Niên đại: Thế kỷ XVI – XVII; tháp đất nung hiện nay được trùng tu năm Cảnh Trị thứ 5 (1667), thời Lê Trung hưng
Chất liệu: Đất nung, gạch và đá
Kích thước: Cao khoảng 450 cm; cạnh đáy khoảng 150 cm; bệ gạch cao khoảng 60 cm
Số tầng: 12 tầng, không kể phần đỉnh
Loại hình: Tháp Đạo giáo
Nơi lưu giữ: Đền An Xá, xã An Viên, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên
Đặc điểm nổi bật: Một trong số ít tháp đất nung cổ còn gần nguyên vẹn ở miền Bắc và là tháp đất nung Đạo giáo đặc biệt hiếm còn tồn tại
Xếp hạng: Bảo vật quốc gia
Giới thiệu bảo vật
Tháp đất nung đền An Xá là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc, có niên đại từ thế kỷ XVI – XVII. Tháp cao khoảng 4,5 m, mặt bằng hình vuông, nhỏ dần từ dưới lên và gồm 12 tầng, không kể phần đỉnh. Kết quả khảo cổ cho thấy tại vị trí này ban đầu từng có một tháp đá thời Mạc. Đến năm 1667, thời Lê Trung hưng, công trình được trùng tu và thay thế bằng tháp đất nung hiện nay; một số cấu kiện đá cũ có khả năng tiếp tục được sử dụng trong phần bệ.
Tháp gồm bốn phần chính: bệ tháp, đế tháp, thân tháp và đỉnh tháp. Phần móng được gia cố bằng phương pháp thủ công truyền thống. Một hố sâu khoảng 45 cm được đào trước, sau đó các lớp ngói vụn và đất sét được đầm xen kẽ để tạo độ cứng và ổn định. Phía trên là bệ xây bằng gạch và các khối đá vôi xám xanh. Phần đế tháp tạo kiểu chân quỳ dạ cá, phía trên trang trí lớp cánh sen úp. Bốn góc có hình bốn lực sĩ thân hình khỏe, mắt lồi, bụng lớn, ngực ưỡn, hai tay nâng đỡ phần tháp phía trên. Phía sau các lực sĩ có cánh dang rộng, hình thức gần với mô típ Garuda trong nghệ thuật tôn giáo. Phần thân tháp gồm 12 tầng. Mỗi tầng đều mở cửa theo bốn hướng bằng dạng cửa cuốn tò vò. Các tầng càng lên cao càng thu nhỏ dần. Trên một số viên gạch còn có chữ Hán dùng để đánh dấu thứ tự tầng trong quá trình lắp dựng. Phần đỉnh tháp đặt một khối hình hồ lô, thân tròn, cổ và miệng vươn cao, chân gắn liền với mái tầng thứ 12.
Tháp có mật độ hoa văn đặc biệt dày. Trên bệ và thân xuất hiện nhiều mô típ như rồng, phượng, sư tử, nai, cá, tiên nữ, lực sĩ, ngựa có cánh, mây, đao mác, hoa sen, hoa cúc, hoa chanh và chữ Vạn. Bên cạnh các đề tài tôn giáo còn có những hình ảnh mang đậm tính dân gian như đấu vật, bắt rắn, chim, hươu, hổ. Sự kết hợp này tạo cho công trình một hệ thống trang trí phong phú, vừa mang tính biểu tượng vừa phản ánh sinh hoạt đời sống. Trên tầng thứ hai của tháp có dòng chữ: “Hoàng triều Cảnh Trị ngũ niên trùng tu tháp Đậu An”. Dòng chữ xác định việc trùng tu tháp vào năm Cảnh Trị thứ 5, tức năm 1667.
Tháp An Xá có hình thức gần với tháp Phật giáo nhưng lại thuộc một quán Đạo giáo, tạo nên một trường hợp đặc biệt trong lịch sử kiến trúc tôn giáo Việt Nam. Việc tháp có 12 tầng – một số chẵn, cùng hệ thống biểu tượng Đạo giáo, cho thấy tính chất khác biệt so với nhiều tháp chùa truyền thống thường sử dụng số tầng lẻ. Đồng thời, việc sử dụng các mô típ sen, rồng, lực sĩ và hình thức tháp nhiều tầng cho thấy sự giao thoa mạnh giữa Đạo giáo và Phật giáo trong đời sống tín ngưỡng thời Lê Trung hưng.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Công trình phản ánh quá trình tồn tại từ tháp đá thời Mạc đến tháp đất nung thời Lê Trung hưng, với mốc trùng tu rõ ràng năm 1667.
Giá trị kiến trúc: Kết cấu móng, bệ đá – gạch và thân tháp 12 tầng cho thấy phương pháp xây dựng thủ công chặt chẽ, phù hợp với một công trình đất nung có chiều cao lớn.
Giá trị nghệ thuật: Hệ thống hoa văn đặc biệt phong phú, từ linh vật, hoa lá đến cảnh sinh hoạt dân gian, tạo nên một trong những công trình đất nung có mật độ trang trí cao.
Giá trị tôn giáo: Tháp là trường hợp tiêu biểu cho sự giao thoa giữa Đạo giáo và Phật giáo trong kiến trúc và biểu tượng tín ngưỡng.
Giá trị độc đáo: Đây là một tháp đất nung Đạo giáo đặc biệt hiếm còn tồn tại, đồng thời bảo lưu khá đầy đủ cấu trúc nhiều tầng và hệ thống trang trí thế kỷ XVII.
Tháp đất nung đền An Xá là một công trình đặc sắc của kiến trúc tôn giáo Việt Nam thời Mạc – Lê Trung hưng, nổi bật ở kết cấu 12 tầng, hệ thống hoa văn dày đặc và sự kết hợp giữa yếu tố Đạo giáo, Phật giáo và dân gian.
Nguồn ảnh: Sưu tầm