Lễ hội đền Hoàng Công Chất

Lễ hội đền Hoàng Công Chất

Thông tin cơ bản

Tên di sản: Lễ hội đền Hoàng Công Chất
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất, tỉnh Điện Biên
Thời gian tổ chức: Từ ngày 24 đến ngày 28 tháng Hai âm lịch hằng năm, chính hội ngày 25 tháng Hai
Đối tượng thờ phụng: Hoàng Công Chất và 6 vị tướng lĩnh có công đánh giặc Phẻ, giải phóng Mường Thanh, bảo vệ bản mường
Cộng đồng thực hành: Đồng bào các dân tộc ở Mường Thanh, trong đó có người Thái và người Kinh
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 1877/QĐ-BVHTTDL ngày 08/6/2015 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Lễ hội đền Hoàng Công Chất có nguồn gốc từ tục thờ Hoàng Công Chất cùng các vị tướng lĩnh đã có công đánh giặc Phẻ, giải phóng Mường Thanh và bảo vệ bản mường. Lễ hội được tổ chức tại thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất, là dịp để đồng bào các dân tộc tưởng nhớ công lao của những người đã góp phần đem lại cuộc sống bình yên cho vùng đất này. Qua các nghi thức rước, tế, dâng hương và các hoạt động văn hóa dân gian, lễ hội lưu giữ ký ức về một giai đoạn lịch sử quan trọng của Mường Thanh. Đồng thời, đây cũng là dịp cộng đồng cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bản mường yên vui.

Hoàng Công Chất và cuộc khởi nghĩa

Hoàng Công Chất tên thật là Hoàng Công Thư, sinh năm 1706 tại làng Hoàng Xá, huyện Thư Trì, Sơn Nam Hạ, nay là Nguyên Xá, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Ông sinh ra trong một gia đình nông dân và trưởng thành trong bối cảnh nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổi lên chống lại chính quyền Lê – Trịnh. Năm 1739, Hoàng Công Chất phất cờ khởi nghĩa tại vùng Sơn Nam, địa bàn thuộc các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên ngày nay. Nghĩa quân ngày càng lớn mạnh và liên kết với các lực lượng của Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Hữu Cầu, tạo thành một phong trào có ảnh hưởng rộng.

Năm 1748, trước sự tấn công của quân Trịnh và do tương quan lực lượng quá chênh lệch, Hoàng Công Chất rút lên vùng thượng du Thanh Hóa rồi chuyển sang hoạt động tại vùng Thượng Lào. Cùng thời điểm đó, ở Mường Thanh, hai thủ lĩnh người Thái là Lò Văn Ngải và Lò Văn Khanh đứng lên tập hợp nhân dân các dân tộc chống lại giặc Phẻ, một tộc người thuộc nhóm Tày – Thái ở Thượng Lào và Vân Nam. Do lực lượng còn yếu, nghĩa quân của Lò Văn Ngải và Lò Văn Khanh đã liên kết với nghĩa quân Hoàng Công Chất. Cuối năm 1751, nghĩa quân Hoàng Công Chất tiến vào Tây Bắc và đến năm 1754 đã cùng các tướng người Thái đánh tan giặc Phẻ, đem lại cuộc sống yên ổn cho dân Mường Thanh.

Xây dựng thành Bản Phủ và ổn định Mường Thanh

Sau chiến thắng giặc Phẻ, Hoàng Công Chất chiêu dụ dân chúng, tổ chức ổn định sản xuất, củng cố lực lượng và đến năm 1758 cho xây dựng thành Bản Phủ. Từ căn cứ này, nghĩa quân mở rộng hoạt động ra khắp 10 châu của phủ An Tây và giành quyền kiểm soát vùng đất rộng lớn ở Tây Bắc. Mường Thanh dần trở thành một trung tâm văn hóa, chính trị quan trọng của khu vực. Hoàng Công Chất còn có công truyền bá những kiến thức và kỹ thuật trồng trọt của người miền xuôi cho đồng bào các dân tộc, góp phần củng cố sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư.

