Võ Miếu (Hương Hồ, Thành phố Huế)

Võ Miếu (Hương Hồ, Thành phố Huế)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Võ Thánh Miếu (thường gọi tắt là Võ Miếu hay Võ Thánh) là nơi thờ tự chuyên biệt dành cho các bậc danh nhân có công trạng trong lĩnh vực quân sự. Đây là nơi thờ danh tướng Trần Hưng Đạo của triều Trần, đồng thời phối thờ các công thần khai quốc thời chúa Nguyễn và buổi đầu triều Nguyễn (trước năm 1802), cũng như ghi danh những võ tướng lập nhiều chiến công dưới thời Nguyễn độc lập (1802 – 1884). Ngoài ra, Võ Miếu còn là nơi khắc ghi tên tuổi các võ tiến sĩ đỗ đạt trong ba khoa thi võ tiêu biểu của triều đại, thể hiện rõ vai trò đề cao võ học và quân công trong hệ tư tưởng chính trị đương thời.

Hiện nay, di tích Võ Miếu tọa lạc tại phường Hương Hồ, thành phố Huế, nằm trong phạm vi bảo tồn của Quần thể di tích Cố đô Huế.

Lịch sử và nhân vật

Sau khi Văn Miếu Huế được xây dựng, mô hình thiết chế thờ tự và giáo dục Nho học này nhanh chóng được mở rộng ra các địa phương, khiến nhiều tỉnh trong cả nước lần lượt dựng Văn Miếu riêng. Trong bối cảnh đó, đến năm 1835 dưới triều Minh Mạng, theo đề nghị của Bộ Lễ, nhà vua đã ban dụ khẳng định rõ quan điểm trị quốc toàn diện, nhấn mạnh sự cần thiết phải kết hợp cả văn trị lẫn võ công. Nội dung dụ nêu rõ điều cốt yếu trong việc trị nước phải gồm có cả văn lẫn võ, không thể thiên về một bên. Việc xây dựng Võ Miếu là việc nên làm, các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê đời nào cũng có người tài giỏi binh cơ mưu lược, huống chi triều đình ta từ lúc khai quốc cho đến giai đoạn Trung hưng, nhiều người ra mưu giúp nước, công lao rực rỡ không kém gì người xưa, biểu dương để khuyến khích nhân tài. Trên cơ sở đó, vua chuẩn y việc xây dựng Võ Miếu, nhằm đề cao vai trò của võ học, đồng thời khẳng định vị thế của giáo dục quân sự trong hệ thống tư tưởng và tổ chức nhà nước.

Theo ghi chép trong Đại Nam thực lục, nhà vua tiếp tục ban dụ quy định tiêu chuẩn lựa chọn các nhân vật được thờ tự tại Võ Miếu, nhấn mạnh tính chuẩn mực và ý nghĩa nêu gương lâu dài:

Những người được thờ ở Võ miếu tất phải là bậc có công liệt rõ ràng, giữ trọn trước sau, mới đủ để nêu rõ ý nghĩa thờ tự và làm gương lâu dài cho sau này… Nay chuẩn cho: trong danh tướng các triều đại thì lựa lấy Trần Quốc Tuấn và Lê Khôi; trong danh tướng tiên triều ta thì lấy Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trương tất cả sáu người, liệt vào thờ phụ ở giải vũ tả hữu nhà Võ miếu. Lại cho mộ lấy 20 người dân ngoại tịch ở gần miếu, sung làm thủ hộ; hằng năm cứ mùa xuân và mùa thu làm lễ tế sau một ngày hôm tế miếu Lịch đại đế vương.”1 (Lễ phẩm: dùng 1 trâu, 1 dê, 2 lợn và 5 mâm xôi)

Trong quá trình khảo cứu sử liệu như Sử ký các triều đại An Nam và Thực lục triều Nguyễn, các quan trong triều đã tiến hành đối chiếu, tuyển chọn và đề xuất danh sách những võ tướng tiêu biểu qua các thời kỳ. Danh sách này bao gồm nhiều nhân vật nổi bật như Trần Quốc Tuấn thời Trần, Lý Thường Kiệt thời Lý, Trần Nhật Duật, Đinh Liệt, Tôn Thất Thuần, Đào Duy Từ, Chu Văn Tiếp,…việc tuyển chọn cuối cùng được thực hiện hết sức chặt chẽ. Cụ thể, Minh Mạng cho rằng Lý Thường Kiệt tuy là bậc xuất chúng về võ lược nhưng do xuất thân hoạn quan nên không thích hợp để đưa vào thờ tự. Đối với Trần Nhật Duật, Đinh Liệt và Hoàng Đình Ái, dù có nhiều chiến công hiển hách trong việc công thành phá trận, nhưng xét toàn diện vẫn chưa được mười phần rực rỡ.

Ngược lại, vua Minh Mạng đánh giá rất cao Trần Quốc Tuấn, cho rằng Trần Quốc Tuấn là người tinh thông binh pháp, đã hai lần đánh bại quân Nguyên. Ngoài ra còn có Lê Khôi – vị tướng nhiều lần phá quân Minh, hai lần dẹp yên Chiêm Thành. Theo nhận định của nhà vua, uy danh và công trạng của hai vị này vang dội khắp nơi, mọi người đều nghe biết, quá xứng đáng để tôn thờ.

