Niên đại: Giữa thế kỷ XVIII – XIX – đầu thế kỷ XX; bản có niên đại sớm nhất hiện xác định từ năm 1744
Số lượng: 1.935 mộc bản, thuộc 18 bộ kinh, sách chính
Chất liệu: Gỗ thị
Văn tự chủ yếu: Chữ Hán và chữ Nôm
Loại hình: Ván khắc in kinh sách Phật giáo
Tông phái: Gắn với Thiền phái Lâm Tế
Nơi lưu giữ: Chùa Bổ Đà, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh
Địa chỉ theo hồ sơ năm 2017: Chùa Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia, Quyết định số 2089/QĐ-TTg ngày 25/12/2017.
Giới thiệu bảo vật
Mộc bản chùa Bổ Đà là một kho tư liệu Phật giáo đặc biệt được lưu giữ ngay tại chùa Bổ Đà – một trung tâm Phật giáo lớn của vùng Kinh Bắc. Bộ bảo vật hiện gồm 1.935 ván khắc của 18 bộ kinh, sách chính, được san khắc qua nhiều giai đoạn, từ giữa thế kỷ XVIII cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX. Niên đại sớm nhất được Cục Di sản văn hóa xác định là năm 1744, dưới thời Lê Trung Hưng.
Các mộc bản phần lớn được làm từ gỗ thị, loại gỗ có thớ tương đối mịn, dẻo, ít cong vênh và phù hợp với kỹ thuật khắc chữ nhỏ. Người thợ phải xử lý mặt ván thật phẳng rồi khắc toàn bộ văn tự theo chiều ngược, để khi quét mực và ép lên giấy sẽ cho bản in đọc đúng chiều. Những đường chữ nhỏ, đều và sắc cho thấy sự kết hợp giữa kỹ thuật khắc gỗ, thư pháp và nghề in truyền thống. Nguồn nghiên cứu của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết những bộ mộc bản Bổ Đà thuộc hệ thống sản phẩm của các phường thợ khắc ván in nổi tiếng ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nội dung của kho mộc bản rất phong phú. Các bộ kinh tiêu biểu gồm A Di Đà kinh, Kim Cương kinh, Lăng Nghiêm kinh, bên cạnh những bộ như Lăng Nghiêm Chính Mạch, Yết Ma Hội Bản, Nam Hải Ký Quy và nhiều sách chú giải, giới luật, nghi thức cũng như tài liệu truyền bá Phật giáo bằng chữ Nôm. Nhờ đó, bộ mộc bản không chỉ phục vụ việc in kinh mà còn phản ánh hoạt động tu học, giảng pháp, hành trì và đào tạo tăng đồ tại chùa Bổ Đà qua nhiều thế hệ.
Không phải tất cả mộc bản chỉ có văn tự. Một số ván còn khắc hình Phật, Bồ tát và các nhân vật Phật giáo, như Đức Phật, Quan Thế Âm Bồ Tát và các vị La Hán. Những hình ảnh này được tạo ngay trên mặt gỗ để có thể in cùng kinh sách, vì vậy mộc bản đồng thời mang giá trị của một loại hình đồ họa – điêu khắc gỗ phục vụ kỹ thuật in.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử Phật giáo: Hệ thống kinh sách phản ánh hoạt động tu học và truyền thừa của chùa Bổ Đà, đặc biệt là Thiền phái Lâm Tế, trong một khoảng thời gian kéo dài từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.
Giá trị tư liệu: Với 1.935 mộc bản thuộc 18 bộ kinh, sách, bảo vật lưu giữ một khối lượng lớn văn bản Phật giáo, giới luật, chú giải và tài liệu nghi lễ, có ý nghĩa đối với nghiên cứu lịch sử tôn giáo, văn bản học và đời sống văn hóa truyền thống.
Giá trị ngôn ngữ: Hệ thống chữ Hán và chữ Nôm trên mộc bản cung cấp tư liệu cho việc nghiên cứu ngôn ngữ, thư pháp và hoạt động dịch thuật – truyền bá Phật giáo trong xã hội Việt Nam thời Lê Trung Hưng và Nguyễn.
Giá trị kỹ thuật: Chữ và hình được khắc ngược trên gỗ thị để tạo bản in thuận chiều, đòi hỏi người thợ có khả năng xử lý gỗ, thư pháp và điêu khắc chính xác. Bộ mộc bản vì vậy là bằng chứng vật chất quan trọng về nghề khắc – in ván gỗ truyền thống.
Giá trị mỹ thuật: Bên cạnh văn tự, một số ván còn bảo lưu hình khắc các nhân vật Phật giáo với đường nét tinh tế, giúp nghiên cứu nghệ thuật đồ họa Phật giáo và kỹ thuật tạo hình phục vụ in ấn trong những thế kỷ trước.
Giá trị quý hiếm: Bộ mộc bản được bảo tồn với quy mô lớn ngay trong không gian tôn giáo nơi chúng từng được sử dụng. Mối quan hệ giữa mộc bản – kinh sách – tăng đoàn – ngôi chùa khiến đây không chỉ là một bộ sưu tập hiện vật mà là phần còn lại của cả một truyền thống in ấn và tu học Phật giáo. Năm 2017, toàn bộ hệ thống được công nhận là Bảo vật quốc gia.
Với 1.935 tấm ván khắc và 18 bộ kinh, sách, Mộc bản chùa Bổ Đà lưu giữ không chỉ nội dung của những trang kinh cổ mà còn cả quá trình tạo ra và lưu truyền chúng. Từng nét chữ được khắc ngược trên gỗ thị, từng hình Phật được tạo tác để in lên giấy là dấu vết của một nền văn hóa Phật giáo trong đó tu học, thư tịch và nghề thủ công truyền thống gắn bó chặt chẽ với nhau. Đây chính là giá trị đặc biệt giúp bộ mộc bản trở thành nguồn tư liệu quan trọng về Thiền phái Lâm Tế và đời sống Phật giáo vùng Kinh Bắc từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.