Khái quát
Nhà trường là nhà ông cựu Mẫn, cựu lý trưởng, ở giữa làng. Qua cái cổng ngăn tức là cái cổng có mái lợp, có hai cánh gỗ, qua cái sân lát gạch là vào đến trường. Nhà trường là một cái nhà gỗ lợp gianh dài năm gian… Ở gian giữa kê bàn thờ, trên có các đồ thờ sơn son thếp vàng chói lọi. Ngoài che một bức rèm khâu dính bằng hai câu đối vóc người ta mừng khi ông cựu làm lý trưởng. Trước bàn thờ, một bộ trường kỷ quang dầu bóng lộn. Gian bên trái kê một một cái giường trải chiếu hoa, trên để một cái tráp sơn đen bóng, một đĩa son, một ống sứ đựng bút, một cái gối, một cái khay chén, một ấm nước, một cái roi mây dài đườn đượt nằm ngang trên giường; đấy là chỗ ông đồ ngồi. Ở gian bên, một dãy phản kê liền nhau sát tận vách, để học trò ngồi. Đằng gian bên phải, cũng một dẫy phản kê sát nhau như vậy.
Tâm đến sớm nhất, ông đồ chỉ Tâm ngồi vào góc phản liền với cửa sổ sau. Tâm ngồi xếp bằng gọn ghẽ, định thần ngắm mọi người.
Lạy thầy ạ!
Bẩm thầy ạ!
Những học trò lục tục đến chắp tay trước ngực vái chào. Chúng ngồi vào chỗ, giở sách vở, mở ống tre, dốc ra nào bút, nào mực… Lấy nghiên, đổ ít nước vào mài mực, rồi nằm soài liền nhau rất thẳng, thành hai hàng, châu đầu vào nhau cắm cúi viết. Tâm cũng nằm soài tô những nét son của ông đồ viết ở vở. Tâm lóng ngóng hai lần đánh rơi bút rây nhẹt cả mực ra vỏ, rồi dần dần quen đi! Tâm cố hết sức tô sao cho kín nét ngang, nét sổ, nhưng sao vẫn trật ra ngoài… Trò nào viết xong đóng bút lại bỏ vào ống tre đậy nắp, đút nghiên xuống gầm giường rồi bước qua những đứa khác, đem vở lên cho ông đồ chấm.
Ông lấy bút son khuyên những chữ đẹp, số những chữ xấu rồi phê điểm. Đứa nào viết xấu lắm là y như bị những roi mây vào đít vào đầu. Có đứa bôi bẩn quá không thể trông thấy được phải dần tay kêu giời, kêu đất, lạy lấy lạy để, mà cũng không được tha… Đây là dẫy học trò trẻ con bé như Tâm trở lên đến mười một, mười hai. Còn dẫy phản đằng gian cùng bên kia, toàn là học trò lớn đang cắm cổ viết, tha hồ nói chuyện, ông đồ mặc kệ, không lại nơi họ. Tự nhiên Tâm ao ước được nhón như những anh học trò ấy, để được tụ tập với họ, xa con mắt và cái roi của ông thầy đồ.
Bỗng có tiếng roi đập luôn mấy nhát xuống giường ra hiệu im. Tất cả đều thôi học và lặng lẽ ngoảnh mặt ra cửa. Một người đàn bà tất tả vào láu táu thưa:
Bẩm lạy thầy, thằng Bân nhà cháu trốn học lười lắm, lại ương ngạnh nữa, về nhà bảo không nghe, cháu đã lôi lại được đến đây. Xin thầy đánh cho nó chừa, chúng cháu được nhờ.
Tâm trông thấy thằng Bân đang khóc sướt mướt trong tay mẹ nó. Còn ông đồ thì mặt đỏ bừng, mắt ông long lên, ông bảo bà kia rằng:
Được bà cứ về, để nó đấy tôi.
