Thân thế
Trịnh Hoài Đức còn có tên là An (安), tự Chỉ Sơn, hiệu Cấn Trai. Tổ tiên của ông vốn là người Phúc Kiến (Trung Quốc). Đến thời chúa Nguyễn Phúc Tần, gia đình ông di cư vào Đàng Trong, tức vùng lãnh thổ thuộc miền Trung và Nam của Việt Nam ngày nay. Ban đầu họ sinh sống tại Phú Xuân (Huế), sau đó chuyển vào vùng Trấn Biên, tức khu vực Biên Hòa ngày nay, để lập nghiệp.
Cha của ông tên là Khánh, xuất thân từ một gia đình có truyền thống khoa bảng và làm quan. Nhờ có học vấn và năng lực, ông được chúa Nguyễn Phúc Khoát thu dụng, giao giữ chức An Dương Cai thủ, sau đó tiếp tục được bổ nhiệm làm Chấp canh tam trường Cai đội, phụ trách công việc quân sự và tổ chức lực lượng canh phòng.
Năm lên mười tuổi, ông không may mất cha. Từ đó, ông theo mẹ vào sinh sống tại vùng Gia Định. Tại đây, ông theo học với thầy Võ Trường Toản ở làng Hòa Hưng (nay thuộc Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh). Trong số bạn học của ông lúc bấy giờ có Ngô Tùng Châu và Lê Quang Định, những người về sau đều trở thành công thần quan trọng của triều Nguyễn.
Về sau, khi quân Tây Sơn tiến vào vùng Nam Bộ, tình hình trở nên biến động và chiến sự lan rộng. Để tránh loạn lạc, ông đã cùng gia đình sang lánh nạn tại Chân Lạp (tức Campuchia ngày nay), tiếp tục cuộc sống lưu lạc cho đến khi tình hình trong nước dần ổn định trở lại.
Đi theo chúa Nguyễn Phúc Ánh
Năm Mậu Thân (1788), sau khi đánh chiếm lại được vùng Gia Định, chúa Nguyễn Phúc Ánh cho mở khoa thi nhằm tuyển chọn nhân tài ra giúp việc cho triều đình. Trong kỳ thi này, Trịnh Hoài Đức thi đỗ và được bổ nhiệm giữ chức Hàn lâm chế cáo, phụ trách việc soạn thảo các văn bản và chiếu lệnh của triều đình.
Đến năm Kỷ Dậu (1789), ông được cử giữ chức Tri huyện Tân Bình. Cùng thời gian đó, ông còn được giao kiêm nhiệm chức Điền Tuấn, phụ trách việc tổ chức khai khẩn ruộng đất và phát triển nông nghiệp tại vùng Gia Định. Theo sách Quốc triều sử toát yếu ghi chép rằng:
“Năm Kỷ Dậu (1789), tháng 6, triều đình đặt chức Điền Tuấn để trông coi việc cày cấy, làm ruộng. Khi ấy cử các quan Hàn lâm chế cáo như Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Châu, Hoàng Minh Khánh cùng một số người khác, tất cả gồm 12 người, kiêm nhiệm chức vụ này.” 1
Đến tháng 3 năm Quý Sửu (1793), ông được bổ nhiệm làm Đông Cung Thị Giảng, giữ nhiệm vụ giảng dạy và phụ tá cho Đông Cung Cảnh (tức Nguyễn Phúc Cảnh). Cũng trong năm đó, vào tháng 11, ông được cử theo Đông Cung ra trấn giữ thành Diên Khánh, một vị trí quân sự quan trọng ở miền Trung.
Sang năm Giáp Dần (1794), Trịnh Hoài Đức được thăng chức Ký lục trấn Định Tường, sau đó tiếp tục được bổ nhiệm làm Hộ bộ Hữu Tham tri, tham gia quản lý các công việc liên quan đến tài chính và hộ tịch của triều đình.
Đến năm Tân Dậu (1801), khi chúa Nguyễn Phúc Ánh đem quân tiến ra đánh chiếm Phú Xuân, Trịnh Hoài Đức được giao phụ trách việc thu hoạch lương thực tại các vùng Quảng Nam và Quảng Ngãi để cung cấp lương thảo cho quân đội.
Làm quan thời Gia Long
Tháng 5 năm Nhâm Tuất (1802), sau khi thống nhất đất nước, chúa Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân, lấy niên hiệu Gia Long. Sau khi triều Nguyễn được thiết lập, Trịnh Hoài Đức được phong làm Thượng thư Bộ Hộ. Đồng thời, ông còn được cử làm Chánh sứ dẫn đầu sứ bộ sang nhà Thanh (Trung Quốc) để thực hiện nhiệm vụ ngoại giao.
Tham gia đoàn sứ bộ cùng ông có hai Phó sứ, gồm Ngô Nhân Tịnh – giữ chức Hữu Tham tri Bộ Binh, và Hoàng Ngọc Uẩn – giữ chức Hữu Tham tri Bộ Hình. Đây là một trong những hoạt động ngoại giao quan trọng của triều Nguyễn trong giai đoạn đầu mới thành lập.
