Bùi Huy Bích (1744 – 1818)

Bùi Huy Bích (1744 – 1818)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Bùi Huy Bích tự Hy Chương 熙章, hiệu Tồn Am và Tồn Ông, là một danh sĩ nổi tiếng của Hà Nội. Ông không chỉ được biết đến như một trí thức uyên bác mà còn là người có ảnh hưởng lớn trong đời sống học thuật và chính trị đương thời.

Ông sinh ngày 3/10/1744 tại thôn Định Công, xã Định Công, huyện Thanh Trì – nay thuộc phố Định Công, phường Định Công, Hà Nội. Gia tộc của ông thuộc dòng họ lớn, nhiều đời làm quan: ông là cháu đời thứ năm của Tiên Quận công Bùi Bỉnh Uyên và cháu đời thứ bảy của Quảng Quận công Bùi Xương Trạch. Cha ông là Bùi Dụng Tân, hiệu Trúc Viên cư sĩ cụ dạy học tại nhà.

Gia đình Bùi Huy Bích có ba chị em: một chị gái, ông và một em trai. Khi ông mới 5 tuổi, mẹ qua đời. Sau biến cố ấy, cha đưa ba con lên Hải Dương, sống tại làng An Lâu thuộc huyện Thanh Miện, nơi ông Trúc Viên tiếp tục nghề dạy học.

Thuở nhỏ ngài Tồn Am có sức khỏe yếu, thường xuyên đau ốm, bề ngoài trông có phần chậm chạp. Nhưng trái ngược với vẻ ngoài đó, ông lại là người lanh lợi và rất thông minh. Không chỉ học nhanh, nhớ lâu, ông còn sớm bộc lộ sự hiểu biết về đời sống xung quanh, cho thấy tư chất của một học giả lớn sau này.

Con đường khoa cử và làm quan

Thuở nhỏ ông được cha dạy dỗ tại nhà, đến 17 tuổi ông theo học thầy Nguyễn Bá Trữ – một danh sĩ nổi tiếng đương thời. Năm 19 tuổi (1762), ông đi thi và đỗ ngay kỳ thi Hương, trở thành hương cống. Tuy nhiên, năm sau (1763) ông lại trượt kỳ thi Hội. Không nản chí, ông tiếp tục theo học bảng nhãn Lê Quý Đôn tại kinh thành. Nhưng càng học, ông càng cảm thấy thất vọng trước cảnh xã hội rối ren, quan trường nhiều điều trái ý, nên dần mất hứng thú với con đường khoa bảng.

Dù vậy, vì muốn làm tròn chữ hiếu với cha mãi đến năm 25 tuổi (1770) ông mới lại dự thi. Lần này, ông đỗ cả thi Hội lẫn thi Đình, được xếp vào hàng Hoàng giáp.

Sau khi đỗ đạt, ông được bổ nhiệm vào Hàn lâm viện với chức Hiệu lý, rồi nhanh chóng thăng lên chức Thị chế vào năm 1771. Không lâu sau, ông tiếp tục giữ thêm chức Thiêm sai phủ liêu Tri hộ phiên và kiêm Đông các Hiệu thư.

Năm 1777, ông được cử làm Đốc đồng Nghệ An và được giao nhiệm vụ vào Thuận Hóa để tuyên dụ. Trong thời gian này, ông lập công lớn khi giúp dẹp yên giặc Mường Thai ở vùng tây Nghệ An. Nhờ chiến công đó, năm 1780 ông được thăng làm Hiệp trấn Nghệ An, đồng thời kiêm luôn chức Tham chính.

Đến năm Tân Sửu (1781), chúa Trịnh Sâm triệu ông về kinh và trao chức Nhập thị Bồi tụng, chỉ sau Tham tụng. Nhưng ông nhất quyết dâng sớ xin từ chức, viện cớ bệnh tật. Dù khi ấy ông mới 38 tuổi và lại có họ hàng với chúa Trịnh, nhưng ông vốn không muốn dính dáng sâu vào quyền lực và cũng không muốn gần gũi Trịnh Sâm.