Đối với các tướng lĩnh phục vụ triều Nguyễn, nhà vua cũng có sự phân định rõ ràng. Đào Duy Từ được đánh giá cao về mưu lược chiến lược, Tôn Thất Thuần nổi bật trong điều hành quân cơ, nhưng xét về tiêu chí võ công thì vẫn “chưa đáng”. Trong khi đó, Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến nhiều lần lập chiến công hiển hách, xứng đáng là danh tướng một thời. Đến giai đoạn trung hưng, dù Nguyễn Hoàng Đức được xem là hổ tướng, nhưng khi so sánh toàn diện vẫn không bằng Tôn Thất Hội, người theo đòi bên ngựa, từng trải chiến trường, công trạng to tát. Đặc biệt, Nguyễn Văn Trương được đánh giá là người hành động theo chính đạo, chinh chiến đến đâu lập công đến đó, với sự nghiệp của họ rực rỡ hơn cả.

Trên cơ sở cân nhắc toàn diện, vua Minh Mạng đã quyết định lựa chọn sáu vị tướng tiêu biểu gồm Trần Quốc Tuấn, Lê Khôi, Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến, Tôn Thất Hội và Nguyễn Văn Trương đưa vào thờ tại giải vũ tả hữu của Võ Miếu, qua đó xác lập một hệ thống thờ tự chuẩn mực, tiêu biểu cho truyền thống võ công trong lịch sử dân tộc.

Kiến trúc cảnh quan

Hiện nay, Võ Miếu đã không còn diện mạo kiến trúc của thuở ban đầu khởi dựng. Theo những tư liệu lịch sử, Võ Miếu ngày xưa được quy hoạch trong một khuôn viên khép kín, có chu vi khoảng 400m, bao bọc bởi hệ thống tường gạch kiên cố. Phía trước mở một nghi môn lớn, hai bên có cửa tò vò, tạo thành trục tiếp cận chính, đồng thời nhấn mạnh tính trang nghiêm của không gian thờ tự.

Trung tâm khu di tích là miếu chính, gồm hai phần kiến trúc liên kết: chính doanh (nhà chính đường) và tiền doanh (nhà tiền tế), hợp thành một tổng thể theo kiểu “trùng thiềm điệp ốc”, dạng mái chồng lớp đặc trưng của kiến trúc cung đình Huế. Chính điện có quy mô 3 gian 2 chái, trong khi tiền điện rộng hơn với 5 gian, tạo thành không gian hành lễ phía trước.

Hai bên sân trước bố trí hai dãy nhà phụ là Tả Vu và Hữu Vu, mỗi dãy 5 gian, đối xứng qua trục trung tâm. Đây là nơi đặt các ban thờ phụ, đồng thời góp phần hoàn thiện bố cục “nội công ngoại quốc” đặc trưng của kiến trúc miếu thờ truyền thống.

Phía ngoài khu tường thành còn có công trình gọi là “Tể sinh sở”, nơi dùng để giết mổ súc vật phục vụ các nghi lễ tế tự, phản ánh tính chất nghi lễ quy mô và chặt chẽ của Võ Miếu.

Cảnh quan xung quanh được triều đình đặc biệt chú trọng. Năm 1838, vua Minh Mạng cho trồng hàng loạt cây tùng và cây phong dọc theo tường và trục đường phía trước, tạo nên một không gian vừa trang nghiêm, vừa mang tính biểu tượng (tùng – phong thường gắn với khí tiết và sự bền vững).

Phía trước miếu là khoảng sân rộng, nơi đặt các bia Võ công và bia Tiến sĩ võ. Không gian này đóng vai trò như một “quảng trường nghi lễ”, vừa để tổ chức tế tự, vừa là nơi phô bày các biểu tượng ghi công, tạo nên sự kết hợp giữa kiến trúc, cảnh quan và ý nghĩa lịch sử.

Kiến trúc hiện còn lưu giữ được tại khu vực Võ miếu Huế chỉ gồm: 

  • 1 ngôi miếu chính, là ngôi nhà rường (3 gian 2 trái) mục nát, có 5 án thờ bên trong.
  • 1 ngôi nhà khác (không rõ công năng) bỏ hoang nằm kề phía trước bên trái ngôi miếu chính này.
  • Cụm 5 bia, hiện nằm cách xa ngôi miếu chính kiểu nhà rường trên về phía đông, và nằm lộ thiên không còn nhà nhà bia che chắn.