Năm 1808, Trịnh Hoài Đức được bổ nhiệm làm Hiệp trấn Gia Định Thành, giữ vai trò phụ tá cho Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn trong việc quản lý và điều hành vùng đất quan trọng ở phương Nam. Đến năm 1812, ông được triệu về giữ chức Lễ bộ Thượng thư, đồng thời kiêm quản Khâm thiên giám, cơ quan phụ trách việc thiên văn, lịch pháp và dự đoán thời tiết cho triều đình. Một năm sau, vào năm 1813, ông lại được chuyển sang giữ chức Lại bộ Thượng thư, phụ trách công việc nhân sự và bổ nhiệm quan lại trong triều.
Đến năm 1816, Trịnh Hoài Đức được cử trở lại Gia Định Thành lần thứ hai với chức Hiệp Tổng trấn, tiếp tục giúp việc cho Tổng trấn Nguyễn Văn Nhơn. Khi Nguyễn Văn Nhơn được triệu về kinh, ông tạm thời giữ quyền Tổng trấn Gia Định vào khoảng năm 1820, đảm nhiệm việc quản lý toàn bộ vùng đất Nam Bộ trong thời gian chuyển giao.
Đầu năm Canh Thìn (1820), sau khi vua Minh Mạng lên nối ngôi, Trịnh Hoài Đức được triệu về kinh đô Huế. Nhà vua tiếp tục giao cho ông giữ chức Lại bộ Thượng thư như trước, đồng thời kiêm nhiệm Binh bộ Thượng thư. Ngoài ra, ông còn được bổ sung làm Phó Tổng tài Quốc sử quán và được thăng chức Hiệp biện Học sĩ, tham gia biên soạn và quản lý công việc sử học của triều đình. Do phải đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng cùng lúc, ông từng xin từ chối vài lần vì lo ngại không thể làm tròn trách nhiệm. Tuy nhiên, vì được vua Minh Mạng đặc biệt tin tưởng và ưu ái nên cuối cùng ông vẫn nhận lệnh thi hành.
Cũng trong tháng 5 năm 1820 (âm lịch), khi nhà vua ban chiếu tìm kiếm và sưu tập các sách vở cổ, Trịnh Hoài Đức đã dâng lên triều đình hai tác phẩm quan trọng. Một là Gia Định thành thông chí, bộ sách do chính ông biên soạn, ghi chép về địa lý, lịch sử, phong tục và tình hình vùng Gia Định; hai là Bột di ngư văn thảo, một tập sách của Mạc Thiên Tứ được ông sưu tầm và dâng nộp.
Đến tháng 9 năm Tân Tỵ (1821), khi vua Minh Mạng ngự giá ra Bắc, Trịnh Hoài Đức được đi theo hầu giá. Sau khi trở về kinh đô, ông lại dâng lên nhà vua hai tác phẩm khác là Lịch đại kỷ nguyên và Khang tế lục, đều là những công trình có giá trị về mặt học thuật và lịch sử.
Năm 1822, ông được triều đình giao nhiệm vụ làm Giám khảo trong kỳ thi ân khoa, một kỳ thi đặc biệt nhằm tuyển chọn nhân tài cho triều đình.
Đến năm 1823, do tuổi cao và sức khỏe suy yếu, ông dâng sớ xin từ quan để nghỉ dưỡng. Vua Minh Mạng không nỡ để ông rời chức nên sai đại thần Phạm Đăng Hưng đến thăm hỏi và khuyên ông ở lại phục vụ triều đình. Sau đó, nhà vua cho phép ông tạm nghỉ dưỡng trong ba tháng. Hết thời hạn nghỉ phép, ông trở lại Huế, và được vua ban 2.000 quan tiền cùng vật liệu để dựng nhà ở phía cửa Đông ngoài kinh thành.
Đến tháng 2 năm Ất Tỵ (1825), Trịnh Hoài Đức qua đời tại Huế vì bệnh, hưởng thọ 61 tuổi. Trước sự ra đi của một vị đại thần có nhiều đóng góp, vua Minh Mạng đã bãi triều ba ngày để tỏ lòng thương tiếc, đồng thời truy tặng ông tước hiệu Thiếu bảo Cần chánh điện Đại học sĩ, ban thụy hiệu Văn Khắc. Nhà vua còn sai Hoàng tử Miên Hoằng hộ tống linh cữu của ông đưa về Gia Định để an táng.
Khi linh cữu được đưa về đến nơi, Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã đích thân đến phúng viếng và tiễn đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng tại làng Bình Trước (nay thuộc phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai). Đây là sự ghi nhận đối với công lao và uy tín của Trịnh Hoài Đức trong lịch sử vùng đất Nam Bộ.