Rồi ông sai ba đứa học trò lớn lôi thằng Bân vào nọc căng xác ra. Một thằng đè đầu, một thằng kéo hai chân, một thằng giữ quặt hai tay lên lưng. Bân nằm như con ếch ở dưới đất, mông đít trật ra để nhận lấy những roi: Vút! Vút!… Bân quằn quại khóc không ra tiếng. Cả trường đều im lặng, ai nấy đều sợ hãi, nhất là Tâm. Khi ông đồ vụt đã mỏi tay và đã thay hai roi rồi, Bân chỉ còn ức ức không nói được câu “Lạy thày con xin chừa”, ông đồ mới thôi đánh, cho Bân đứng dậy, bắt lễ bốn lễ, rồi mới cho về chỗ ngồi…
Đoạn văn ngắn trong tiểu thuyết Bút nghiên của nhà văn, nhà sử học Chu Thiên dù chỉ phác họa vài nét, nhưng cũng cho ta thấy được cảnh thầy dạy học trò thuở xưa. Có lẽ do quan niệm “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho ngào” nên các ông đồ xưa thường nổi tiếng là dữ đòn! Tuy nhiên, không phải thầy giáo nào cũng áp dụng theo “phương pháp sư phạm” này mà có người giáo dục học trò theo phương pháp mới do mình tự nghiên cứu, tìm tòi để dạy dỗ các em thành người hữu ích cho đất nước. Trong số các bậc thầy đáng kính như thế, chúng ta không thể không nhắc đến thầy Bùi Dương Lịch.
Thân thế
Thầy sinh năm 1758, tự Tôn Thành, hiệu Thạch Phủ và Tồn Trai, người thôn Yên Hội – xã Yên Toàn, huyện La Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh), là con trai của ông Hương cống Bùi Quốc Toại và bà mẹ họ Dương. Ngay từ thuở nhỏ, thầy đã được mọi người khen là có chí tiến thủ, biết chuyên cần học tập. Nhờ vậy mới mười bảy tuổi, thầy đã đậu hương cống. Sau đó, thầy ra Thăng Long để có điều kiện đến tập bài ở trường Quốc Tử Giám. Vốn sinh ra trong gia đình nhà Nho có nề nếp, không làm phiền đến cha mẹ phải lo toan tiền ăn học, ra đến chốn kinh kỳ thầy tự kiếm sống bằng nghề dạy học.
Tâm đức của thầy chẳng bao lâu vang danh ở Thăng Long. Do đó, năm 1780, thầy được bổ làm Huấn đạo phủ Lý Nhân ở trấn Nam Sơn, nhưng vừa lúc ấy thì nhận tin cha mất, thầy cáo về quê cư tang rồi lại ra Thăng Long học tiếp.
Bối cảnh lịch sử và con đường làm quan
Dù chăm chỉ học tập, nhưng những biến động của xã hội không thể không tác động đến tâm trí của thầy. Bấy giờ, năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã kéo quân ra Bắc với danh nghĩa “phò Lê diệt Trịnh”. Thủy quân Tây Sơn đã dàn binh bố trận ở bến Tây Luông (nay là bờ sông Hồng Hà, chỗ đầu phố Hàng Than – Hà Nội). Quân tiền bộ của chúa Trịnh nổ súng bắn dữ dội, nhưng quân Tây Sơn dũng cảm cúi rạp mình xuống tránh đạn rồi xông vào giao chiến. Chúa Trịnh Tông đích thân mặc chiến bào, lên voi, tay cầm cờ lệnh chỉ huy quân đánh trả nhưng quân sĩ hèn nhát chỉ nhìn nhau, chứ không chịu tiến quân. Quân Tây Sơn bắn hỏa hổ – một loại vũ khí là ống phun lửa đốt bằng thuốc súng – khiến trời đất mờ mịt rồi ập quân ra giao chiến. Quân chúa Trịnh kinh hãi, bỏ áo giáp dọc hai bên bờ sông chạy thục mạng. Trịnh Tông ngồi trên bành voi ngoái nhìn lại thấy không còn một mống tướng sĩ nào cả, bèn ngoặt đầu voi hoảng hốt rút chạy. Quân Tây Sơn không biết là chúa Trịnh, cứ hối hả tranh nhau xông lên vào phủ, không chú ý đến voi chúa đang đi. Nhờ vậy, Trịnh Tông mới chạy thoát lên được Yên Lãng. Tại đây, Trịnh Tông bị Nguyễn Trang – học trò của Lý Trần Quán – bắt giao cho anh hùng Nguyễn Huệ. Dọc đường, Trịnh Tông tự vẫn. Như thế, vương nghiệp họ Trịnh đến đây là chấm dứt.