Ông từng can ngăn Trịnh Sâm trong việc phế trưởng lập thứ: chúa muốn bỏ Trịnh Tông để lập Trịnh Cán (con nhỏ của Tuyên phi Đặng Thị Huệ). Mặc dù can gián không thành, nhưng ông là một trong số ít người dám nói thẳng điều đúng đắn. Việc Trịnh Sâm vẫn lập Trịnh Cán sau đó đã tạo nên sự rối loạn trong triều.

Khi Trịnh Tông lật đổ Trịnh Cán rồi lên nắm quyền, ông bãi chức Tham tụng của Phan Lê Phiên (vốn thuộc phe Đặng Thị Huệ) và mời ông Bùi Huy Bích ra làm Hành Tham tụng, mong ông giúp ổn định tình hình loạn kiêu binh. Nhưng vì nhiều nghi kỵ trong triều, ông xin lui về Bích Câu (Hà Nội) để dưỡng bệnh, tránh xa sóng gió chính trường.

Năm 1786, quân Tây Sơn kéo ra Bắc với khẩu hiệu “Phù Lê diệt Trịnh”. Trịnh Tông buộc ông ra trận, giao chức đốc chiến. Ông dự định đến đò Thuý Ái để phối hợp cùng Hoàng Phùng Cơ chỉ huy thủy quân, nhưng khi chưa kịp tới nơi thì quân Phùng Cơ đã tan vỡ. Quân Tây Sơn tiến thần tốc vào Thăng Long, quân Trịnh thất bại.

Không lâu sau vua Lê Hiển Tông mất, Lê Chiêu Thống lên thay. Nguyễn Huệ rút quân về Nam, còn Chiêu Thống thì mời ông trở lại giúp triều đình, song ông xin từ chối và về quê. Năm 1789, Nguyễn Huệ lên ngôi và đánh tan quân Thanh, sau đó mời ông cộng tác. Nhưng ông từ chối, giữ lập trường đứng ngoài cuộc tranh quyền. Đến khi vua Gia Long thống nhất đất nước vẫn có lời mời ông làm quan, dù vẫn được trọng đãi, ông vẫn xin sống yên ổn, không tham gia triều chính nữa. Ông qua đời ngày 25 tháng 5 năm 1818, hưởng thọ 75 tuổi, để lại hình ảnh của một bậc sĩ phu thanh liêm, trọng nghĩa khinh quyền, luôn giữ khí tiết và sự độc lập trong tư tưởng.

Thơ văn

Tác phẩm của ông có các tập Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Thoái Hiên thi tập gồm nhiều bài phản ánh tình hình nhân dân đói khổ vì thiên tai, thuế khoá, binh dịch; nhiều bài tả cảnh đẹp thiên nhiên nơi Bùi Huy Bích làm quan hoặc ở quê hương. Thời Tây Sơn, Bùi Huy Bích ẩn náu ở Sơn Tây và viết cuốn Lữ trung tạp thuyết (1789) chép tản mạn những suy nghĩ về triết học, văn học, lịch sử, giống như một cuốn tuỳ bút. Bùi Huy Bích còn soạn bộ Hoàng Việt thi tuyển, chọn thơ các đời cho đến đời Cảnh Hưng (cuối Lê), trong đó có phụ thêm thơ của ông; bộ Hoàng Việt văn tuyển gồm phú, ký, minh, văn tế, chiếu, chế, sách, biểu, công văn, sắp xếp theo thể loại

Vinh danh

Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, tên của Bùi Huy Bích được chính quyền Hà Nội đặt cho phố Sinh Từ (thời Pháp thuộc). Đến thời tạm chiếm, phố Bùi Huy Bích trở lại tên cũ là phố Sinh Từ, và đến năm 1964, phố Sinh từ lại được đổi thành phố Nguyễn Khuyến.

Năm 2012 Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội đặt tên đường Bùi Huy Bích cho con đường từ đường vành đai 3 rẽ vào khu tái định cư X1 Pháp Vân thuộc phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai. Trung tâm hành chính quận Hoàng Mai nằm trên con đường này.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Bui Huy Bich (1744–1818)

Biography

Bui Huy Bich, courtesy name Hy Chuong 熙章, also known by the literary names Ton Am and Ton Ong, was a renowned scholar of Hanoi. He was not only a learned intellectual but also an influential figure in the academic and political life of his time.