Tác phẩm
Tác phẩm bằng chữ Hán của Trịnh Hoài Đức có:
Cấn Trai thi tập: gồm 3 tập: Thối thực truy biên tập, Quan quang tập, Khả dĩ tập. Là những bài thơ làm từ năm 1783 đến năm 1819, được khắc in năm 1819.
Bắc sứ thi tập: gồm những bài thơ làm khi đi sứ sang nhà Thanh.
Gia Định tam gia thi tập: tức tập thơ của tam gia Gia Định, là: Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định.
Đi sứ cảm tác: là tập gồm 18 bài viết theo kiểu liên hoàn chữ Nôm.
Lịch đại kỷ nguyên
Khang tế lục
Gia Định thành thông chí: gồm 6 quyển, viết bằng chữ Hán, không có lời tựa, nên không biết tác giả biên soạn vào năm nào và trong hoàn cảnh nào. Chỉ biết là sách hoàn thành trong đời Gia Long, cho nên ngay khi vua Minh Mạng xuống chiếu cầu sách cũ (1820), ông đã đem dâng lên. Nội dung bộ sách ghi chép khá đầy đủ về núi sông, cửa biển, phong tục, sản vật, con người ở Gia Định (Nam Bộ ngày nay),… Đây là một công trình được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao, và đã được dịch ra tiếng Pháp từ cuối thế kỷ 19.
Lăng mộ
Khu mộ Trịnh Hoài Đức ngày nay nằm ở KP.3, phường Trung Dũng, TP.Biên Hòa. Căn cứ vào nội dung bia đá trong khu mộ cho thấy mộ của ông được xây dựng cùng với năm mất. Đặc biệt, lăng mộ Trịnh Hoài Đức là một quần thể rộng, gồm mộ của ông cùng với thê thiếp, các con cháu trong dòng tộc. Từ những năm 80 của thế kỷ 20 trở đi, có một giai đoạn quần thể mộ Trịnh Hoài Đức bị người dân địa phương lấn chiếm, thậm chí đập phá những ngôi mộ ở phía ngoài để xây dựng nhà cửa. Từ khi lăng mộ Trịnh Hoài Đức được Bộ Văn hóa – thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 1990, chính quyền địa phương có các biện pháp bảo vệ nên di tích không còn bị lấn chiếm, xâm phạm, nhưng cũng đã bị thu hẹp rất nhiều so với nguyên trạng. Hiện nay phần chính của khu mộ được giữ gìn, bảo vệ chỉ còn có mộ song táng của Trịnh Hoài Đức (gọi là mộ Ông) và phu nhân Lê Thị (mộ Bà).
Chú thích
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2002, tr. 87
Tài liệu tham khảo
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2002.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2001.
- Triêu Dương, mục từ “Trịnh Hoài Đức” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.
- Bùi Văn Vượng, “Trịnh Hoài Đức và Gia Định thành thông chí”, bài viết in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2012.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Trinh Hoai Duc (1765–1825)
Background
Trinh Hoai Duc, whose given name was An, style name Chi Son, and literary name Can Trai, was descended from a family originally from Fujian, China. During the reign of Lord Nguyen Phuc Tan, his family migrated to Dang Trong, the southern realm of Vietnam at that time, corresponding roughly to present-day Central and Southern Vietnam.
Initially, the family settled in Phu Xuan (Hue). Later they moved south to the region of Tran Bien, corresponding to present-day Bien Hoa, where they established their livelihood.
His father, named Khanh, came from a family with a strong scholarly and official tradition. Owing to his education and abilities, he was recruited by Lord Nguyen Phuc Khoat and appointed to the post of An Duong Cai thu. He was later promoted to Chap canh tam truong Cai doi, responsible for military organization and the management of guard forces.
When Trinh Hoai Duc was ten years old, his father unfortunately passed away. From then on he followed his mother to live in the region of Gia Dinh. There he studied under the renowned teacher Vo Truong Toan in Hoa Hung village (today in District 10 of Ho Chi Minh City). Among his fellow students were Ngo Tung Chau and Le Quang Dinh, both of whom later became important meritorious officials of the Nguyen dynasty.
Later, when the forces of the Tay Son dynasty advanced into the southern region, the situation became unstable and warfare spread widely. To avoid the turmoil, he and his family sought refuge in Cambodia, where they continued living in exile until conditions in Vietnam gradually stabilized.
Service under Lord Nguyen Phuc Anh
In the year Mau Than (1788), after recapturing the Gia Dinh region, Lord Nguyen Phuc Anh held an examination to recruit talented individuals for government service. Trinh Hoai Duc passed this examination and was appointed Han Lam Che Cao, responsible for drafting imperial documents and proclamations.
In Ky Dau (1789) he was appointed District Magistrate of Tan Binh. At the same time he also held the concurrent position of Dien Tuan, responsible for organizing land reclamation and agricultural development in the Gia Dinh region. According to the chronicle Quoc trieu su toat yeu:
“In Ky Dau (1789), sixth month, the court established the office of Dien Tuan to supervise farming and cultivation. At that time the Han Lam Che Cao officials Trinh Hoai Duc, Le Quang Dinh, Ngo Tung Chau, Hoang Minh Khanh and others—twelve persons in total—were assigned concurrently to this office.”
