Cao Xuân Huy (1900 – 1983)

Cao Xuân Huy (1900 – 1983)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Tôi yêu nghề dạy học vì đây là một nghề mà càng cho đi bao nhiêu lại càng được bấy nhiêu. Giáo dục là một nghề thật đáng tự hào, vì nói như Mạnh Tử, đó là cái nghề mà ông thầy đã được dạy dỗ những anh tài trong xã hội.

Đây là lời phát biểu của giáo sư Cao Xuân Huy vào năm 1970, khi Viện Văn học tổ chức lễ họp mặt mừng thọ thầy 70 xuân đồng thời kỷ niệm 50 năm thầy gắn bó với nghề dạy học.

Xuất thân và tuổi thơ

Thầy sinh ngày 28/5/1900 tại làng Thịnh Mỹ, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu (Nghệ An). Tuổi ấu thơ của thầy đã trải qua những năm tháng không êm đềm, dù được sinh ra trong một gia đình quý tộc thời bấy giờ. Trong bài văn tế bà nội của thầy Cao Xuân Huy, nhà thơ Cao Ngọc Anh – cô ruột của thầy – còn ghi lại:

Này phú, này quý, này thọ, này khang, này ninh, ở hậu trời cho đủ phúc

Thiếu gì võng, thiếu gì dù, thiếu gì của tía lầu son, nền chung đỉnh nên ngôi mạng phụ.

Ông nội của thầy là cụ Cao Xuân Dục (1842-1923) làm đến Thượng thư Bộ Học, Tổng tài Quốc sử quán triều Nguyễn. Ngoài việc xây dựng cho Quốc sử quán một thư viện đồ sộ để bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa của dân tộc, cụ còn lập thư viện gia đình – có tên là thư viện Long Cương. Hễ có được tư liệu, sách vở gì quý thì cụ nhân ra làm nhiều bản để con cháu có thể giữ đọc. Có thể nói thư viện Long Cương thuộc loại lớn nhất nhì trong cả nước. Sau này, con trai của cụ là Cao Xuân Tiếu (1865-1939) cũng làm đến chức Thượng thư kiêm Hiệp biện đại học sĩ – nối nghiệp cha làm Tổng tài Quốc sử quán. Nhờ có một rừng sách mênh mông như thế nên những lúc bị hất hủi, thầy Cao Xuân Huy đã tìm vào đó để đọc sách và chiêm nghiệm mọi lẽ trên đời.

Vợ lẽ của ông Cao Xuân Tiếu là bà Nguyễn Thị Ân sinh ra thầy Cao Xuân Huy. Nhưng vì bà vợ cả cay nghiệt nên “kẻ đắp chăn bông, kẻ lạnh lùng”, bà Ân đành bỏ con lại để quay về sống với cha mẹ đẻ. Xa mẹ và sống trong cô quạnh, thầy Huy chỉ còn tìm thú vui trong rừng sách Long Cương và được ông nội dìu dắt, dạy dỗ.

Con đường học tập

Năm 1915, thầy cùng với người bạn đồng hương là Phạm Thiều vác lều chõng vào trường thi xứ Nghệ để dự khoa thi Hương. Cả hai đều xem đây là lần thi thử đầu tiên để kiểm tra lại sức học của mình. Ba năm sau, họ lại vào Huế để dự khoa thi Mậu Ngọ – nhưng đi nửa đường thì phải quay về vì đây là khoa thi chữ Hán cuối cùng trong nền giáo dục của nước ta. Rất thức thời, thầy Cao Xuân Huy quay ra học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Những môn sinh của cửa Khổng sân Trình như Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Tôn Quang Phiệt, Đặng Thai Mai… với vốn Hán học uyên thâm đều thi đậu vào trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương.

Sự nghiệp giảng dạy 

Trước Cách mạng tháng Tám 

Năm 1925 sau khi tốt nghiệp, thầy được bổ về dạy học ở trường Quốc học Huế. Thời gian đi dạy về, thầy thường ngồi lại bên quán nước của bà Huệ – có cô con gái xinh đẹp là Tôn Nữ Thị Cơ – để thưởng thức trà ngon. Và tình yêu đã đến với họ từ lúc nào không biết. Hay tin này gia đình thầy phản đối vì không môn đăng hộ đối. Sự ngăn cấm không chia rẽ được tình yêu đôi lứa đang nồng thắm.

Dù đi dạy, nhưng tình hình chính trị lúc bấy giờ vẫn là mối quan tâm của thầy. Năm này, thực dân Pháp bắt cụ Phan Bội Châu rồi đem an trí ở Huế. Cũng như nhiều trí thức khác, thầy đã gia nhập Đảng cách mạng Tân Việt. Qua năm sau, đảng này bị Pháp khủng bố vì thiếu kinh nghiệm trong hoạt động chính trị, thầy bị bắt đày đi Lao Bảo. Trong lúc gia đình bỏ rơi thầy, thì cô Tôn Nữ Thị Cơ chăm sóc, tiếp tế cho thầy. Vì lẽ đó, sau khi ra tù, thầy về sống với người mình yêu, bất chấp sự ngăn cản của gia đình không cho kết hôn.