He was born on October 3, 1744, in Dinh Cong village, Dinh Cong commune, Thanh Tri district—now part of Dinh Cong Street, Dinh Cong Ward, Hanoi. His family belonged to a distinguished scholarly and official lineage: he was the fifth-generation descendant of Marquis Tien Binh Cong Bui Binh Uyen and the seventh-generation descendant of Marquis Quang Cong Bui Xuong Trach. His father, Bui Dung Tan, styled Truc Vien cu si, was a private tutor.

His family had three children: an elder sister, himself, and a younger brother. When he was five, his mother passed away. After this loss, his father took the three children to Hai Duong, settling in An Lau village of Thanh Mien district, where Truc Vien continued teaching.

In his youth, Ton Am was physically frail and often ill, appearing somewhat slow. Contrary to his appearance, he was quick-witted and remarkably intelligent. He learned rapidly, remembered well, and showed early perceptiveness about the world around him—traits foreshadowing the great scholar he would become.

Academic Path and Official Career

His father educated him at home until age 17, when he studied under Nguyen Ba Tru, a famed scholar. At 19 (1762), he passed the regional exam and became a huong cong. However, the following year (1763), he failed the metropolitan exam. Undeterred, he continued his studies under the eminent scholar Le Quy Don in the capital. Yet the more he witnessed the disorder and corruption of the bureaucracy, the more disillusioned he became with the examination path.

Nevertheless, wishing to fulfill filial duty, he sat the exams again at age 25 (1770). This time, he passed both the metropolitan exam and the palace exam, earning the rank of Hoang giap.

Afterward, he was appointed to the Han lam Academy as Hieu ly and quickly promoted to Thi che in 1771. Soon he also assumed the positions of Thiem sai phu lieu Tri ho phien and concurrently Dong cac Hieu thu.

In 1777, he was appointed Doc dong of Nghe An and dispatched to Thuan Hoa to issue royal proclamations. During this time, he achieved significant merit by helping suppress the Muong Thai uprising in western Nghe An. In recognition, he was promoted in 1780 to Hiep tran Nghe An while concurrently serving as Tham chinh.

In the year Tan Suu (1781), Lord Trinh Sam summoned him to the capital and appointed him Nhat thi Boi tung—just below the post of Tham tung. However, he firmly submitted a memorial requesting resignation, citing illness. Despite being only 38 and related to the Trinh family, he wished to avoid entanglement in high political power and distance himself from Trinh Sam.

He once advised Trinh Sam against deposing the elder heir Trinh Tong in favor of Trinh Can, the young son of Lady Dang Thi Hue. Although his remonstrations failed, he was among the few who dared speak the truth. The subsequent enthronement of Trinh Can caused turmoil in the government.

When Trinh Tong overthrew Trinh Can and seized power, he dismissed Tham tung Phan Le Phien (associated with Dang Thi Hue’s faction) and invited Bui Huy Bich to serve as Hanh Tham tung, hoping he could help stabilize the chaos caused by the Kiêu binh soldiers. Due to growing suspicions in the court, Bich requested leave and retired to Bich Cau (Hanoi) to recover, distancing himself from political storms.

In 1786, Tay Son forces marched north under the banner “Support the Le, destroy the Trinh.” Trinh Tong compelled him to take command as doc chien. He planned to reach Thuy Ai ferry to join Hoang Phung Co in directing the navy, but before he arrived, Phung Co’s forces collapsed. The Tay Son swiftly entered Thang Long, and the Trinh army was defeated.

Soon after, King Le Hien Tong died and was succeeded by Le Chieu Thong. Nguyen Hue withdrew south, while Chieu Thong invited Bich back to court, though he declined and returned home. In 1789, Nguyen Hue ascended the throne and defeated the Qing invasion, then sought Bich’s cooperation. He refused, maintaining a stance of independence from political struggles.

Even after Emperor Gia Long unified the country and extended an invitation to serve, Bich—though treated with respect—chose a quiet life, not returning to officialdom. He passed away on May 25, 1818, at the age of 75, leaving the legacy of an upright scholar who valued integrity above power and held fiercely to intellectual independence.