In the third month of Quy Suu (1793) he was appointed Dong Cung Thi Giang, responsible for teaching and assisting the Crown Prince Nguyen Phuc Canh. In the eleventh month of the same year he accompanied the Crown Prince to defend Dien Khanh Citadel, an important military position in central Vietnam.
In Giap Dan (1794) he was promoted to Ky Luc of Dinh Tuong garrison, and later appointed Right Vice Minister of the Ministry of Revenue, participating in the management of financial and household affairs of the court.
In Tan Dau (1801), when Lord Nguyen Phuc Anh launched the campaign to capture Phu Xuan, Trinh Hoai Duc was tasked with supervising the collection of provisions in the regions of Quang Nam and Quang Ngai to supply the army.
Official Career under Emperor Gia Long
In the fifth month of Nham Tuat (1802), after unifying the country, Nguyen Phuc Anh ascended the throne at Phu Xuan as Gia Long. Following the establishment of the Nguyen dynasty, Trinh Hoai Duc was appointed Minister of Revenue. At the same time he served as Chief Envoy leading a diplomatic mission to the Qing dynasty.
The mission also included two deputy envoys: Ngo Nhan Tinh, Right Vice Minister of War, and Hoang Ngoc Uan, Right Vice Minister of Justice. This mission represented an important diplomatic activity of the Nguyen court during its early establishment.
In 1808, he was appointed Hiep Tran of Gia Dinh Citadel, assisting the Governor-General Nguyen Van Nhon in administering the southern region.
In 1812, he was summoned to the capital to serve as Minister of Rites, concurrently overseeing the Imperial Astronomical Bureau. In 1813 he was transferred to serve as Minister of Personnel, responsible for administrative appointments and court personnel matters.
In 1816, Trinh Hoai Duc returned to Gia Dinh for a second time as Assistant Governor-General, again assisting Nguyen Van Nhon. When Nguyen Van Nhon was recalled to the capital, Trinh Hoai Duc temporarily assumed authority as Acting Governor-General of Gia Dinh around 1820, managing the entire southern region during the transitional period.
Service under Emperor Minh Mang
In early Canh Thin (1820), after Minh Mang ascended the throne, Trinh Hoai Duc was summoned to the capital of Hue. He continued to serve as Minister of Personnel, while also concurrently holding the position of Minister of War.
He was also appointed Deputy Director-General of the National History Office and promoted to the position of Hiep Bien Hoc Si, participating in the compilation and management of the court’s historical works. Because he had to hold several important offices simultaneously, he requested several times to decline some of these duties, fearing that he might not be able to fulfill them properly. However, due to the special trust and favor shown to him by Minh Mang, he ultimately accepted the imperial command.
In the fifth lunar month of 1820, when the emperor issued an edict calling for the collection and preservation of ancient books, Trinh Hoai Duc presented two important works to the court. The first was Gia Dinh thanh thong chi, a work compiled by himself that recorded the geography, history, customs, and general conditions of the Gia Dinh region. The second was Bot di ngu van thao, a literary collection by Mac Thien Tu, which he had collected and submitted.
In the ninth month of Tan Ty (1821), when Emperor Minh Mang made a royal tour to the northern region, Trinh Hoai Duc accompanied the imperial procession. After returning to the capital, he presented two additional works to the emperor: Lich dai ky nguyen and Khang te luc, both scholarly works of historical and academic value.
In 1822, he was appointed by the court as an examiner in the special grace examination (an khoa), an examination held to recruit talented scholars into government service.
In 1823, because of his advanced age and declining health, he submitted a memorial requesting retirement. Emperor Minh Mang, unwilling to allow him to leave office, sent the high official Pham Dang Hung to visit and persuade him to continue serving the court. The emperor eventually allowed him to take a temporary leave of three months for recuperation. After the leave period ended, he returned to Hue, where the emperor granted him 2,000 quan of money and materials to build a residence outside the eastern gate of the imperial capital.
In the second month of At Ty (1825), Trinh Hoai Duc died in Hue due to illness at the age of 61. In recognition of the passing of a high-ranking official who had made many contributions, Emperor Minh Mang suspended court audiences for three days as a sign of mourning. The emperor posthumously granted him the title Thieu Bao Can Chanh Dien Dai Hoc Si and the posthumous name Van Khac. The emperor also ordered Prince Mien Hoang to escort his coffin back to Gia Dinh for burial.
When the coffin arrived, the Governor-General Le Van Duyet personally attended the funeral rites and escorted him to his final resting place at Binh Truoc village (today part of Trung Dung Ward, Bien Hoa City, Dong Nai Province). This act reflected the recognition of Trinh Hoai Duc’s reputation and contributions to the history of southern Vietnam.