Sau khi lật ngai vàng chúa Trịnh, người anh hùng áo vải Tây Sơn Nguyễn Huệ cưới công chúa Ngọc Hân – con gái của vua Lê Hiển Tông. Giờ Mão, ngày 17/7/1786 nhà vua mất. Trước khi mất, vua Lê Hiển Tông trăn trối truyền ngôi cho cháu đích tôn Lê Duy Kỳ. Kỳ lên ngôi với niên hiệu Lê Chiêu Thống. Chứng kiến những giây phút đổi thay này, thầy Bùi Dương Lịch có trút tâm sự qua bài thơ Gặp loạn:
Ngựa trạm vừa ra, phóng tựa bay
Biên thùy đất nước thế nào đây?
Viễn binh đến chậm, gươm cầm ngược,
Chiến tướng lâm nguy, thánh bó tay.
Ban Lão phong hầu, không bút ném,
Phùng công đuổi giặc, bật thơ hay.
Cười mình lấm cấm lo trời sập,
Ngán ngẩm văn chương tích sự này!(Bản dịch Võ Hồng Huy)
Vừa lên ngôi, vua Lê Chiêu Thống muốn tìm người tài giỏi ra giúp mình. Vì vậy, tháng 3/1787, thầy Bùi Dương Lịch được tiến cử làm Nội hàn Viện cung phụng sứ ngoại lang – một chức quan chuyên giảng sách cho nhà vua. Dù được nhà vua tin cậy như thế nhưng thầy vẫn chuyên tâm học tập thêm. Tháng 7/1787, thầy thi hội đậu Hội nguyên, rồi thi đình đậu Đình nguyên nhị giáp tiến sĩ – tức Hoàng giáp.
Sau khi lật họ Trịnh, đưa họ Lê lên ngôi, anh em Tây Sơn rút quân về Nam. Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà và trở nên chuyên quyền trên đất Bắc. Vua Lê lấy làm lo nhưng không biết trông cậy vào ai nên đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Nhận được tin này, Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm bắt giết Chỉnh. Mất Chỉnh, không còn chỗ nương tựa, thế là vua Lê Chiêu Thống lén lút chạy sang Tàu cầu cứu nhà Thanh. Hành động này để lại tiếng xấu trong sử sách nước nhà, hậu thế phê phán là “rước voi dày xéo mả tổ” – tội của Lê Chiêu Thống muôn đời không rửa sạch!
Khi vua Quang Trung kéo quân ra Bắc đánh tan tác quân Thanh, thầy Bùi Dương Lịch đã đưa mẹ về Nghệ An, ẩn náu ở quê ngoại xã Đồng Môn, huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh). Cuối năm 1789, qua tiến cử của Nguyễn Huy Tự, thầy được lệnh của vua Quang Trung vời ra làm quan, dù lấy cớ nuôi mẹ già để không vào kinh đô Phú Xuân, nhưng thầy nhận chức Hàn lâm – dưới quyền của Viện trưởng La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp – chuyên dịch sách từ chữ Hán ra chữ Nôm ở Sùng chính viện Nam Hoa (Thanh Chương). Việc làm của thầy đã được vua Quang Trung ban khen.