Literary Works

His works include Bich Cau thi tap, Nghe An thi tap, and Thoai Hien thi tap, many of which depict the people’s suffering from famine, taxation, and conscription; others describe the natural scenery of places where he served or of his homeland.

During the Tay Son period, Bui Huy Bich took refuge in Son Tay and wrote Lu trung tap thuyet (1789), an eclectic collection of reflections on philosophy, literature, and history, akin to a literary miscellany. He also compiled Hoang Viet thi tuyen, an anthology selecting poems up to the Canh Hung era (late Le dynasty), including some of his own; and Hoang Viet van tuyen, an anthology of prose forms such as phu, ky, minh, van te, chieu, che, sach, bieu, and official documents, arranged by genre.

Honors

After the August Revolution of 1945, the Hanoi authorities named Sinh Tu Street (from the French colonial period) after Bui Huy Bich. During the period of temporary occupation, the street reverted to its old name Sinh Tu, and in 1964, Sinh Tu Street was renamed Nguyen Khuyen Street.

In 2012, the Hanoi People’s Council named Bui Huy Bich Street after him—a road branching from Ring Road No. 3 into the X1 Phap Van resettlement area in Hoang Liet Ward, Hoang Mai District. The district’s administrative center is located on this street.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Bui Huy Bich (1744–1818)

Biographie

Bui Huy Bich, dont le nom de courtoisie est Hy Chuong 熙章 et les pseudonymes Ton Am et Ton Ong, fut un lettré éminent de Hanoi. Il n’était pas seulement connu comme un érudit d’une vaste culture, mais également comme une figure influente dans la vie académique et politique de son époque.

Il naquit le 3 octobre 1744 au village de Dinh Cong, district de Thanh Tri – aujourd’hui situé dans le quartier Dinh Cong, arrondissement de Hoang Mai, Hanoi. Sa famille appartenait à une grande lignée de mandarins : il était le descendant de la cinquième génération de Tien Quan cong Bui Binh Uyen et de la septième génération de Quang Quan cong Bui Xuong Trach. Son père, Bui Dung Tan, surnommé Truc Vien cu si, enseignait à domicile.

Dans la famille de Bui Huy Bich, il y avait trois enfants : une sœur aînée, lui-même, puis un frère cadet. Sa mère mourut lorsqu’il avait cinq ans. Après ce deuil, son père emmena les trois enfants à Hai Duong, au village d’An Lau (district de Thanh Mien), où Truc Vien poursuivit son activité d’enseignement.

Durant son enfance, Ton Am était d’une santé fragile et souvent malade ; son allure semblait lente et peu vigoureuse. Pourtant, derrière cette apparence se cachait un esprit vif et particulièrement intelligent. Il apprenait rapidement, retenait facilement et montra très tôt une compréhension profonde de la vie autour de lui – des signes annonciateurs d’un futur grand érudit.

Carrière académique et mandarine

Éduqué par son père dès son jeune âge, il étudia ensuite auprès du maître Nguyen Ba Tru, un lettré renommé. À 19 ans (1762), il réussit l’examen Huong et devint huong cong. Cependant, l’année suivante (1763), il échoua à l’examen Hoi. Sans se décourager, il poursuivit ses études auprès du bang nhan Le Quy Don dans la capitale. Plus il étudiait, plus il se sentait désillusionné par l’état chaotique de la société et les intrigues du mandarinat, ce qui finit par réduire son enthousiasme pour la carrière des concours.

Par piété filiale, il décida néanmoins de se représenter aux examens à 25 ans (1770). Cette fois, il réussit à la fois l’examen Hoi et l’examen Dinh, accédant ainsi au rang de Hoang giap.

Après sa réussite, il fut nommé à l’Académie Han lam en tant que Hieu ly, puis promu rapidement au poste de Thi che en 1771. Peu après, il occupa également les fonctions de Thiem sai phu lieu Tri ho phien et d’Est-scriptorat (Dong cac Hieu thu).

En 1777, il fut envoyé comme Doc dong à Nghe An et chargé d’une mission à Thuan Hoa. Durant cette période, il accomplit un fait d’armes important en contribuant à apaiser la révolte des Mường Thai dans l’ouest de Nghe An. Pour cette réussite, il fut promu en 1780 au poste de Hiep tran de Nghe An et nommé simultanément Tham chinh.