Works
The works written in Classical Chinese by Trinh Hoai Duc include:
- Can Trai thi tap – consisting of three collections: Thoi thuc truy bien tap, Quan quang tap, and Kha di tap. These poems were composed between 1783 and 1819 and were engraved and printed in 1819.
- Bac su thi tap – a collection of poems written during his diplomatic mission to the Qing court.
- Gia Dinh tam gia thi tap – a poetic collection of the “three scholars of Gia Dinh”: Trinh Hoai Duc, Ngo Nhan Tinh, and Le Quang Dinh.
- Di su cam tac – a collection of eighteen poems composed in the Nom script in a linked poetic sequence.
In general, Trinh Hoai Duc’s poetry mainly follows the regulated eight-line seven-character verse form. His themes are typically lyrical, often describing landscapes and the daily life of the people in the places where he lived or traveled.
Other important works include:
- Lich dai ky nguyen
- Khang te luc
- Gia Dinh thanh thong chi – consisting of six volumes written in Classical Chinese. The book has no preface, so the exact date and circumstances of its compilation are unknown. It is only known that the work was completed during the reign of Gia Long. When Emperor Minh Mang issued an edict in 1820 calling for the collection of ancient books, Trinh Hoai Duc immediately presented the work to the court.
The book provides detailed records on mountains and rivers, sea gates, customs, products, and the people of Gia Dinh (present-day southern Vietnam). It has been highly valued by scholars and was translated into French as early as the late nineteenth century.
Tomb
Today, the Trinh Hoai Duc tomb complex is located in Quarter 3, Trung Dung Ward, Bien Hoa. According to the inscription on the stone stele within the complex, the tomb was constructed in the same year as his death.
The tomb complex was originally quite extensive, including the graves of Trinh Hoai Duc himself, his wives and concubines, and many members of his family lineage. From the 1980s onward, however, there was a period during which parts of the complex were encroached upon by local residents. Some of the outer tombs were even demolished for residential construction.
Since the tomb of Trinh Hoai Duc was recognized as a National Historical and Cultural Relic in 1990, the local authorities have implemented protection measures. Although the monument is no longer subject to encroachment or destruction, its area has been significantly reduced compared to its original extent.
Today, the main preserved part of the site consists only of the double tomb of Trinh Hoai Duc (commonly called “Ong’s tomb”) and his wife Le Thi (“Ba’s tomb”).
References
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2002.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2001.
- Triêu Dương, mục từ “Trịnh Hoài Đức” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.
- Bùi Văn Vượng, “Trịnh Hoài Đức và Gia Định thành thông chí”, bài viết in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2012.
Tiếng Pháp
Trinh Hoai Duc (1765–1825)
Origines
Trinh Hoai Duc, dont le prénom était An, le nom de courtoisie Chi Son et le nom littéraire Can Trai, était issu d’une famille originaire du Fujian, en China. Sous le règne du seigneur Nguyen Phuc Tan, sa famille émigra vers le Dang Trong, c’est-à-dire la partie méridionale du Vietnam correspondant aujourd’hui aux régions centrale et méridionale du pays.
Au début, la famille s’établit à Phu Xuan (Huê). Par la suite, elle se déplaça vers la région de Tran Bien, correspondant à l’actuelle Bien Hoa, où elle fonda son établissement.
Son père, nommé Khanh, appartenait à une famille possédant une longue tradition d’études confucéennes et de service administratif. Grâce à son érudition et à ses capacités, il fut recruté par le seigneur Nguyen Phuc Khoat et nommé An Duong Cai thu, puis promu Chap canh tam truong Cai doi, chargé des affaires militaires et de l’organisation des forces de garde.
À l’âge de dix ans, Trinh Hoai Duc perdit malheureusement son père. Dès lors, il suivit sa mère et s’installa dans la région de Gia Dinh. Là, il étudia auprès du célèbre maître Vo Truong Toan dans le village de Hoa Hung (aujourd’hui dans le district 10 de Ho Chi Minh City). Parmi ses condisciples figuraient Ngo Tung Chau et Le Quang Dinh, qui devinrent plus tard d’importants serviteurs méritants de la dynastie Nguyen.
Plus tard, lorsque les forces de la Tay Son dynasty avancèrent vers le Sud, la situation devint instable et la guerre se propagea. Afin d’échapper aux troubles, il se réfugia avec sa famille au Cambodia, où il continua de vivre en exil jusqu’à ce que la situation au Vietnam se stabilise progressivement.
Au service du seigneur Nguyen Phuc Anh
En l’année Mau Than (1788), après avoir repris la région de Gia Dinh, le seigneur Nguyen Phuc Anh organisa un concours afin de recruter des talents pour l’administration. Trinh Hoai Duc y réussit et fut nommé Han Lam Che Cao, chargé de la rédaction des documents et édits officiels de la cour.
