Thời gian
- Lễ tế xuân: mồng 10 tháng Hai (Chính)
- Lễ kỵ: 30 tháng Một
Địa điểm
- Làng Yên Thái, phường Bưởi, quận Tây Hồ
Đình An Thái, tọa lạc tại số 650 Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội, là nơi thờ ông bà Dầu – Vũ Phục, nhân vật huyền thoại gắn với truyền thuyết trấn yểm dòng nước xoáy bảo vệ thành Thăng Long dưới thời Lý Nhân Tông. Theo thần phả, đình được xây dựng từ thế kỷ XI, được trùng tu nhiều lần, đáng chú ý vào các niên hiệu Chính Hòa, Thành Thái, Duy Tân. Trước đây, đình còn là trường học nổi tiếng trong vùng. Kiến trúc hiện nay gồm Tam quan, sân gạch, Tả Hữu vu, Đại Bái kết nối Trung Cung, Hậu Cung theo hình “chữ Đinh”. Trong đình lưu giữ 18 đạo sắc phong từ thời Lê – Nguyễn, cùng nhiều cổ vật quý như bia “Thủy tạo thạch kiều bi ký” (1759), “An Thái phường Tây thôn trùng tu đình vũ bi ký” (1821). Các câu đối và hoành phi ca ngợi công đức vợ chồng Vũ Phục vẫn còn hiện diện, khẳng định giá trị lịch sử, tín ngưỡng và văn hóa đặc sắc.
Nhân vật thờ tự
- Vũ Phục Chiêu ứng đại vương và Thuận Chính phu nhân
Theo thần tích được lưu truyền tại địa phương, vốn được chép trong các thư tịch cổ như Lĩnh Nam chích quái, Kiến văn tiểu lục cũng như các gia phả của các chi họ Vũ Duy, Vũ Đình, Vũ Văn, có sự thống nhất rằng vào năm Thiên Phù Khánh Thọ đời vua Lý Nhân Tông (1127), nhà vua mắc chứng đau mắt kéo dài, chữa trị nhiều phương cách nhưng không thuyên giảm. Nghe danh thầy Quỷ Cốc ở trấn Sơn Nam giỏi về dịch lý, vua liền sai người đến hỏi. Thầy đoán quẻ và cho rằng việc xây thành Thăng Long đã phạm vào mạch nước, khiến dòng sông xói lở chân thành, từ đó bệnh của nhà vua không khỏi. Muốn chữa bệnh và giữ vững thành, phải tìm cách ngăn được dòng nước. Vua cho đắp đê nhưng hễ đắp xong lại bị lở, khiến quốc khố cạn kiệt, dân sức hao mòn. Bất đắc dĩ, nhà vua sai quan trung sứ đến bến Hồng Tân cầu mộng. Đêm ấy, một vị thần hiện lên, phán rằng: “Hãy về nói với Chúa ngươi rằng, muốn ngăn được dòng sông hãy đợi đến ngày ấy, tháng ấy, đợi ở bến sông này đón người nào đến bến sớm nhất, quẳng người ấy xuống sông thì bệnh vua sẽ khỏi, mà chân thành cũng được giữ vững.”
Nghe lời tâu, vua Lý than rằng: “Vì một mình ta mà hại người vô tội thì thật lòng ta không nỡ.” Song các quan cho rằng đây là ý trời, không thể bỏ qua. Đúng dịp ấy, có đôi vợ chồng già là ông Vũ Phục (quê Phong Châu – Bạch Hạc, về sau sinh sống tại đất Từ Liêm) cùng vợ là bà Đỗ Thị quê Minh Cảo, chuyên nghề bán dầu. Dù tuổi đã cao mà chưa có con, nhưng cả hai vẫn thủy chung, gắn bó. Buổi sớm ngày 30 tháng Giêng, khi sương mù còn dày, ông bà mang dầu qua bến Hồng Tân thì bị quân lính chặn lại. Bối rối, ông hỏi: “Vợ chồng già này vẫn ngày ngày đi qua đây vào thành bán dầu, vậy giữ chúng tôi là phúc hay là họa đây?” Quân lính liền cấp báo triều đình. Vua Lý trầm ngâm rồi truyền: nên đem lời thần báo mộng nói cho họ biết, không được ép buộc.