Dĩ nhiên với những hoạt động chính trị thì thầy đã bị cách chức giáo học, không được đi dạy nữa. Thầy làm công nhân ở nhà in Đắc Lập (Huế). Không đủ sống, vài năm sau thầy đưa gia đình vào Biên Hòa, rồi tiếp tục vào Sài Gòn để tìm trường dạy tư nhưng cuộc sống vẫn không ổn định. Thầy lại quay trở ra Huế dạy trường tư thục Hồ Đắc Hàm. Quan hệ vợ chồng thầy bắt đầu rạn vỡ, cuối cùng phải chia tay nhau.

Sau Cách mạng tháng Tám

Cách mạng tháng Tám đã đến, thay đổi số phận của cả một dân tộc bị nô lệ ngót một trăm năm. Thầy được Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra Hà Nội giảng dạy môn triết học Đông phương tại trường Đại học Việt Nam đầu tiên vừa ra đời. Trường chỉ hoạt động ba tháng, vì Pháp gây hấn nên phải đóng cửa vào cuối tháng 2/1946.

Thầy về Diễn Châu (Nghệ An). Lúc này trường huyện cấp trung học đặt tên nhân vật lẫy lừng của phong trào Cần Vương là Nguyễn Xuân Ôn vừa mới mở, thầy được mời làm Hiệu trưởng của trường. Có thể nói, đây là những tháng năm hào hứng của thầy, ngoài việc lãnh đạo trường, thầy còn tham gia hoạt động văn hóa và khoa học tại vùng tự do liên khu IV.

Năm 1949, lớp Đại học văn khoa đầu tiên tại liên khu IV được thành lập, thầy Cao Xuân Huy cùng với thầy Đặng Thái Mai được cử phụ trách. Đặc biệt lớp chỉ có 7 người – mà sau này trở thành những tên tuổi nổi tiếng có nhiều đóng góp cho văn học nước nhà là Đặng Thị Hạnh, Nguyễn Tài Cẩn, Tôn Gia Ngân, Nguyễn Đức Nam… Thầy Cao Xuân Huy được phân công giảng dạy môn triết học phương Đông và Trung Hoa cổ đại.

Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, thầy làm nhiều công tác, năm 1951 được chuyển sang làm giáo sư trường dự bị đại học Việt Nam tại Thanh Hóa, rồi từ năm 1954 được điều về Hà Nội giảng dạy ở lớp đại học Văn khoa và lớp đại học Sư phạm văn khoa.

Phong cách giảng dạy

Dù ở giai đoạn nào, công việc giảng dạy của thầy vẫn tạo cho nhiều thế hệ học trò những ấn tượng khó quên. GS Nguyễn Huệ Chi – học viên của lớp Hán học do Viện văn học quản lý từ năm 1965 đã nhớ lại hình ảnh người thầy:

Đó là một con người không thể nói gì hơn ngoài mấy chữ: tận tụy với công việc của người thầy. Một người hình như sinh ra để đào tạo, vun xới, bồi đắp cho người khác, và chỉ hoàn toàn mãn nguyện khi truyền hết được mọi cái hay, cái sâu sắc thâm thúy cho người. Mà cái hay, cái sâu sắc trong những điều trầm ngâm suy nghĩ ngày đêm của ông thì nhiều làm sao! Và cũng thật khó dò đoán trước. Những bài giảng được ông ghi lên giấy, in và phát trước cho sinh viên thực tế chỉ mới là những bản đề cương sơ lược, còn nội dung của chúng thì vẫn còn chứa đầy trong trí óc ông. Chỉ khi đứng trên bục giảng, trực tiếp cật vấn, đối thoại với học trò, những tri thức đang nén chặt kia mới vụt trào ra, lấp kín mọi khoảng trống của câu và chữ, khiến ta lắng nghe không kịp thở, hoặc có khi chúng đột ngột lóe lên như những tia chớp, rọi vào ta, là sáng bừng trong ta những ý tưởng mới mẻ, thậm chí đưa ta đến trạng thái lâng lâng xuất thần. Và cứ thử nghĩ, trong năm mươi năm trời dạy học, bao nhiêu thế hệ học trò lớn nhỏ đã đi qua những bài giảng lớn nhỏ của ông, mấy ai mà không đôi lần cảm thấy sung sướng và bàng hoàng vì chợt nhận được ở nơi ông một ý kiến có giá trị chỉ dẫn, mở ra những vấn đề nghiên cứu đầy hứa hẹn?