Ngày 25 tháng Hai năm 1767, Hoàng Công Chất qua đời. Nhân dân Mường Thanh đã lập đền thờ ông cùng 6 vị tướng lĩnh trong khu vực thành Bản Phủ, trong đó đến nay cộng đồng còn nhớ rõ tên hai vị là tướng Ngải và tướng Khanh. Tại chính điện đền Hoàng Công Chất hiện thờ 10 pho tượng sơn son thếp vàng gồm tượng Đức Vua Cha, Nam Tào, Bắc Đẩu, Hoàng Công Chất và 6 vị tướng lĩnh. Ban Công đồng đặt 7 bài vị của Hoàng Công Chất và 6 vị tướng, thể hiện sự tôn kính của cộng đồng đối với những người có công bảo vệ Mường Thanh.

Thời gian tổ chức lễ hội

Trước đây, vào ngày 5 tháng Năm, ngày được xem là ngày chiến thắng giặc Phẻ, đồng bào các dân tộc cùng tổ chức lễ hội tại đền để cúng “Then Chất” và 6 vị tướng lĩnh. Trong tín ngưỡng của người Thái, Hoàng Công Chất được tôn thờ như một trong những người có công dựng bản, lập mường cùng với Lạng Chượng, Khun Mứn. Về sau, để phù hợp với phong tục của đồng bào Thái Mường Thanh, lễ hội được chuyển sang tổ chức từ ngày 24 đến ngày 28 tháng Hai âm lịch, chính hội vào ngày 25, cùng thời điểm với lễ hội Xên Mường. Người Thái có câu “cắm mướng, ỉn phủ”, nghĩa là “kiêng mường, chơi phủ”, phản ánh mối liên hệ giữa lễ hội đền Hoàng Công Chất với sinh hoạt tín ngưỡng truyền thống của cộng đồng.

Hiện nay, Lễ hội đền Hoàng Công Chất được tổ chức thường niên với hai quy mô khác nhau. Vào năm chẵn, lễ hội được tổ chức ở quy mô cấp huyện và là một trong những hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn của tỉnh Điện Biên. Vào năm lẻ, lễ hội được tổ chức ở quy mô cấp xã. Cách tổ chức này vẫn giữ trọng tâm là các nghi lễ truyền thống và sự tham gia trực tiếp của cộng đồng các dân tộc địa phương.

Chuẩn bị lễ hội và lễ bao sái

Trước ngày hội, người dân chuẩn bị các lễ vật dâng cúng, đồng thời tổ chức dọn dẹp khu vực thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất. Đội nữ tế quan và đội trống tập luyện trước các nghi thức tế lễ để bảo đảm diễn trình được thực hiện trang nghiêm, đúng lệ. Người trông coi đền tiến hành lễ bao sái, trong đó có việc tắm tượng và lau dọn không gian thờ tự. Công việc chuẩn bị có sự tham gia của cộng đồng, thể hiện vai trò trực tiếp của người dân trong việc duy trì và tổ chức lễ hội.

Nghi lễ báo cáo

Lễ hội bắt đầu bằng nghi lễ báo cáo do người trông coi đền thực hiện. Trong nghi lễ, chủ lễ kính mời các vị thần linh, Hoàng Công Chất, các vị tướng lĩnh và nghĩa quân về hưởng lễ, chứng giám cho những ngày hội. Đồng thời, cộng đồng cầu xin các ngài phù hộ để lễ hội được tổ chức thành công, mọi việc diễn ra thuận lợi. Nghi thức này mở đầu cho toàn bộ diễn trình lễ hội và xác lập không gian thiêng tại thành Bản Phủ và đền Hoàng Công Chất.