En Ky Dau (1789), il fut nommé préfet du district de Tan Binh. Parallèlement, il exerça la fonction de Dien Tuan, chargé d’organiser la mise en valeur des terres et le développement agricole dans la région de Gia Dinh. Selon la chronique Quoc trieu su toat yeu :
« En l’année Ky Dau (1789), au sixième mois, la cour établit la fonction de Dien Tuan pour superviser les travaux agricoles. Les fonctionnaires Han Lam Che Cao tels que Trinh Hoai Duc, Le Quang Dinh, Ngo Tung Chau, Hoang Minh Khanh et d’autres — douze personnes au total — furent chargés simultanément de cette fonction. »
Au troisième mois de l’année Quy Suu (1793), il fut nommé Dong Cung Thi Giang, chargé d’enseigner et d’assister le prince héritier Nguyen Phuc Canh. La même année, au onzième mois, il accompagna le prince héritier pour défendre la citadelle de Dien Khanh, une position militaire importante dans le centre du Vietnam.
En Giap Dan (1794), il fut promu Ky Luc de la garnison de Dinh Tuong, puis nommé vice-ministre du ministère des Finances, participant à la gestion des affaires financières et administratives de la cour.
En Tan Dau (1801), lorsque Nguyen Phuc Anh lança la campagne pour reprendre Phu Xuan, Trinh Hoai Duc fut chargé de superviser la collecte de vivres dans les régions de Quang Nam et Quang Ngai afin d’approvisionner l’armée.
Carrière sous l’empereur Gia Long
Au cinquième mois de l’année Nham Tuat (1802), après l’unification du pays, Nguyen Phuc Anh monta sur le trône à Phu Xuan sous le nom de règne de Gia Long. Après l’établissement de la Nguyen dynasty, Trinh Hoai Duc fut nommé ministre des Finances. Il fut également désigné comme chef d’ambassade pour conduire une mission diplomatique auprès de la Qing dynasty.
La mission comprenait aussi deux vice-ambassadeurs : Ngo Nhan Tinh, vice-ministre de la Guerre, et Hoang Ngoc Uan, vice-ministre de la Justice. Cette mission constituait l’une des activités diplomatiques importantes du début de la dynastie Nguyen.
En 1808, il fut nommé Hiep Tran de Gia Dinh, assistant le gouverneur général Nguyen Van Nhon dans l’administration de cette région méridionale.
En 1812, il fut rappelé à la capitale pour occuper la fonction de ministre des Rites, tout en dirigeant également le Bureau impérial d’astronomie. L’année suivante, en 1813, il fut transféré au poste de ministre du Personnel, chargé des nominations et des affaires administratives de la cour.
En 1816, il fut envoyé de nouveau à Gia Dinh comme assistant du gouverneur général, continuant d’assister Nguyen Van Nhon. Lorsque celui-ci fut rappelé à la cour, Trinh Hoai Duc assuma temporairement la charge de gouverneur général par intérim de Gia Dinh vers 1820, administrant l’ensemble du territoire méridional durant cette période de transition.
Sous le règne de Minh Mang
Au début de l’année Canh Thin (1820), après l’accession au trône de Minh Mang, Trinh Hoai Duc fut rappelé à la capitale impériale de Huê. Il continua d’exercer la fonction de ministre du Personnel, tout en assumant également celle de ministre de la Guerre.
Il fut en outre nommé vice-directeur du Bureau d’histoire nationale et promu Hiep bien Hoc si, participant à la compilation et à la gestion des travaux historiques de la cour.
Au cinquième mois de l’année 1820 (calendrier lunaire), lorsque l’empereur publia un édit demandant la recherche et la collecte d’ouvrages anciens, Trinh Hoai Duc présenta à la cour deux œuvres importantes : Gia Dinh thanh thong chi, ouvrage qu’il avait lui-même rédigé sur la géographie, l’histoire et les coutumes de la région de Gia Dinh, ainsi que Bot di ngu van thao, un recueil de textes de Mac Thien Tu qu’il avait rassemblés.
En 1821, il accompagna l’empereur lors de son voyage impérial vers le Nord. Après son retour à la capitale, il présenta également deux autres ouvrages : Lich dai ky nguyen et Khang te luc, tous deux d’une grande valeur académique et historique.
En 1822, la cour le nomma examinateur lors de l’examen spécial organisé pour recruter des talents au service de l’État.
En 1823, en raison de son âge avancé et de sa santé déclinante, il demanda l’autorisation de se retirer. L’empereur ne voulant pas perdre un serviteur aussi précieux envoya le dignitaire Pham Dang Hung pour lui rendre visite et le convaincre de rester au service de la cour. Finalement, l’empereur lui accorda un congé de trois mois. Après cette période de repos, il retourna à Huê, où le souverain lui offrit deux mille ligatures de monnaie et des matériaux pour construire une maison près de la porte orientale de la capitale.