Sứ thần liền thuật lại và khuyên giải: “Người ta sinh ra ở đời ai mà không chết, nhưng chết đi mà để tiếng cho đời sau mới là điều đáng quý… nếu ông bà không ham cuộc sống chật hẹp nơi ngõ hẻm, chết vì thánh cung, khiến cho lòng trung nghĩa không bị lu mờ, tiếng thơm còn muôn thuở, há chẳng tốt đẹp lắm sao?” Ông Vũ Phục nghe xong, nghiêm giọng đáp: “Cái chết thật là đáng sợ. Nhưng danh tiếng thật khó mua, ta há lại tiếc cuộc sống đời thường mà quên lòng trung nghĩa hay sao. Nay ta cũng như người xưa, quyết nêu tấm gương trung với vua để báo đền ơn nước.” Người vợ cũng xin được chết theo để giữ trọn nghĩa phu thê.
Sứ giả hỏi về sở nguyện cuối cùng, ông bà nói chỉ mong “mùa xuân ấm áp có ca hát, cỗ cúng chỉ cần có cơm nếp, thịt gà mái ghẹ. Tiệc ngày xuân có xôi dẻo, bò béo.” Sứ giả bèn sai dọn cỗ cúng trước, mời ông bà ăn. Ăn xong, hai người ra bờ sông, ngửa mặt khấn: “Vợ chồng tôi hy sinh vì nước, lấy cái chết để cứu vua, xin hoàng thiên chứng giám!” Rồi cùng nhau gieo mình xuống sông. Lạ thay, từ đó dòng sông trở lại yên bình, bệnh vua khỏi hẳn, thành Thăng Long cũng vững bền.
Cảm kích, vua Lý phong hai người làm phúc thần, ban mỹ tự: Chiêu ứng Phù vận đại vương và Thuận chính Phương dung công chúa. Đồng thời, ngài cho tìm thân tộc đưa về phường Tích Ma, bên gò Kim Quy để lập đền thờ và chăm sóc phần mộ. Về sau, vùng đất ấy ngày càng thịnh vượng, đổi tên thành phường An Thái. Con cháu họ Vũ nơi đây đều được coi là hậu duệ của hai vị thần. Ngôi đình An Thái (ngã ba Thụy Khuê – Lạc Long Quân, cạnh chợ Bưởi) chính là nơi phụng thờ.
Dân gian còn truyền câu ca: “Đầu chợ Bưởi có miếu thờ vua, có đường chính xứ lên chùa Thiên Niên” để chỉ các di tích linh thiêng tại khu vực. Trước năm 1985, tại ngã ba chợ Bưởi còn nổi tiếng với quần thể gồm Chiêu Ứng vương từ, Lăng Chiêu Ứng và đình An Thái Đoài, đều thờ vợ chồng ông Vũ Phục và Thuận Chính phu nhân. Người dân quen gọi kính cẩn là “ông Dầu bà Dầu.”
Theo lệ làng, mỗi năm đến mồng 10 tháng Hai, An Thái lại mở hội xuân, tái hiện “ngày xuân tổ chức ca hát, thế là ta vui lắm!” – di nguyện cuối cùng của ông bà, để toàn dân tưởng nhớ công lao, đồng thời giữ gìn ký ức lịch sử về hai bậc phúc thần đã hy sinh thân mình vì sự bình yên của quốc gia.