Hiện vật

Hiện nay, Võ Miếu Huế còn bảo lưu được hệ thống 5 bia đá, các bia đều được dựng ngoài trời, không có nhà bia che phủ, gồm: 

  • Tiến sĩ đề danh bi niên đại Tự Đức (1858) ghi danh các tiến sĩ võ khoa Tự Đức. Bia có 12 dòng, 150 chữ.
  • Tiến sĩ đề danh bi niên đại Tự Đức (1865) ghi danh các tiến sĩ võ khoa Tự Đức. Bia có 38 dòng, 471 chữ. 
  • Võ công bi ký niên đại Minh Mạng thứ 2 (1820), ghi chép về những vị công thần phò tá Thế Tổ Cao Hoàng đế (tức Vua Gia Long) được triều đình đầu đời Minh Mệnh cho ghi chép biểu dương công lao hiển hách và đưa vào tòng tự ở miếu. Mấy năm qua, giặc giã nổi dậy ở 2 miền nam bắc, lại thêm giặc Xiêm xâm lấn biên giới, Vua đã sai các tướng đi đánh, trải ba bốn năm mới dẹp yên. Nay Vua xuống dụ cho Bộ Binh chọn ra 10 người xuất sắc nhất, gồm từ Trương Minh Giảng đến người thứ 10 (bị đục mờ tên họ), khắc bia ghi công lao của họ đặt ở hai bên Tả, Hữu của Võ miếu để nêu gương. Bia có 14 dòng 316 chữ. 
  • Võ Công tả bi niên đại Minh Mạng thứ 2 (1820), ghi tên họ và công trạng của 5 vị võ quan có công lao đặc biệt dưới triều Minh Mệnh, gồm: 1. Thái tử Thiếu bảo Đông các Đại học sĩ Trấn Tây tướng quân kiên An Hà Tổng đốc Bình Thành bá Trương Minh Giảng (người Bình Dương, Gia Định); 2. Thái tử Thiếu bảo, Tiền quân Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ, Hà Ninh Tổng đốc Tân Phúc hầu Phạm Hữu Tâm (người Hương Trà, Thừa Thiên); 3. Thái tử Thiếu bảo, Trung quân Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ, Vũ Lao hầu Tạ Quang Cự (người Phú Vang, Thừa Thiên); 4. Hậu quân Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ, tăng Thiếu bảo, Chương Nghĩa hầu Phan Văn Thúy (người Đăng Xương, Quảng Trị); 5. An Tính Tổng đốc Tân Lộc nam Mai Công Ngôn (người Hương Trà, Thừa Thiên). Bia có 20 dòng 600 chữ.
  • Võ Công hữu bi niên đại Minh Mạng thứ 2 (1820), ghi tên họ và công trạng của 5 vị võ quan có công lao đặc biệt dưới triều Minh Mệnh, gồm: 1. Thái tử Thiếu bảo, Tiền quân Đô thống chưởng phủ sự, Tâm Long hầu Nguyễn Xuân (người Tống Sơn, Thanh Hóa); 2. Thái tử Thiếu bảo, Tả quân Đô thống phủ Đô thống chưởng phủ sự, Tín Vũ hầu Phạm Văn Điển (người Phú Vang, Thừa Thiên); 3. Binh bộ Tả Thị lang, hiệp lí Kinh kì thủy sư Ân Quang tử Lê Văn Đức (người Bảo An, Vĩnh Long); 4. Tiền Phong doanh Thống chế Bình Khánh tử Trần Văn Trí (người Tân Long, Gia Định); 5. Tên và đoạn ghi công trạng của Tôn Thất Bật bị đục xóa chữ. Bia có 19 dòng 500 chữ. 

Xếp hạng

Võ Miếu nằm trong Quần thể di tích Cố đô Huế được công nhận là di sản văn hóa thế giới ngày 11/12/1993.

Chú thích

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục, 2007, tr. 775 – 776.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Phạm Đức Thành Dũng, Võ Thánh, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, https://hueworldheritage.org.vn/Di-san/Chi-tiet/pid/1334/cid/87?tid=Vo-Thanh.html
  3. Nguyễn Thời Kế, “Bia và văn bia cung đình thời Nguyễn tại Huế – Một di sản quý cần được chú ý bảo tồn”, Tạp chí Văn hóa, số 3 (2003).
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

Vo Thanh Mieu (commonly referred to as Vo Mieu or Vo Thanh) is a specialized temple dedicated to honoring figures with outstanding contributions in the military field. It worships the eminent general Tran Hung Dao of the Tran dynasty, while also enshrining meritorious officials of the Nguyen lords and the early Nguyen dynasty (before 1802), as well as recording the names of military commanders who achieved great victories during the independent Nguyen period (1802–1884).

In addition, Vo Mieu preserves the names of military doctoral laureates (vo tien si) from three major imperial military examinations, clearly reflecting the emphasis placed on martial learning and military merit within the political ideology of the time.

Today, the Vo Mieu site is located in Huong Ho ward, Hue city, within the protected area of the Complex of Hue Monuments.

History and Figures

After the construction of the Hue Van Mieu, this Confucian institutional model of worship and education quickly spread to localities, leading many provinces to establish their own Van Mieu.

In this context, in 1835 under the reign of Minh Mang, following a proposal by the Ministry of Rites, the emperor issued an edict affirming a comprehensive approach to governance, emphasizing the necessity of combining both civil administration and military strength. The edict stated:

“The essential principle of governing the state must include both civil and military elements; one cannot favor only one side. The construction of a Vo Mieu is therefore appropriate… From the Dinh, Le, Ly, Tran dynasties, each era produced talented military strategists. Especially in our dynasty, from its founding to the period of restoration, many have contributed plans and achieved brilliant merits equal to those of the past. They must be honored to encourage talent…”

Based on this, the emperor approved the construction of Vo Mieu to elevate the role of martial studies and affirm the position of military education within the ideological and administrative system.

