưu giữ hệ thống cấu kiện kiến trúc gỗ và những tác phẩm chạm khắc truyền thống có giá trị. Nổi bật là bộ khung gồm 32 cột cái, 26 cột quân, cùng các bộ phận xà, kèo, đầu bẩy, bức cốn và cửa võng. Trong đó, nhiều cấu kiện được chế tác từ gỗ mần lái và trang trí bằng những mảng chạm rồng, phượng, hoa lá.

Các hình chạm rồng được thể hiện trên nhiều bộ phận kiến trúc, với những dạng thức khác nhau như rồng cuộn trong mây, rồng trong lửa, rồng chầu mặt nguyệt và rồng trên cuốn thư. Một số mảng chạm mang đặc điểm tạo hình của nghệ thuật thời Lê và Nguyễn, bên cạnh những chi tiết kế thừa phong cách nghệ thuật thời Lý, Trần. Đặc biệt, những hình chạm con ngài tằm và con bề bề là tư liệu về nghề nghiệp và sinh hoạt sản xuất của cư dân đảo Quan Lạn.

Ngoài những cấu kiện kiến trúc, đình còn gắn với hệ thống đồ thờ và bài vị phục vụ các nghi lễ truyền thống. Trong lễ hội hằng năm, bài vị Trần Khánh Dư được rước từ nghè về đình để tổ chức tế lễ. Tuy nhiên, nguồn tư liệu hiện có chưa cung cấp danh mục, niên đại và số lượng cụ thể của các hiện vật thờ tự độc lập tại đình.

Lễ hội

Lễ hội đình Quan Lạn được tổ chức hằng năm từ ngày 10 đến ngày 20 tháng Sáu âm lịch, trong đó các hoạt động chính tập trung vào ngày 18. Lễ hội nhằm tưởng niệm chiến thắng Vân Đồn năm 1288 của quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư, đồng thời thực hiện các nghi thức cầu mùa, cầu mong trời yên biển lặng và hoạt động đánh bắt thuận lợi. Những hoạt động tiêu biểu gồm khóa làng, lập doanh trại, luyện quân, rước bài vị Trần Khánh Dư và đua thuyền.

Ngày 10 tháng Sáu diễn ra tục khóa làng. Theo phong tục, trong thời gian này người dân trong làng hạn chế rời đảo để tập trung chuẩn bị và tham gia lễ hội, trong khi những người đi làm ăn xa và khách thập phương vẫn có thể trở về dự hội. Từ ngày 13, dân làng chia thành hai phe Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ, lập doanh trại riêng, tuyển chọn người tham gia và tổ chức luyện tập.

Thuyền đua thường là những chiếc thuyền đi biển có trọng tải khoảng 5–6 tấn, thân rộng, lòng sâu, được hạ buồm và trang trí hình đầu rồng ở mũi thuyền. Hai phe tổ chức luyện tập và chuẩn bị trang phục riêng cho các thành viên. Phe Văn thường mặc áo trắng, quần xanh, chân quấn xà cạp xanh; phe Võ mặc trang phục màu xám hoặc đen.

Ngày 16 tháng Sáu diễn ra nghi thức nghinh thần, rước bài vị Trần Khánh Dư từ nghè về đình Quan Lạn. Đoàn rước di chuyển trên tuyến đường dài khoảng 1,5 km, với sự tham gia của các thành viên trong cộng đồng. Sau nghi thức rước, các đội thuyền tiếp tục luyện tập tại khu vực bến nước, chuẩn bị cho cuộc đua chính.

Ngày 18 tháng Sáu là ngày chính hội, với nghi thức tái hiện hoạt động luyện quân và giao chiến chống giặc Nguyên Mông. Vào khoảng 15 giờ, khi thủy triều lên gần bến Đình, hai phe Văn và Võ tổ chức đội hình xuất phát. Các thành viên mặc trang phục theo phe, mang cờ và binh khí tượng trưng, di chuyển trong tiếng chiêng trống và hiệu lệnh của người chỉ huy.

Trong phần nghi lễ, hai đoàn quân gặp nhau ba lần tại sân đình, tượng trưng cho ba lần chiến thắng quân Nguyên dưới thời Trần. Hai vị tướng đại diện cho hai phe thực hiện các động tác múa đao. Sau lần gặp thứ ba, hai đoàn quân tập hợp trước miếu, các vị tướng vào tế lễ. Khi nghi thức kết thúc, cuộc đua thuyền chính thức bắt đầu.

Đua thuyền là hoạt động chính của phần hội, được tổ chức trên vùng nước gần bến Đình. Hai đội thuyền đại diện cho phe Văn và phe Võ tranh tài, với sự tham gia cổ vũ của nhân dân địa phương. Hoạt động này gắn với truyền thống sử dụng thuyền trong chiến đấu và đời sống của cư dân đảo, đồng thời là hình thức sinh hoạt thể thao, văn hóa truyền thống được duy trì qua nhiều thế hệ.

Xếp hạng

Ngày 14 tháng 7 năm 1990, cụm di tích đình, chùa, miếu, nghè Quan Lạn được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 575/VH-QĐ. Đình Quan Lạn là một thành phần của cụm di tích được xếp hạng.

Di tích lưu giữ hệ thống kiến trúc gỗ mần lái, các mảng chạm khắc truyền thống và những hình thức trang trí gắn với đời sống cư dân thương cảng Vân Đồn. Cùng với hệ thống chùa, miếu và nghè, đình Quan Lạn là nơi thực hành tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tưởng niệm vua Lý Anh Tông, tướng Trần Khánh Dư và những người có công với cộng đồng vùng biển đảo.

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)