Lễ hội
Lễ tế xuân
Lễ tế xuân, còn được gọi với tên truyền thống là “lễ nghênh thần”, là một trong những nghi lễ quan trọng được tổ chức hằng năm tại đình An Thái. Ngôi đình này, thường gọi là đình thôn Đoài, nhằm phân biệt với đình thôn An Thọ, đều thuộc phường An Thái, tổng Trung, huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông xưa. Hai ngôi đình An Thái – Đoài và An Thái – Thọ cùng thờ chung thành hoàng làng là vợ chồng ông Dầu – bà Dầu, được truy phong mỹ tự “Vũ Phục Chiêu Ứng đại vương” và “Thuận Chính phu nhân”.
Theo truyền thuyết, lễ tế xuân vốn có nguồn gốc từ ngày “lễ nghênh thần”, được hai làng An Thái và Bái Ân đồng phụng sự. Để duy trì lễ nghi, các bô lão hai làng đã quy định lịch đăng cai: năm Tý do làng An Thái tổ chức, năm Sửu do làng Bái Ân đảm nhiệm, và cứ thế thay phiên qua các năm. Hiện nay, còn lưu giữ được 18 đạo sắc phong từ thời Đức Long nhà Hậu Lê, đều ghi rõ hai làng “An Thái – Bái Ân đồng phụng sự”.
Tại An Thái, trước ngày chính lễ, dân làng tổ chức rước “kim tiên” – tờ giấy vàng trên ghi dị hiệu của thánh do cụ tiên chỉ chép từ long sắc – từ nhà tiên chỉ ra đình. Việc dùng “kim tiên” bắt nguồn từ sự kiện long vị thờ tại đình bị mất cắp, từ đó làng không làm long vị mới mà hằng năm chỉ viết dị hiệu thánh lên giấy để rước ra thờ. Đám rước “kim tiên” diễn ra vào tối mồng 9 tháng Hai với đầy đủ nghi thức: cờ, tàn, lọng, trống đồng văn, nhạc bát âm, long đình và đoàn rước trang nghiêm đi theo trục chính của làng. Tới đình, bô lão làm lễ “phong triều y”, tức nghi thức đặt kim tiên lên ngai thờ, khoác mũ áo, phẩm phục mà vua ban cho vị thần – được dân gian gọi là “mặc áo cho thánh”. Sau đó tiến hành lễ “quan hèm”, gắn với truyền tích về nguyện vọng của bà Dầu, từ đó món “cơm nếp – gà mái ghẹ” trở thành lễ vật không thể thiếu.
Sáng mồng 10 tháng Hai là chính lễ, các giáp trong làng khiêng cỗ tế vào đình. Xưa có tám giáp gồm Nhất, Nhị, Trung Nhất, Trung Nhị, Đông, Đoài, Nam, Bắc. Các nghi thức tế gồm sơ tửu, độc chúc, á tửu và chung tửu, đều do nam giới đảm trách. Kết thúc, cỗ được rước về giáp và chia lộc theo suất đinh.
Buổi chiều, dân làng tổ chức các hoạt động văn hóa. Tại cửa đình, các danh ca từ Phú Mỹ, Mỹ Đình được mời về hát ca trù theo đúng nghi lễ, có quan viên đánh trống chầu và xướng họa thơ. Dân thường thì tập trung vui chơi tại Gò Si – giữa ao làng, nơi dựng rạp cho các gánh hát tuồng, chèo, đồng thời tổ chức trò bắt chạch trong chum. Khi các hoạt động kết thúc, bô lão làm lễ tạ, thực hiện nghi thức “giải triều y”, thu phẩm phục cất đi và hóa tờ “kim tiên”, tro thả xuống giếng Long Tỉnh. Nghi lễ “lễ nghênh thần” chính thức khép lại.
Sau lễ, cuộc sống làng nghề lại trở lại nhộn nhịp. Trong những năm được phong sắc cho thần, lễ hội còn được tổ chức linh đình hơn, kéo dài đến ba ngày liên tiếp.