According to Dai Nam Thuc Luc, the emperor further issued regulations on the criteria for selecting individuals to be worshipped:

“Those to be worshipped in the Vo Mieu must be individuals with clearly established merits, consistent integrity from beginning to end, worthy of setting a lasting example…
Now it is approved: among the famous generals of previous dynasties, select Tran Quoc Tuan and Le Khoi; among the distinguished generals of our earlier dynasty, select Nguyen Huu Dat, Nguyen Huu Tien, Ton That Hoi, and Nguyen Van Truong—six in total—to be enshrined in the left and right wings of the Vo Mieu.
Additionally, recruit 20 local residents near the temple as guardians; annually, in spring and autumn, conduct rituals one day after the ceremony at the Temple of Historical Emperors.”¹
(Offerings: 1 buffalo, 1 goat, 2 pigs, and 5 trays of sticky rice)

Through the study of historical sources such as Su Ky cac trieu dai An Nam and Nguyen dynasty records, court officials compiled and proposed a list of exemplary generals.

Notable figures included Tran Quoc Tuan (Tran dynasty), Ly Thuong Kiet (Ly dynasty), Tran Nhat Duat, Dinh Liet, Ton That Thuan, Dao Duy Tu, Chu Van Tiep, among others. The final selection process was conducted with great rigor.

Specifically, Minh Mang considered Ly Thuong Kiet highly talented but excluded him due to his eunuch origin. Figures such as Tran Nhat Duat, Dinh Liet, and Hoang Dinh Ai, though victorious in many battles, were judged not entirely outstanding.

Conversely, Tran Quoc Tuan was highly praised for his mastery of military strategy and his two victories over the Yuan army. Le Khoi was also esteemed for defeating Ming forces and twice subduing Champa. Their reputations and achievements were deemed fully worthy of veneration.

For Nguyen dynasty generals, distinctions were also made: Dao Duy Tu excelled in strategy, Ton That Thuan in command, but their martial achievements were considered insufficient. Meanwhile, Nguyen Huu Dat and Nguyen Huu Tien achieved remarkable victories, and Ton That Hoi was recognized for his extensive battlefield experience. Nguyen Van Truong, in particular, was praised for consistently achieving success in campaigns and was regarded as especially outstanding.

Ultimately, Minh Mang selected six exemplary generals—Tran Quoc Tuan, Le Khoi, Nguyen Huu Dat, Nguyen Huu Tien, Ton That Hoi, and Nguyen Van Truong—for enshrinement, thereby establishing a standard system of martial veneration.

Architectural Landscape

Today, Vo Mieu no longer retains its original architectural form. Historical records indicate that it was once enclosed within a rectangular compound of approximately 400 meters in perimeter, surrounded by solid brick walls.

At the front stood a large ceremonial gate, flanked by smaller side entrances, forming the main axis and emphasizing the solemnity of the sacred space.

The central structure consisted of the main sanctuary, combining two architectural sections: the main hall and the front hall, arranged in the “double-roof layered” style typical of Hue royal architecture. The main hall had three compartments with two side wings, while the front hall had five compartments, serving as the ceremonial space.

On both sides of the courtyard were auxiliary buildings (Ta Vu and Huu Vu), each with five compartments, symmetrically arranged along the central axis. These housed subsidiary altars and contributed to the traditional “inner court–outer enclosure” layout.

Outside the walls stood the “Te sinh so,” a facility for slaughtering animals used in rituals, reflecting the scale and strict ceremonial nature of the temple.

The surrounding landscape was carefully designed. In 1838, Minh Mang ordered the planting of pine and maple trees along the walls and main axis, creating a solemn and symbolic environment (pine and maple representing integrity and endurance).

In front of the temple was a large courtyard displaying steles of military merit and doctoral inscriptions, functioning as both a ritual space and a commemorative plaza.

Currently, the remaining structures include:

One main shrine (wooden structure, deteriorated) with five altars
One abandoned building of unknown function
A group of five steles located to the east, now exposed without protective shelters

Artifacts

The doctoral stele titled under the reign of Tu Duc (1858) records the names of those who attained the military doctorate degree during the Tu Duc era. The stele consists of 12 lines with a total of 150 characters.

Another doctoral stele from the Tu Duc period (1865) also inscribes the names of military doctorate laureates of the same reign. This stele contains 38 lines with 471 characters.

The stele titled Vo cong bi ky, dated to the 2nd year of Minh Mang (1820), documents meritorious officials who assisted The To Cao Hoang De (i.e., Emperor Gia Long). In the early years of the Minh Mang reign, the court ordered the recording and commemoration of their outstanding contributions, and they were enshrined in the temple. In the preceding years, rebellions had broken out in both the northern and southern regions, and Siamese forces had invaded the borders. The Emperor dispatched generals to suppress these threats, which took three to four years to quell. Subsequently, the Emperor issued an edict to the Ministry of War to select the ten most outstanding individuals, from Truong Minh Giang to the tenth person (whose name has been partially erased), and to engrave a stele commemorating their achievements. These steles were placed on the left and right sides of the Vo Mieu (Temple of Martial Arts) as exemplary models. The stele consists of 14 lines with 316 characters.