En février 1825, Trinh Hoai Duc mourut à Huê des suites d’une maladie, à l’âge de soixante-et-un ans. L’empereur Minh Mang suspendit les audiences de la cour pendant trois jours pour lui rendre hommage et lui conféra à titre posthume le titre de Thieu bao Can chanh dien Dai hoc si, avec le nom posthume Van Khac. Le prince Mien Hoang fut chargé d’escorter sa dépouille vers Gia Dinh pour les funérailles.
À l’arrivée du cercueil, le gouverneur général Le Van Duyet vint personnellement présenter ses condoléances et accompagner la procession funéraire jusqu’à son lieu de sépulture au village de Binh Truoc (aujourd’hui dans la ville de Bien Hoa, province de Dong Nai).
Œuvres
Les œuvres en caractères chinois de Trinh Hoai Duc comprennent :
- Can Trai thi tap : recueil en trois volumes (Thoi thuc truy bien tap, Quan quang tap, Kha di tap), contenant des poèmes composés entre 1783 et 1819, gravés et publiés en 1819.
- Bac su thi tap : poèmes composés lors de sa mission diplomatique auprès de la dynastie Qing.
- Gia Dinh tam gia thi tap : recueil de poèmes des « trois auteurs de Gia Dinh » — Trinh Hoai Duc, Ngo Nhan Tinh et Le Quang Dinh.
- Di su cam tac : recueil de dix-huit pièces en écriture nom composées en chaîne.
De manière générale, la poésie de Trinh Hoai Duc relève souvent du quatrain régulier de sept caractères et aborde principalement des thèmes lyriques ou la description des paysages et de la vie quotidienne des populations des régions qu’il a habitées ou traversées.
Parmi ses autres ouvrages importants figurent :
- Lich dai ky nguyen
- Khang te luc
- Gia Dinh thanh thong chi, un ouvrage en six volumes consacré à la géographie, à l’histoire, aux coutumes et aux ressources de la région de Gia Dinh, considéré aujourd’hui comme une source précieuse pour l’étude de l’histoire du Sud du Vietnam.
Tombeau
Le complexe funéraire de Trinh Hoai Duc se situe aujourd’hui dans le quartier 3, arrondissement Trung Dung, à Bien Hoa. D’après l’inscription sur la stèle, sa tombe fut construite la même année que sa mort.
Le site constitue un vaste ensemble comprenant non seulement la tombe de Trinh Hoai Duc, mais aussi celles de ses épouses et de plusieurs membres de sa lignée. Dans les années 1980, une partie du complexe fut occupée et endommagée par des habitants locaux qui détruisirent certaines tombes extérieures pour construire des habitations.
Depuis que le site a été reconnu comme monument historique et culturel national en 1990 par le ministère de la Culture et de l’Information du Vietnam, les autorités locales ont pris des mesures pour protéger le monument. Toutefois, sa superficie a été considérablement réduite par rapport à son état d’origine.
Aujourd’hui, la partie principale conservée comprend surtout la tombe double de Trinh Hoai Duc et de son épouse Le Thi.
Références
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2002.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2001.
- Triêu Dương, mục từ “Trịnh Hoài Đức” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.