En 1781 (année Tan Suu), le seigneur Trinh Sam le rappela à la cour pour lui confier le poste de Nhap thi Boi tung, immédiatement inférieur au rang de Tham tung. Mais Bui Huy Bich présenta une requête de démission, invoquant la maladie. Bien qu’il n’eût que 38 ans et fût parent du seigneur Trinh, il cherchait à rester à distance des sphères du pouvoir.

Il avait auparavant tenté de dissuader Trinh Sam dans son intention de destituer l’héritier Trinh Tong pour établir son fils cadet Trinh Can, issu de Tuyen phi Dang Thi Hue. Son conseil ne fut pas suivi, et cette décision plongea la cour dans le désordre.

Lorsque Trinh Tong renversa Trinh Can et prit le pouvoir, il destitua le Tham tung Phan Le Phien (du clan de Dang Thi Hue) et invita Bui Huy Bich à revenir occuper le poste d’Hanh Tham tung afin de rétablir l’ordre dans la crise des soldats rebelles. Mais, en raison de nombreuses suspicions au sein de la cour, il se retira à Bich Cau (Hanoi) pour soigner sa santé et éviter les tumultes politiques.

En 1786, les troupes Tay Son marchèrent vers le Nord sous la bannière « Phu Le diet Trinh ». Trinh Tong força Bui Huy Bich à se joindre à la défense et lui confia un commandement militaire. Il se rendit au passage de Thuy Ai pour coordonner les forces navales avec Hoang Phung Co, mais avant son arrivée, les troupes de celui-ci s’étaient déjà effondrées. L’armée Tay Son entra rapidement à Thang Long, provoquant la chute du pouvoir Trinh.

Après la mort du roi Le Hien Tong, Le Chieu Thong monta sur le trône. Nguyen Hue se retira au Sud, tandis que Chieu Thong invita de nouveau Bich à servir la cour ; celui-ci refusa et retourna chez lui. En 1789, Nguyen Hue devint empereur et repoussa les Qing, puis tenta à son tour de le recruter. Il refusa encore, préférant rester extérieur aux luttes de pouvoir. Même lorsque Gia Long unifia le pays et l’invita à rejoindre son administration, il choisit de vivre paisiblement, honoré mais indépendant. Il mourut le 25 mai 1818, à l’âge de 75 ans, laissant l’image d’un lettré intègre, attaché à la droiture et à l’indépendance morale.

Œuvres

Ses œuvres comprennent les recueils Bich Cau thi tap, Nghe An thi tap, Thoai Hien thi tap, qui contiennent des poèmes décrivant les souffrances du peuple dues aux calamités naturelles, aux taxes et aux corvées militaires, ainsi que des poèmes évoquant les paysages des lieux où il servit ou de sa région natale.

Durant la période des Tay Son, il se retira à Son Tay et rédigea Lu trung tap thuyet (1789), un recueil de réflexions sur la philosophie, la littérature et l’histoire, proche d’un livre d’essais. Il compila également le Hoang Viet thi tuyen, une anthologie de poèmes jusqu’à l’ère Canh Hung (fin des Le), où il ajouta aussi certains de ses propres poèmes ; ainsi que le Hoang Viet van tuyen, une anthologie de phu, ky, minh, van te, chieu, che, sach, bieu, et divers documents administratifs, classés par genre.

Hommages

Après la Révolution d’Août 1945, son nom fut attribué à la rue Sinh Tu par les autorités de Hanoi. Durant la période de l’administration provisoire, la rue retrouva son ancien nom, avant d’être renommée rue Nguyen Khuyen en 1964.

En 2012, le Conseil populaire de Hanoi donna son nom, Bui Huy Bich, à une voie reliant la route périphérique n°3 au quartier de réinstallation X1 Phap Van, dans l’arrondissement de Hoang Mai. Le centre administratif de cet arrondissement se trouve sur cette rue.