The stele titled Vo Cong Ta Bi, also dated to the 2nd year of Minh Mang (1820), records the names and merits of five military officials with exceptional contributions under the Minh Mang reign, including:

Thai tu Thieu bao, Dong cac Dai hoc si, Tran Tay General, concurrently Governor-General of An Ha, Binh Thanh Ba Truong Minh Giang (from Binh Duong, Gia Dinh);
Thai tu Thieu bao, Commander-in-chief of the Tien Quan Do Thong Phu, Governor-General of Ha Ninh, Tan Phuc Hau Pham Huu Tam (from Huong Tra, Thua Thien);
Thai tu Thieu bao, Commander-in-chief of the Trung Quan Do Thong Phu, Vu Lao Hau Ta Quang Cu (from Phu Vang, Thua Thien);
Commander-in-chief of the Hau Quan Do Thong Phu, additionally granted the title Thieu bao, Chuong Nghia Hau Phan Van Thuy (from Dang Xuong, Quang Tri);
Governor-General of An Tinh, Tan Loc Nam Mai Cong Ngon (from Huong Tra, Thua Thien).
The stele consists of 20 lines with 600 characters.

The stele titled Vo Cong Huu Bi, likewise dated to the 2nd year of Minh Mang (1820), records the names and merits of five distinguished military officials under the Minh Mang reign, including:

Thai tu Thieu bao, Commander of the Tien Quan, Tam Long Hau Nguyen Xuan (from Tong Son, Thanh Hoa);
Thai tu Thieu bao, Commander-in-chief of the Ta Quan Do Thong Phu, Tin Vu Hau Pham Van Dien (from Phu Vang, Thua Thien);
Left Vice Minister of the Ministry of War, co-administrator of the imperial naval forces, An Quang Tu Le Van Duc (from Bao An, Vinh Long);
Commander of the Tien Phong camp, Binh Khanh Tu Tran Van Tri (from Tan Long, Gia Dinh);
The name and recorded merits of Ton That Bat have been erased.
The stele consists of 19 lines with 500 characters.

Recognition

Vo Mieu is part of the Complex of Hue Monuments, which was recognized as a UNESCO World Cultural Heritage Site on December 11, 1993.

Notes
Quoc su quan trieu Nguyen, Dai Nam Thuc Luc, Vol. 4, Education Publishing House, 2007, pp. 775–776.

References

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Phạm Đức Thành Dũng, Võ Thánh, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, https://hueworldheritage.org.vn/Di-san/Chi-tiet/pid/1334/cid/87?tid=Vo-Thanh.html
  3. Nguyễn Thời Kế, “Bia và văn bia cung đình thời Nguyễn tại Huế – Một di sản quý cần được chú ý bảo tồn”, Tạp chí Văn hóa, số 3 (2003).
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục.

Tiếng Pháp (Français)

Dénomination et localisation géographique

Vo Thanh Mieu (souvent abrégé en Vo Mieu ou Vo Thanh) est un lieu de culte spécialisé destiné à honorer les personnages ayant accompli des mérites dans le domaine militaire. Ce sanctuaire est dédié au grand général Tran Hung Dao de la dynastie Tran, tout en associant également le culte des méritants fondateurs sous les seigneurs Nguyen et au début de la dynastie Nguyen (avant 1802), ainsi qu’en inscrivant les noms des généraux ayant remporté de nombreuses victoires sous la dynastie Nguyen indépendante (1802–1884).

Par ailleurs, Vo Mieu est aussi le lieu où sont gravés les noms des docteurs militaires lauréats des trois concours militaires emblématiques de la dynastie, reflétant clairement l’importance accordée aux études militaires et aux exploits guerriers dans l’idéologie politique de l’époque.

Actuellement, le site de Vo Mieu est situé dans le quartier Huong Ho, ville de Hue, au sein de la zone protégée de l’ensemble monumental de l’ancienne capitale de Hue .

Histoire et personnages

Après la construction du Van Mieu de Hue, ce modèle institutionnel combinant culte et éducation confucéenne se diffusa rapidement dans les provinces, où de nombreux temples similaires furent édifiés. Dans ce contexte, en 1835 sous le règne de Minh Mang, sur proposition du ministère des Rites, l’empereur promulgua un édit affirmant une conception globale du gouvernement, soulignant la nécessité de combiner gouvernance civile et puissance militaire.

L’édit précise :
« Le principe essentiel du gouvernement doit inclure à la fois le civil et le militaire, sans privilégier l’un au détriment de l’autre. La construction du Vo Mieu est une entreprise nécessaire… Depuis les dynasties Dinh, Le, Ly, Tran, chaque époque a produit des talents militaires exceptionnels… Il convient de les honorer afin d’encourager les talents. »

Sur cette base, l’empereur approuva la construction du Vo Mieu, afin de valoriser les études militaires et d’affirmer la place de l’éducation militaire dans le système étatique.