Lễ rước kiệu

Sáng ngày 24 tháng Hai âm lịch, cộng đồng tổ chức lễ rước kiệu, bắt đầu từ khu vực cổng trường Trung học phổ thông xã Noong Hẹt, đi qua chợ Bản Phủ, các khu dân cư rồi tập kết tại thành Bản Phủ. Đi đầu đoàn rước là một phụ nữ Thái mang cờ hội, tiếp theo là người đánh trống hội và đội múa rồng. Sau đó là 16 thanh niên tượng trưng cho nghĩa quân Hoàng Công Chất, mặc nón lá, áo nâu, thắt lưng vàng, mang gươm giáo chỉnh tề. Tiếp theo là hai phụ nữ mặc áo dài truyền thống, đội một mâm lễ mặn và một mâm hoa quả, phía sau là kiệu rước linh vị cùng đông đảo nhân dân các dân tộc trong trang phục truyền thống.

Đoàn rước vừa mang ý nghĩa cung nghinh linh vị, vừa tái hiện hình ảnh nghĩa quân và sự đoàn kết của cộng đồng các dân tộc trong quá trình bảo vệ Mường Thanh. Sự tham gia của người Thái, người Kinh và các cộng đồng khác làm cho đoàn rước trở thành một hoạt động tập thể có quy mô lớn. Trang phục, cờ hội, trống, múa rồng và hình ảnh gươm giáo tạo nên không khí trang trọng, gợi nhắc đến những sự kiện lịch sử gắn với Hoàng Công Chất. Khi đoàn rước về tới thành Bản Phủ, các nghi lễ và hoạt động tái hiện lịch sử tiếp tục được thực hiện tại đền.

Tái hiện nghĩa quân và đọc chúc giỗ

Tại đền Hoàng Công Chất, 16 thanh niên tượng trưng cho nghĩa quân thực hiện màn múa gươm, giáo, tái hiện hình ảnh lực lượng của Hoàng Công Chất chiến đấu dẹp giặc. Sau đó là màn múa rồng, tạo không khí trang trọng trước khi bước vào các nghi thức tế lễ. Tiếp theo, nghi lễ đọc chúc giỗ được tổ chức, nội dung nêu lại sự tích, truyền thuyết và công lao của Hoàng Công Chất đối với vùng Mường Thanh. Phần chúc giỗ đồng thời nhắc nhở các thế hệ con cháu về trách nhiệm xây dựng, gìn giữ và bảo vệ quê hương.

Lễ tế Hoàng Công Chất

Lễ tế Hoàng Công Chất có hình thức gần với nghi lễ tế Thành hoàng làng ở miền xuôi nhưng được thực hiện bởi đội nữ tế quan gồm 27 thành viên người Thái và người Kinh. Trong lễ tế có 4 phụ nữ Thái đại diện cho cư dân bản địa thực hiện nghi thức dâng hoa và lễ vật lên kiệu của Hoàng Công Chất. Sự tham gia của cả người Thái và người Kinh thể hiện rõ sự giao hòa giữa các phong tục tín ngưỡng trong vùng Mường Thanh. Qua lễ tế, cộng đồng cầu mong năm mới mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bản mường bình yên.

Kết thúc lễ tế, nhân dân và khách dự hội lần lượt vào đền thắp hương tưởng nhớ Hoàng Công Chất cùng các vị tướng lĩnh. Việc dâng hương vừa là hành động tri ân những người có công, vừa thể hiện nhu cầu cầu phúc của cộng đồng. Người dân gửi gắm mong ước về sức khỏe, may mắn và cuộc sống thuận lợi cho gia đình. Không gian đền vì vậy vừa mang ý nghĩa tưởng niệm lịch sử, vừa là nơi thực hành tín ngưỡng của cộng đồng.

Phần hội

Song song với các nghi lễ là nhiều hoạt động vui chơi, văn hóa và thể thao dân gian thu hút đông đảo người tham dự. Các trò chơi tiêu biểu gồm ném còn, kéo co, bắn nỏ và đẩy gậy, đều là những hoạt động quen thuộc trong đời sống văn hóa của các dân tộc Tây Bắc. Bên cạnh đó còn có hát dân ca và múa xòe, tạo không gian giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng. Phần hội giúp mở rộng lễ hội từ không gian thờ tự sang không gian sinh hoạt cộng đồng, làm cho lễ hội vừa trang nghiêm vừa gần gũi với đời sống thường ngày.