Lễ kỵ
Ngày lễ kỵ tại đình An Thái xưa kia không tổ chức ở đình, mà diễn ra trực tiếp tại “Chiêu ứng vương từ” và khu lăng thờ. Trước năm 1946, tại miếu Chiêu ứng còn tồn tại hai dãy nhà gọi là “giải văn” và “giải vũ”, nơi phục vụ cho việc hành lễ. Vào dịp lễ kỵ, làng Bái Ân tổ chức rước kiệu sang để cùng phối hợp tế lễ. Theo lệ, quan viên hai làng chia vị trí đứng thành hai bên: Bái Ân đứng bên trái, An Thái đứng bên phải. Chức “quan chủ tế” do các vị tiên chỉ hai làng luân phiên đảm nhiệm theo quy định. Thời gian hành lễ thường tiến hành từ giờ Tuất đến giờ Hợi ngày 30 tháng Giêng hằng năm.
Đặc điểm của ngày lễ kỵ là chỉ hành lễ tại lăng, do vậy các nghi thức như “rước kim tiên”, “phong triều y” hay “giải triều y” đều không có. Tuy nhiên, các thủ tục dâng lễ vẫn tương đồng với lễ nghênh thần, bao gồm việc các dòng họ và các phe giáp trong làng chuẩn bị lễ vật. Lễ quan hèm có hai loại cỗ: cỗ chay gồm “chè kho, chè mộng, bánh khảo, chè lam, mía cắt tấm”; cỗ mặn gồm “xôi dẻo thịt bò béo thui chín” để cúng ông, và “cơm nếp gà mái ghẹ” để cúng bà.
Ngày nay, sau một thời gian dài đình An Thái không hành lễ, khi di tích được trùng tu, lễ tế xuân mới được khôi phục nhưng có nhiều thay đổi. Nếu trước kia mọi công việc từ chọn vật tế, nấu nướng đến hành lễ đều do nam giới đảm trách, thì nay phụ nữ tham gia ngày càng nhiều, thậm chí có lúc lấn át nam giới. Một số hoạt động tôn giáo khác cũng xen vào lễ hội qua các “đội tế nữ”, “đội dâng hương từ thiện”, hay các nhóm Phật giáo Bình Thiện, làm giảm đi vẻ trang nghiêm vốn có của đình. Từ chiều mồng 9 tháng Hai, các bà đã mặc áo nâu, chân đất, đeo tràng hạt đến cửa thánh để “gõ mõ tụng kinh Phật cầu giải oan”. Sang ngày hôm sau, lại có các bà mặc áo vàng như mệnh phụ đến làm lễ dâng hương. Họ tổ chức nghi thức tế với đầy đủ “tế chủ, đông xướng, tây xướng” cùng gần ba chục tế viên, thậm chí cầm đao kiếm đứng trước ban thờ và xướng lên: “Đoàn dâng hương từ thiện làng An Thái chúng con xin kính trình tam bảo (!) kính lễ đức đại vương dâng nén tâm hương cúc cung kính lễ”. Sau khi tế lễ, các đội này còn biểu diễn “Múa cung đình” hoặc vở “Mục liên – Thanh Đề”, vừa hát vừa kêu gọi công đức từ nhân dân.
Những yếu tố pha tạp này cho thấy lễ hội đã thay đổi tính chất truyền thống, chịu ảnh hưởng rõ rệt của kinh tế thị trường. Chỉ khi nào lễ hội dần trở lại nếp cổ, sàng lọc những yếu tố lai tạp, giữ lại tinh hoa, thì mới có thể khôi phục được một lễ hội mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam.
Tham khảo
- Lê Quý Đôn (1777), Kiến văn tiểu lục
- Lê Trung Vũ (chủ biên) và các cộng sự, Lễ hội Thăng Long (Tái bản có bổ sung), Nxb. Hà Nội, 2001
- Vũ Quỳnh, Kiều Phú (thế kỷ XV–XVI), Lĩnh Nam chích quái.