Selon Dai Nam thuc luc, l’empereur fixa également les critères de sélection des personnages à honorer, en insistant sur leur exemplarité durable :

« Ceux qui sont honorés doivent posséder des mérites éclatants et une conduite irréprochable du début à la fin… »

Après un processus rigoureux de sélection basé sur des sources historiques, plusieurs figures furent proposées. Cependant, Minh Mang appliqua une évaluation stricte :

Ly Thuong Kiet, bien que brillant stratège, fut écarté en raison de son origine eunuque.
Tran Nhat Duat, Dinh Liet et Hoang Dinh Ai, malgré leurs exploits, furent jugés insuffisamment remarquables dans l’ensemble.

À l’inverse :

Tran Quoc Tuan fut hautement estimé pour sa maîtrise militaire et ses victoires contre les Mongols.
Le Khoi fut reconnu pour ses campagnes victorieuses contre les Ming et le Champa.

Concernant les généraux liés à la dynastie Nguyen :

Dao Duy Tu et Ton That Thuan furent reconnus pour leurs capacités stratégiques, mais jugés insuffisants en termes d’exploits militaires.
Nguyen Huu Dat et Nguyen Huu Tien furent considérés comme de grands généraux.
Ton That Hoi fut particulièrement valorisé pour son expérience et ses mérites.
Nguyen Van Truong fut considéré comme exemplaire, avec une carrière militaire brillante.

Finalement, six figures furent sélectionnées : Tran Quoc Tuan, Le Khoi, Nguyen Huu Dat, Nguyen Huu Tien, Ton That Hoi et Nguyen Van Truong, établissant ainsi un système cultuel normatif représentatif de la tradition militaire nationale.

Architecture et paysage

Aujourd’hui, Vo Mieu ne conserve plus son apparence architecturale d’origine. Selon les sources historiques, il était autrefois aménagé dans un espace clos d’environ 400 mètres de périmètre, entouré de murs en briques solides.

L’entrée principale comportait une grande porte monumentale, flanquée de deux ouvertures latérales, formant un axe cérémoniel soulignant la solennité du lieu.

Le centre comprenait le sanctuaire principal composé de deux parties :

le batiment principal (chinh doanh)
le batiment antérieur (tien doanh)

formant un ensemble de type « trung thiem diep oc », caractéristique de l’architecture impériale de Hue.

Le sanctuaire principal comportait 3 travées et 2 annexes
Le bâtiment antérieur en comptait 5

De part et d’autre de la cour se trouvaient les bâtiments Ta Vu et Huu Vu (5 travées chacun), disposés symétriquement, contribuant à la composition architecturale traditionnelle.

À l’extérieur se trouvait également le « Te sinh so », lieu destiné à la préparation des sacrifices animaux.

Le paysage fut soigneusement aménagé : en 1838, Minh Mang fit planter des pins et des érables, symboles de droiture et de pérennité.

Devant le temple s’étendait une vaste cour accueillant les stèles du mérite militaire et les stèles des docteurs militaires, servant à la fois d’espace cérémoniel et de lieu de mémoire.

Vestiges actuels

Aujourd’hui, il subsiste :

Un sanctuaire principal en bois (3 travées, 2 annexes), en mauvais état
Un bâtiment abandonné situé à gauche
Un ensemble de 5 stèles, exposées à ciel ouvert à l’est

Objets conservés

La stèle d’inscription des docteurs, datée de l’ère Tu Duc (1858), enregistre les docteurs des concours militaires sous le règne de Tu Duc. La stèle comprend 12 lignes et 150 caractères.

La stèle d’inscription des docteurs, datée de l’ère Tu Duc (1865), enregistre les docteurs des concours militaires sous le règne de Tu Duc. La stèle comprend 38 lignes et 471 caractères.

La stèle intitulee « Vo cong bi ky », datee de la 2e annee de Minh Mang (1820), consigne les hauts meritants ayant assiste The To Cao Hoang De (c’est-a-dire le roi Gia Long). Au debut du regne de Minh Menh, la cour ordonna de consigner et d’honorer leurs exploits eminents, puis de les integrer au culte dans le temple. Durant plusieurs annees, des troubles eclaterent dans le nord et le sud, auxquels s’ajouterent les invasions siamoises aux frontieres. Le roi ordonna alors aux generaux de les reprimer, et il fallut trois a quatre ans pour retablir la paix. Par la suite, un edit royal chargea le Ministere de la Guerre de selectionner les dix plus eminents, de Truong Minh Giang jusqu’au dixieme (dont le nom a ete efface), afin de graver leurs merites sur une stele placee a gauche et a droite du Vo mieu pour servir d’exemple. La stele comprend 14 lignes et 316 caracteres.