Có lẽ cũng nên dẫn lại lòi của nhà nghiên cứu Đào Thái Tôn để chúng ta cùng hình dung ra thêm nghệ thuật giảng dạy của thầy:

Với những ai mới làm quen chữ Hán, thầy Cao Xuân Huy thường để ý đi sâu vào tự căn để giảng. Chẳng hạn khi giảng về chữ Tiết: “Tiết” là gì? Là cái đốt tre, cái mắt cây. Đó là bộ phận rắn nhất của thân cây. Vì thế, người ta lấy phẩm cách cứng rắn đó để chỉ phẩm cách con người, nên có chữ phẩm tiết, khí tiết. Còn thời tiết, “tiết” học là gì? ấy là nghĩa dấn thân. Trên lớp cứ đều đặn một giờ là nghỉ 10 phút. Mỗi năm có bốn mùa, cứ đều đặn ba tháng một, theo chu kỳ quay quả đất. Sự đều đặn đó chẳng khác gì sự đều đặn của khoảng cách đốt cây tre phân thành các giống. Thế còn trinh tiết là gì? Xưa, người con gái chưa đến tuổi đặt tên tự, chưa gả chồng thì được gọi là “trinh”. Những người con gái vì lý do nào đó mà không lấy chồng gọi là thủ trinh (tức là giữ mãi trạng thái chưa gả chồng) còn gọi là trinh nữ. Vậy thì trinh tiết nghĩa là cái tiết, cái phần cứng rắn, trong sạch nhất về phẩm cách của người con gái chưa chồng… Kỹ càng từng chữ như vậy, nên thầy Cao Xuân Huy không chịu nổi cách hiểu một câu văn ang áng, đại khái, lờ mờ.

Hoạt động nghiên cứu

Trong cuộc đời giảng dạy, thầy Cao Xuân Huy không viết nhiều. Hồi ký của học giả Đào Duy Anh có đoạn viết về việc ông từng “đối thoại với nhà đạo học hiện đại” Cao Xuân Huy, và thầy Cao Xuân Huy đã phát biểu:

Anh vẫn chê cái nhược điểm của tôi là chỉ hay suy nghĩ một mình mà không chịu viết ra cho người khác đọc. Đến nay trên cơ bản tôi thấy đã có thể viết ra những điều suy nghĩ của mình, vì đã kết cấu thành hệ thống rồi, nhưng trước khi viết ra giấy tôi muốn trao đổi với anh, anh có rảnh không?.

Vậy đó, mặc dù được người đời xưng tụng là nhà đạo học từ thập niên 40 của thế kỷ này, nhưng khi viết thành văn bản thầy vẫn hết sức cẩn trọng. Chỉ có thời gian năm 1959 khi qua làm chuyên gia Hán Nôm của Viện văn học thì thầy mới tham gia viết hiệu đính bản dịch Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Nguồn gốc các loài của Darwin, bản dịch Đông Chu liệt quốc của Phan Kế Bính, chủ trì việc tuyển dịch Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, dịch Trúc lâm tông chi nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm

Ngoài ra còn những bài giảng như Tình hình xã hội và tư tưởng Việt Nam dưới thời Tự Đức, Tư tưởng cải cách của Nguyễn Trường Tộ, Xã hội và tư tưởng cổ đại Trung Quốc, Cuộc diễn hóa lịch sử của Nho giáo, Khổng tử, Lão tử, v.v… cũng đều chưa in thành sách.

Đó chính là điều thiệt thòi cho thế hệ sau này khi muốn tìm hiểu về kiến thức uyên bác của nhà đạo học Cao Xuân Huy – một người mà học giả Đào Duy Anh nhận định:

Ngày trước ông là giáo sư Pháp văn song lại thông Phật học nhất là chuyên trị học thuyết Lão Trang.

học giả Đặng Thai Mai khẳng định:

Về Lão tử, ở nước ta chỉ có thầy Huy là người giảng được.

Ghi nhận và tưởng niệm

Nhờ những năm tháng tận tụy đóng góp trong sự nghiệp “trồng người”, GS Cao Xuân Huy đã được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1). Thầy mất ngày 22/10/1983 tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi thầy còn sống, học giả Đào Duy Anh từng tặng câu đối:

Bảy chục năm trong áng “Tiêu diêu”, cõi đạo tuy gần không vội tới;
Hai mươi kỷ chính trường “Thiên diễn”, lẽ đời rốt cuộc cố chờ xem.

Khi thầy mất đi, các thế hệ môn sinh đã tôn vinh: “Cao Xuân Huy rất xứng đáng được xếp trong danh sách Lịch đại danh sư của đất nước Việt Nam giàu truyền thống hiếu học” .

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Cao Xuân Huy

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)