Sau khi nhà vua mất, thầy lại trở về quê dạy học. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, thầy lại được triệu ra làm quan. Không thể từ chối, thầy phải nhận chức Đốc học Nghệ An, rồi sau đó xin về hưu để chuyên tâm dạy học và trước tác.
Sự nghiệp giáo dục
Chính nghề dạy học đã lưu lại tên tuổi của thầy Bùi Dương Lịch trong lịch sử giáo dục nước nhà. Có thể nói, thầy là một trong những người đầu tiên có ý thức biên soạn sách dạy trẻ con.
Sách giáo khoa của thầy có tên Bùi gia huấn hài (Sách dạy trẻ con của gia đình họ Bùi) biên soạn vào năm 1787, lúc thầy dạy học ở làng Sét – tức làng Thanh Liệt ở Thăng Long. Trong bài tựa thầy cho biết:
Tôi từng thấy ở làng, thấy mọi nhà dạy trẻ, phần nhiều cho học thuộc lòng quyển Thiên tự của Chu Hưng Tự, cuối cùng chẳng lợi ích gì. Hoặc lấy Hiếu kinh tiểu học thay vào, nhưng câu đặt dài ngắn không đều, khó khăn cho con trẻ. Tôi cho rằng con trẻ có tính nhớ, nhưng hiểu biết còn non kém, nếu không đặt theo cách luật thì đọc không thuận miệng mà dễ sinh nản lòng; không giảng rõ ý rõ nghĩa thì lòng trẻ hiểu mập mờ, nhận định không được đúng. Vì thế, tôi tóm tắt những điều cốt yếu, trên từ việc sinh ra trời đất người vật, tiếp đến thứ tự các đời đế vương, kể rõ sự tích nước Việt ta lúc chia lúc hợp, rồi đến truyền thống về đạo học, sau cùng đến phương pháp học của trẻ con. Các chương này, tôi đều chọn lọc trong những lời của các tiên nho đã phát minh và giảng rõ, đặt ra những câu đối nhau có vần, bằng trắc xen nhau, mỗi câu bốn chữ, gồm 2.000 câu, để lũ trẻ sơ học trong nhà học tập, gọi là Bùi gia huấn hài. Đó là muốn thuận theo tính trẻ mà dạy dỗ, chứ không phải là dạy theo lối tắt đâu.
Qua lời tựa trên, ta ít nhiều thấy được quan điểm của thầy khi biên soạn sách giáo khoa cho trẻ con.
Nhà bác học Phan Huy Chú nhận xét tác phẩm này đã “lược chép được đại yếu các sách tử sử và tính lý, lời gọn ý rộng”.
Quan điểm giáo dục
Xin được trích một đoạn về “Phương pháp học của trẻ con” để thấy tấm lòng ưu ái của thầy đối với thế hệ tương lai của đất nước sâu sắc biết dường nào:
Đi không xấu hổ với bóng, nằm không xấu hổ với chăn. Bất tất bình phẩm so sánh với người, chỉ cần sao cho mình thành người khá. Chẳng cần cầu người biết, chỉ cần ở ta sao cho hết đạo làm người. Trẻ em – nay ta dạy các em, không việc gì phải cầu ở đâu cả – cứ hết tuần tự làm việc gần, học việc nhỏ. Chớ nên học những việc không thiết thực và viễn vông. Khỏi cư, ngồi đứng, nên đoan trang, chẳng thiên lệch. Khi tiến, khi thoái, khi bước một, khi đi nhanh, nên cẩn trọng mới quý. Chính thân nên khiêm tốn, cư xử với người nên hòa và kính. Hết thảy các việc, nên cẩn thận. Đi học nên chuyên cần. Chớ xem sách nhảm, chớ ham chuộng những truyện bí ẩn kỳ quái.