La stele « Vo Cong ta bi », datee de la 2e annee de Minh Mang (1820), enregistre les noms et merites de cinq officiers militaires ayant rendu des services exceptionnels sous le regne de Minh Menh, comprenant :

Thai tu Thieu bao, Dong cac Dai hoc si, Tran Tay tuong quan, Kien An Ha Tong doc, Binh Thanh ba Truong Minh Giang (originaire de Binh Duong, Gia Dinh) ;
Thai tu Thieu bao, Tien quan Do thong phu Do thong chuong phu, Ha Ninh Tong doc, Tan Phuc hau Pham Huu Tam (originaire de Huong Tra, Thua Thien) ;
Thai tu Thieu bao, Trung quan Do thong phu Do thong chuong phu, Vu Lao hau Ta Quang Cu (originaire de Phu Vang, Thua Thien) ;
Hau quan Do thong phu Do thong chuong phu, promu Thieu bao, Chuong Nghia hau Phan Van Thuy (originaire de Dang Xuong, Quang Tri) ;
An Tinh Tong doc, Tan Loc nam Mai Cong Ngon (originaire de Huong Tra, Thua Thien).
La stele comprend 20 lignes et 600 caracteres.

La stele « Vo Cong huu bi », datee de la 2e annee de Minh Mang (1820), enregistre les noms et merites de cinq officiers militaires ayant rendu des services exceptionnels sous le regne de Minh Menh, comprenant :

Thai tu Thieu bao, Tien quan Do thong chuong phu su, Tam Long hau Nguyen Xuan (originaire de Tong Son, Thanh Hoa) ;
Thai tu Thieu bao, Ta quan Do thong phu Do thong chuong phu su, Tin Vu hau Pham Van Dien (originaire de Phu Vang, Thua Thien) ;
Binh bo Ta Thi lang, hiep li Kinh ki thuy su, An Quang tu Le Van Duc (originaire de Bao An, Vinh Long) ;
Tien Phong doanh Thong che, Binh Khanh tu Tran Van Tri (originaire de Tan Long, Gia Dinh) ;
Le nom et le passage relatant les merites de Ton That Bat ont ete effaces.
La stele comprend 19 lignes et 500 caracteres.

Classement

Vo Mieu fait partie de l’ensemble monumental de Hue, classé patrimoine culturel mondial le 11 décembre 1993.

Notes

Quoc su quan trieu Nguyen, Dai Nam thuc luc, tome 4, Nxb Giao duc, 2007, p. 775–776.

Bibliographie

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Phạm Đức Thành Dũng, Võ Thánh, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, https://hueworldheritage.org.vn/Di-san/Chi-tiet/pid/1334/cid/87?tid=Vo-Thanh.html
  3. Nguyễn Thời Kế, “Bia và văn bia cung đình thời Nguyễn tại Huế – Một di sản quý cần được chú ý bảo tồn”, Tạp chí Văn hóa, số 3 (2003).
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục.

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

武圣庙(常简称为武庙或武圣)是专门用于祭祀与表彰军事功臣的祭祀场所。这里供奉陈朝名将陈兴道,同时配祀阮主时期及阮朝初期(1802年之前)的开国功臣,以及记录阮朝独立时期(1802—1884)战功卓著的武将。此外,武庙还刻录历次武科进士的姓名,体现出当时政治思想中对武学与军功的高度重视。

现今,武庙遗址位于顺化市香湖坊,属于顺化古都遗迹群的保护范围之内。

历史与人物

在顺化文庙建成之后,这一以儒学祭祀与教育为核心的制度迅速推广至各地,许多省份相继建立文庙。在此背景下,1835年明命年间,根据礼部建议,皇帝下诏明确提出全面治国的理念,强调文治与武功必须并重。诏书指出:

“治国之要,在于文武兼备,不可偏废其一。修建武庙,实为应行之举……自丁、黎、李、陈、后黎以来,各朝皆有人才精通兵法谋略,更何况我朝自开国至中兴,良将辈出,功绩卓著,不逊古人,应予表彰以励后进。”

基于此,明命帝批准修建武庙,以彰显武学的重要地位,同时确立军事教育在国家思想与体制中的位置。

据《大南实录》记载,皇帝进一步规定了入祀武庙人物的标准,强调其典范意义:

“入祀武庙者,必须功绩昭著,始终如一,方足以彰显祭祀之义,并为后世楷模……今准:历代名将中选陈国俊与黎恢;本朝先朝名将则选阮有逸、阮有进、尊室会、阮文张,共六人,列祀于武庙左右廊庑。另募附近民户二十人守护;每年春秋二祭,于历代帝王庙祭后一日举行。”¹
(祭品:一牛、一羊、两猪及五盘糯米)

在考证《安南历代史记》与阮朝《实录》等史料过程中,朝廷官员对历代武将进行筛选与对比,提出候选名单,包括陈国俊、李常杰、陈日燏、丁列、尊室纯、陶维慈、朱文接等人物,最终筛选极为严格。

明命帝认为,李常杰虽军事才能卓越,但因出身宦官,不宜入祀;陈日燏、丁列与黄廷爱虽战功显赫,但整体评价尚未达到最高标准。

相反,皇帝高度评价陈国俊,认为其精通兵法,曾两次击败元军;黎恢亦多次击败明军,并两度平定占城,声名远播,功绩卓著,完全符合入祀标准。

对于阮朝将领,皇帝也有明确区分:陶维慈长于谋略,尊室纯善于军务,但武功尚不足;而阮有逸、阮有进屡建奇功,堪称一代名将。至中兴时期,虽阮黄德勇猛,但综合而言不及尊室会;尤其是阮文张,行事正直,战功显著,成就尤为突出。