- Bùi Văn Vượng, “Trịnh Hoài Đức và Gia Định thành thông chí”, bài viết in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2012.
Tiếng Trung
郑怀德(Trinh Hoai Duc,1765—1825)
身世
郑怀德,名安,字止山,号艮斋。其先世原籍中国Fujian。在阮福濒(Nguyen Phuc Tan)执政时期,其家族迁居越南南方的阮主领地(Dang Trong),即今越南中部与南部地区。
最初,郑氏家族居住在富春(Phu Xuan)(今顺化)。后来迁往**镇边(Tran Bien)地区,即今Bien Hoa一带定居。
其父名庆,出身于世代科举与仕宦之家。因学识与才能,为阮福阔(Nguyen Phuc Khoat)所赏识,任安阳该守,后又任执更三场该队,负责军事事务及守卫力量的组织。
郑怀德十岁时父亲去世,此后随母迁居嘉定(Gia Dinh)地区。在此他从学于著名儒者武长纂(Vo Truong Toan)于和兴村(Hoa Hung)(今Ho Chi Minh City第十郡)。其同学有吴从周(Ngo Tung Chau)与黎光定(Le Quang Dinh),后来皆成为阮朝的重要功臣。
后来,当Tay Son dynasty西山军进入南部时,局势动荡、战乱蔓延。为避兵乱,他与家人逃往Cambodia(真腊)避难,直到国内局势逐渐稳定才返回。
追随阮福映
戊申年(1788),阮福映(Nguyen Phuc Anh)收复嘉定后,开科取士,招募人才辅政。郑怀德应试中选,被授翰林制诰,负责起草朝廷文书与诏令。
己酉年(1789),任新平知县(Tan Binh)。同时兼任田俊之职,负责嘉定地区垦田与农业发展。据《国朝史撮要》记载:
“己酉年六月,朝廷置田俊以掌耕作。以翰林制诰郑怀德、黎光定、吴从周、黄明庆等十二人兼任其职。”
癸丑年(1793)三月,任东宫侍讲,负责辅导太子阮福景(Nguyen Phuc Canh)。同年十一月随太子出镇延庆城(Dien Khanh),此为中部重要军事据点。
甲寅年(1794),升任定祥镇记录(Dinh Tuong),后又任户部右参知,参与管理朝廷财政与户籍事务。
辛酉年(1801),阮福映出兵攻取富春时,郑怀德负责在广南(Quang Nam)与广义(Quang Ngai)地区督办粮饷,以供军需。
嘉隆朝任官
壬戌年(1802)五月,阮福映统一全国,在富春即位,是为嘉隆帝(Gia Long)。阮朝建立后,郑怀德被任命为户部尚书。同时奉命为正使,率领使团出使Qing dynasty清朝。
随行副使为吴仁静(Ngo Nhan Tinh),时任兵部右参知,以及黄玉蕴(Hoang Ngoc Uan),时任刑部右参知。此行是阮朝建立初期的重要外交活动之一。
1808年,郑怀德任嘉定城协镇,辅佐总镇阮文仁(Nguyen Van Nhon)治理南方重地。
1812年召回京师,任礼部尚书,并兼掌钦天监,负责天文历法事务。1813年改任吏部尚书,掌管朝廷官员任免。
1816年,再次出任嘉定城协总镇,继续辅佐阮文仁。约1820年前后,阮文仁被召回京,郑怀德一度署理嘉定总镇,管理整个南部地区。
明命朝时期
庚辰年(1820),明命帝(Minh Mang)即位后,召郑怀德入京,仍任吏部尚书,并兼任兵部尚书。
此外,他还被任为国史馆副总裁,并晋升协办学士,参与朝廷史书的编纂工作。
同年五月,朝廷下诏征求旧书,郑怀德进献两部重要著作:
- 《嘉定城通志》:其本人所编,记载嘉定地区的地理、历史、风俗与物产。
- 《笔底渔文草》:鄚天赐(Mac Thien Tu)的文集,由他搜集呈献。
辛巳年(1821)九月,明命帝北巡,郑怀德随驾。回京后又进呈《历代纪元》与《康济录》两书,皆具学术与史学价值。
1822年,奉命担任恩科考试主考官。
1823年,由于年老体衰,他上疏请求致仕。皇帝不愿其离职,派重臣范登兴(Pham Dang Hung)前往慰问并劝留。最终准其休养三个月。期满返京后,皇帝赐钱二千贯,并赐材木在京城东门外建宅。
1825年乙巳二月,郑怀德病逝于顺化,享年六十一岁。明命帝为表哀悼,罢朝三日,追赠少保勤政殿大学士,赐谥号文刻。并命皇子绵宏(Mien Hoang)护送灵柩归葬嘉定。
灵柩抵达后,总镇黎文悦(Le Van Duyet)亲自前往吊祭,并送葬至平著村(Binh Truoc)(今属Bien Hoa)。
著作
郑怀德的汉文著作主要有:
- 《艮斋诗集》:共三集——《退食追编集》《观光集》《可以集》,收录1783—1819年的诗作,1819年刊刻。
- 《北使诗集》:出使清朝时所作诗篇。
- 《嘉定三家诗集》:嘉定三家诗集,作者为郑怀德、吴仁静(Ngo Nhan Tinh)、黎光定(Le Quang Dinh)。
- 《使行感作》:以喃字写成的十八篇联章作品。
总体而言,郑怀德的诗多为七言律诗,题材多偏抒情,或描写各地风物与百姓生活。
其他著作还有:
- 《历代纪元》
- 《康济录》
- 《嘉定城通志》:共六卷,以汉文写成,记载嘉定地区的山川、海口、风俗、物产与人物,是研究越南南部历史的重要文献。
陵墓
郑怀德墓今位于Bien Hoa市中勇坊第三街区。墓碑记载其墓建于其逝世之年。
陵墓原为规模较大的家族墓地,包含其本人、妻妾及家族成员之墓。20世纪80年代曾一度遭到当地居民侵占甚至破坏。
1990年,该墓被越南文化信息部列为国家级历史文化遗迹后,地方政府开始加强保护。虽然墓区面积已比原状大为缩小,但核心部分仍得以保存。
现存主要遗迹为郑怀德与夫人黎氏(Le Thi)的合葬墓。
參考
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Quốc triều sử toát yếu. Bản dịch do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2002.
- Huỳnh Minh, Gia Định xưa, Nhà xuất bản Thanh Niên in lại năm 2001.
- Triêu Dương, mục từ “Trịnh Hoài Đức” trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004.
- Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển (quyển 2). Nhà xuất bản Hồn Thiêng, Sài Gòn, 1967.
- Bùi Văn Vượng, “Trịnh Hoài Đức và Gia Định thành thông chí”, bài viết in trong Tổng tập dư địa chí Việt Nam (tập 3). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2012.