Références

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

裴輝璧 (Bui Huy Bich, 1744–1818)

生平

裴輝璧,字熙章,號存庵、存翁,是河內著名的士大夫。他不僅以學識淵博聞名,亦在當時的學術與政治生活中具有深遠影響。

他於1744年10月3日出生於清池縣定公社定公村(今河內市定公坊定公街)。其家族屬於大族,世代仕宦:他是先郡公裴秉淵的第五世孫,也是廣郡公裴昌澤的第七世孫。其父裴用新,號竹園居士,在家授徒。

裴輝璧家中三兄妹:一姊、其本人与一弟。五歲時母親過世。此後,其父攜三子女遷往海陽省清勉縣安樓村,並在此地繼續從教。

童年時期,存庵公體弱多病,外表顯得遲鈍,但內心卻機敏聰穎。他不但學習迅速、記憶力強,亦早早展露對世事的理解,顯示未來大儒的資質。

科舉與仕途

幼年由父親授業,17歲時從名士阮伯儲(Nguyen Ba Tru)學習。19歲(1762)參加鄉試並及第,成為「鄉貢」。然而翌年(1763)會試落榜。他不氣餒,入京師從榜眼黎貴惇(Le Quy Don)學習。但隨著眼見社會紊亂、官場失序,他逐漸對科舉失去興趣。

然而為盡孝道,他於25歲(1770)再度應試,此次會試與殿試皆中,入選為「皇甲」。

及第後,他被授職翰林院校理,不久於1771年升為侍制,旋又兼任添差府僚知戶藩及東閣校書。

1777年,他被派任乂安監同,並受命赴順化宣諭。在此期間,他協助平定乂安西部的蒙泰叛亂,立下功績。因而於1780年升任乂安協鎮,並兼任參政。

至辛丑年(1781),鄭森召他入京,授以入侍裨諌,僅次於參諌。然而他以病為由力請辭職。當時他年僅38歲,且與鄭氏有宗親關係,但他本不願深涉權力,也不想接近鄭森。

他曾勸阻鄭森廢長立幼——鄭森欲廢鄭宗而立宣妃鄧氏蕙之幼子鄭簡。雖然諫言未能成功,但他是少數敢說真話者。後來鄭森仍立鄭簡,造成朝局混亂。

鄭宗推翻鄭簡掌權後,罷免屬鄧氏蕙一派的范黎番參諌,並邀裴輝璧出任行參諌,希望他協助整頓驕兵之亂。然而因朝中疑忌叢生,他請退返河內碧蒼休養,遠離政爭。

1786年,西山軍以「扶黎滅鄭」之名北上。鄭宗強迫他出陣,授以督戰官。他計劃至翠靄渡與黃馮居會師統領水軍,未及抵達,馮居軍已潰。西山軍長驅入升龍,鄭氏軍大敗。

不久後黎顯宗逝世,黎昭統繼位。阮惠南歸後,昭統欲聘他入仕,但他辭而歸里。1789年阮惠登極擊退清軍,亦延請他任職,但他再度推辭,保持超然立場。嘉隆帝統一全國後亦邀他出仕,仍被優禮對待,但他堅持隱居,不再參與朝政。

1818年5月25日,他逝世,享年75歲,留下一位廉潔士大夫的形象:重義輕權,剛正自守,獨立於世事紛擾之外。

詩文

其著作包括《碧蒼詩集》《乂安詩集》《退軒詩集》,內容多反映百姓受天災、賦稅、兵役所苦,亦有描寫仕任之地與故鄉自然景色的作品。

西山時期,他隱居山西並撰《旅中雜說》(1789),記錄其對哲學、文學、歷史的隨筆思考。

此外,他還編纂《皇越詩選》,收錄自諸朝至景興年間(後黎)之詩作,亦附上部分自己的作品;又編《皇越文選》,收錄賦、記、銘、祭文、詔、制、策、表與公文等,按文體分類。

榮譽與紀念

八月革命後,河內政府以他的名字命名原法屬時期的「生祠街」。臨時占領時期,街名改回「生祠街」,至1964年又更名為「阮攸街」。

2012年,河內市人民議會將環城三號路通往法雲X1安置區的一段道路命名為「裴輝璧路」。黃梅郡行政中心亦位於此路上。

參考資料

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (28)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)