Khi biên soạn Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nhà thư mục học xuất sắc nhất thời đại chúng ta là cụ Trần Văn Giáp đã ghi nhận:
Sách này tuy mục đích là dạy cho trẻ em mới vỡ lòng cho dễ hiểu, nhưng qua đó ta biết thêm về phương pháp giáo dục của ta ngày xưa như thế nào. Điểm này giúp ích rất lớn cho các nhà chuyên nghiên cứu về lịch sử giáo dục Việt Nam.
Thật vậy thời trước, các học trò mẫu giáo thường được học các sách do người Tàu soạn như Thiên văn tự của Chu Hưng Tự đời Lương, gồm 1000 chữ, đặt thành những câu 4 chữ có vần; Hiếu kinh của Tăng Tử, chép lời Khổng Tử dạy đạo hiếu; Tam tự kinh của Vương Ứng Lân đời Tống; Minh gia huấn đạo của Trình Hạo đời Tống, gồm 500 câu thơ bốn chữ, hoặc mỗi câu mỗi gieo vần hoặc cách câu mới có vần, các câu đều có lời khuyên răn về luân thường đạo lý, tu thân xử thế như:
Khai quyền hữu ích
Chí giả cánh thành
Tích cốc phòng cơ
Tích y phòng hàn(Mở sách có ích
Có chí thì nên
Trữ thóc phòng đói
Trữ áo phòng rét)
thì còn có sách do người Việt biên soạn. Như trường hợp của thầy Bùi Dương Lịch là một thí dụ.
Đánh giá và ghi nhận
Do các trước tác để lại cho đời sau rất có giá trị nên nhà sử học Trần Văn Giàu trong tác phẩm Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám đã đánh giá: “Bùi Dương Lịch theo con đường Trương Tái mà tiếp cận với duy vật luận”, “Nhà Nho như Bùi Dương Lịch hơi hiếm” và “Bùi Dương Lịch là một trong số ít những nhà Nho có ý kiến tương đối đúng đắn và nhiều tính chiến đấu nhất”.
Nghiên cứu về sự nghiệp dạy học của thầy, nhà nghiên cứu Võ Hồng Huy cho biết: “Về những năm đầu, ông vừa dạy học vừa tập bài ở kinh kỳ. Phần lớn thời gian ông dạy ở quê. Khó tìm thấy bản kê danh sách “đồng môn” để giúp ta biết chính xác số lượng học trò và số trò thành đạt. Theo gia phả học trò ông đông đến ngoài nghìn, trong số đó, trên 300 người, cao thấp khác nhau đều đỗ đạt. Ngụy Khắc Thận, quê Nghi Xuân, đỗ Cử nhân; Ngụy Khắc Thuần vừa là học trò vừa là con rể ông, đỗ Tiến sĩ; Bùi Thức Kiên, con trai ông, đỗ Hoàng giáp…” (2)
Thầy mất năm 1828, thọ 71 xuân.
Trong văn bia viết về cuộc đời của thầy Bùi Dương Lịch, Án sát Nguyễn Văn Siêu đánh giá rất cao sự nghiệp dạy học của thầy:
Ở Hoan Châu nhân tài nối tiếp nhau xuất hiện, cùng sánh vai với các vùng trong nước. Triều đại hưng thịnh như ngày nay, nếu không có công lao đóng góp của ông, ai là người tác thành cho lớp hậu tiến, để nước nhà sẵn có mà dùng? Kẻ sĩ nối tiếp nhau thành đạt ở Châu Hoan này, không chỉ có tình nghĩa thân thiết, mà phần lớn đã trở thành những bậc danh thần, tiếp bước rạng rỡ trên các trường thi, trong các sổ ghi người xuất sĩ.
Hiện nay, tại nhà thờ thầy ở xã Tùng Ấn (Đức Thọ) phía trước có ghi ba chữ “Lưỡng nguyên từ” (hai lần đậu đầu: Hội nguyên và Đình nguyên) và còn lưu giữ được tấm bia trên mà cuối bia có bài minh với những câu ca ngợi thầy như:
Hào quang tỏa sáng,
Hương sách thơm hoài.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.