综合考量后,明命帝最终选定六位代表性将领:陈国俊、黎恢、阮有逸、阮有进、尊室会、阮文张,配祀于武庙左右廊庑,确立了具有典范意义的武功祭祀体系。

建筑与景观

现今武庙已不复初建时的完整建筑形态。据史料记载,昔日武庙规划于封闭院落中,周长约400米,四周以坚固砖墙围护。

正面设有大型仪门,两侧为券门,形成主要轴线入口,突出祭祀空间的庄严性。

核心建筑为主庙,由正殿(正营)与前殿(前营)组成,整体为“重檐叠屋”结构,是顺化宫廷建筑的典型形式。正殿为三间两厢,前殿五间,作为主要祭祀空间。

庭院两侧设有左庑与右庑,各五间,对称分布,用于安置配祀神位,同时形成“内工外国”的传统布局。

围墙外设有“宰牲所”,用于宰杀祭祀牲畜,体现祭礼制度的严谨与规模。

景观方面,1838年明命帝命人在围墙及主轴道路两侧种植松树与枫树,营造庄重肃穆的环境(松与枫象征气节与恒久)。

庙前为宽阔庭院,设有武功碑与武进士碑,既为祭祀空间,也作为功绩展示区域,体现建筑、景观与历史意义的统一。

目前遗存包括:

一座主庙(木构三间两厢),已破败,内设五座祭坛
一座用途不明的废弃建筑,位于主庙前左侧
五通石碑,位于主庙以东露天处,无碑亭保护

文物

嗣德年间(1858年)武科进士题名碑,记载嗣德朝武科进士姓名。碑文共12行,150字。

嗣德年间(1865年)武科进士题名碑,记载嗣德朝武科进士姓名。碑文共38行,471字。

《武功碑记》立于明命二年(1820年),记述辅佐世祖高皇帝(即嘉隆皇帝)的功臣事迹。明命初年,朝廷下令记载并表彰其卓著功劳,并列入庙祀。此前数年,南北两地叛乱四起,又有暹罗入侵边境,皇帝命诸将征讨,历经三四年方才平定。今皇帝下诏命兵部遴选最杰出之十人,自张明讲起至第十人(姓名已被磨损不清),刻碑记其功绩,置于武庙左右两侧,以示垂范。碑文共14行,316字。

《武功左碑》立于明命二年(1820年),记载明命朝五位功勋卓著的武官姓名及事迹,包括:
一、太子少保、东阁大学士、镇西将军、兼安河总督、平城伯张明讲(嘉定平阳人);
二、太子少保、前军都统府都统掌府、河宁总督、新福侯范友心(承天香茶人);
三、太子少保、中军都统府都统掌府、武劳侯谢光巨(承天富旺人);
四、后军都统府都统掌府、加少保、彰义侯潘文瑞(广治登昌人);
五、安定总督、新禄男梅公言(承天香茶人)。
碑文共20行,600字。

《武功右碑》立于明命二年(1820年),记载明命朝五位功勋卓著的武官姓名及事迹,包括:
一、太子少保、前军都统掌府事、心龙侯阮春(清化宋山人);
二、太子少保、左军都统府都统掌府事、信武侯范文典(承天富旺人);
三、兵部左侍郎、协理京畿水师、恩光子黎文德(永隆保安人);
四、前锋营统制、平庆子陈文智(嘉定新隆人);
五、尊室弼之姓名及其功绩记载已被凿除。
碑文共19行,500字。

等级认定

武庙属于顺化古都遗迹群,该遗迹群已于1993年12月11日被列为世界文化遗产。

注释

阮朝国史馆,《大南实录》第四册,教育出版社,2007年,第775—776页。

参考资料

  1. Phan Thuận An (2005), Quần thể di tích Huế, Nxb Trẻ.
  2. Phạm Đức Thành Dũng, Võ Thánh, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, https://hueworldheritage.org.vn/Di-san/Chi-tiet/pid/1334/cid/87?tid=Vo-Thanh.html
  3. Nguyễn Thời Kế, “Bia và văn bia cung đình thời Nguyễn tại Huế – Một di sản quý cần được chú ý bảo tồn”, Tạp chí Văn hóa, số 3 (2003).
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, Nxb. Giáo dục.
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Thông tin quan trọng khác

Điểm đánh giá
0 /100

Là di tích đặc sắc

Còn lưu trữ hiện vật cổCòn lưu trữ kiến trúc cổTừng là địa điểm gắn với danh nhânCho phép tham quan thường xuyênLà di tích được công nhận/ xếp hạng

Được kiểm kê hiện vật và tư liệu Hán Nôm

Xuất bản sách về lịch sử di tích

Có hoạt động truyền thông thường xuyên

Được vẽ 3D mặt bằng, kiến trúc

Được số hóa bằng hình ảnh

Di văn Hán Nôm được dịch sang tiếng Việt

Làm video giới thiệu di tích

Được vẽ 2D mặt bằng, kiến trúc

Được gắn QRcode giới thiệu hiện vật và địa điểm

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)