Lễ hội đền Hoàng Công Chất thể hiện rõ sự đoàn kết của các dân tộc cùng sinh sống trên vùng đất Tây Bắc. Thông qua việc tưởng niệm Hoàng Công Chất, các vị tướng và nghĩa quân, cộng đồng cùng ôn lại truyền thống chống giặc, bảo vệ bản mường và hun đúc lòng yêu nước. Lễ hội đồng thời gửi gắm ước vọng về một cuộc sống thái bình, mùa màng thuận lợi và bản mường thịnh vượng. Đây cũng là nơi thể hiện sự kết hợp giữa tục thờ Hoàng Công Chất theo phong tục người Thái với những nghi thức gần với thờ Thành hoàng làng của người Việt.

Trong tín ngưỡng người Thái, Hoàng Công Chất được thờ theo hình thức gắn với cúng chẩu mường trong Xên Mường Thanh, tức thờ người có công bảo vệ và xây dựng bản mường. Trong khi đó, nghi thức tế tại đền lại mang nhiều yếu tố tương đồng với lễ tế Thành hoàng ở miền xuôi. Sự kết hợp này phản ánh quá trình giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng người Thái và người Kinh trong lịch sử Mường Thanh. Qua đó, lễ hội trở thành một không gian chung, nơi nhiều thành phần cư dân cùng tham gia tưởng niệm và thực hành tín ngưỡng.

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Lễ hội gắn với Hoàng Công Chất, cuộc khởi nghĩa nông dân thế kỷ XVIII, cuộc chiến chống giặc Phẻ và quá trình xây dựng thành Bản Phủ, củng cố vùng Mường Thanh.
Giá trị tín ngưỡng: Hoàng Công Chất được cộng đồng tôn kính như người có công dựng bản, giữ mường. Việc thờ ông cùng sáu vị tướng thể hiện truyền thống tri ân những người có công với cộng đồng.
Giá trị đoàn kết dân tộc: Lễ hội thể hiện rõ mối quan hệ gắn bó giữa người Thái, người Kinh và các dân tộc khác tại Tây Bắc trong lịch sử cũng như trong đời sống hiện nay.
Giá trị văn hóa: Lễ hội kết hợp nghi thức tế Thành hoàng của người Việt với các yếu tố tín ngưỡng Xên Mường và thờ chẩu mường của người Thái, tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng của Mường Thanh.
Giá trị giáo dục truyền thống: Việc kể lại cuộc đời, sự nghiệp của Hoàng Công Chất và tái hiện hình ảnh nghĩa quân góp phần giáo dục các thế hệ về truyền thống đấu tranh bảo vệ quê hương, tinh thần đoàn kết và lòng yêu nước.
Giá trị nghệ thuật – trình diễn: Đoàn rước, múa gươm giáo, múa rồng, đội nữ tế quan, dân ca và múa xòe tạo nên hệ thống trình diễn phong phú trong không gian lễ hội.
Giá trị cộng đồng: Các hoạt động ném còn, kéo co, bắn nỏ, đẩy gậy, dân ca và múa xòe tạo điều kiện để các dân tộc cùng gặp gỡ, giao lưu và củng cố quan hệ cộng đồng.

Lễ hội đền Hoàng Công Chất là một di sản văn hóa tiêu biểu gắn với lịch sử Mường Thanh và cuộc đời Hoàng Công Chất. Qua hệ thống nghi lễ thờ cúng, rước kiệu, tế lễ cùng các hoạt động văn hóa dân gian, lễ hội lưu giữ ký ức về cuộc đấu tranh bảo vệ bản mường, tôn vinh tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc và thể hiện khát vọng về một cuộc sống hòa bình, no đủ, thịnh vượng.

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Đoàn múa rồng tại sân Đền Hoàng Công Chất.

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)