Thông tin chung
Hiếu Văn hoàng hậu (chữ Hán: 孝文皇后; 1578–1630), còn được biết đến với tôn hiệu Huy Cung Từ Thận Thuận phi (徽恭慈慎順妃), nguyên là Chính thất của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Lan. Trong ký ức dân gian vùng phương Nam, bà không chỉ được nhắc đến với tư cách một bậc mẫu nghi của dòng chúa Nguyễn, mà còn được tôn xưng là Bà Tổ bếp, hay bà tổ nghề nấu ăn. Những truyền thuyết lưu truyền trong cộng đồng phản ánh vai trò gắn bó của bà với đời sống sinh hoạt gia đình, bếp núc, ẩm thực, qua đó cho thấy sự giao thoa giữa lịch sử chính thống và tín ngưỡng dân gian, nơi hình ảnh Hiếu Văn hoàng hậu được nhân dân tôn kính như một vị phúc thần bảo trợ cho nghề bếp và văn hóa ẩm thực Nam Bộ.
Xuất thân
Hiếu Văn hoàng hậu vốn xuất thân từ hoàng tộc nhà Mạc – một dòng họ từng giữ vai trò vương triều ở Đại Việt thế kỷ XVI. Bà nguyên là Chính thất của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên, đồng thời là thân mẫu của chúa Hiền Nguyễn Phúc Lan, người kế tục sự nghiệp của họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Về gia thế, bà vốn mang họ Mạc, sau này được ban đổi sang họ Nguyễn. Quê gốc của bà ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương trước đây (nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng), vốn là đất phát tích của vương triều nhà Mạc. Bà là con gái của Khiêm vương Mạc Kính Điển, một đại thần trụ cột của triều Mạc, có công lớn trong việc bảo vệ và duy trì chính quyền họ Mạc trong giai đoạn trung hậu kỳ. Tên húy của bà là Mạc Thị Giai; sau khi vào phủ chúa Nguyễn và được đặc biệt sủng ái, bà được đổi sang họ Nguyễn, sử sách và gia phả thường ghi là Nguyễn Thị Giai hoặc Nguyễn Thị Ngọc Giai.
Cuộc đời
Hiếu Văn hoàng hậu là một nhân vật tiêu biểu phản ánh sự chuyển dịch lịch sử sâu sắc của tầng lớp hoàng tộc nhà Mạc trong bối cảnh triều đại suy vong và trật tự chính trị mới đang hình thành ở Đàng Trong. Xuất thân từ hoàng tộc nhà Mạc, bà là con gái của Khiêm Đại vương Mạc Kính Điển, cháu nội vua Mạc Đăng Doanh (có nguồn ghi Mạc Đăng Dung), đồng thời là cháu ruột của Thống binh Thái phó Mạc Cảnh Huống – một công thần có vai trò then chốt trong việc cộng tác với các chúa Nguyễn buổi đầu dựng nghiệp. Chính từ nền tảng ấy, “Mạc thị cùng với người chú của bà là Thống binh Mạc Cảnh Huống được coi là những người có công lớn nhất trong việc tạo dựng ảnh hưởng của dòng họ Mạc trên đất của các Chúa Nguyễn nhiều đời sau”. Nhờ mối quan hệ này, trong bối cảnh nhà Mạc bị Lê–Trịnh đánh bại, “con cháu trong hoàng tộc nhà Mạc chạy nạn vào phương Nam phần nào vẫn có sự đảm bảo được an toàn sinh sống trên vùng đất mới”, mặc dù về danh nghĩa cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều nêu cao khẩu hiệu “phù Lê diệt Mạc”.
Sau khi thân phụ Mạc Kính Điển qua đời năm 1580, thế lực nhà Mạc suy yếu nhanh chóng. Đến năm 1592, trước làn sóng truy sát “dư đảng ngụy Mạc” của triều Lê – chúa Trịnh, Quận chúa Mạc Thị Giai cùng gia quyến rời bỏ quê hương Cổ Trai (Nghi Dương, Hải Dương), xuôi về phương Nam năm 1593, khi mới 15 tuổi, để nương nhờ người chú ruột là Mạc Cảnh Huống. Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, bà “theo chú là Cảnh Huống đem gia quyến vào Nam, ẩn ở chùa Lam Sơn, nhân đó nhập tịch ở Quảng Trị”. Quãng đời ẩn cư tại chùa Phật Lam Sơn không chỉ là một giai đoạn lánh nạn chính trị mà còn góp phần hình thành chiều sâu Phật giáo và nhân cách trầm tĩnh của bà, điều về sau được sử triều Nguyễn ghi nhận: “Hậu tính thông mẫn dịu dàng, lời nói cử chỉ đều có khuôn phép, Chúa rất yêu thương”.
Bước ngoặt cuộc đời Quận chúa diễn ra khi bà được Nguyễn Thị Ngọc Dương – phu nhân của Mạc Cảnh Huống, đồng thời là dì ruột và mẹ nuôi của Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên tiến cử vào hầu chúa ở nơi tiềm để. Mối quan hệ huyết tộc nuôi dưỡng chằng chịt giữa họ Mạc và họ Nguyễn đã dẫn đến cuộc hôn nhân giữa Quận chúa Mạc Thị Giai và Thế tử Nguyễn Phúc Nguyên vào khoảng 1595–1596. Sử liệu mô tả bà là người “minh mẫn thuần thục, nói và làm đều đúng mực thước”, nhờ đó được chúa hết mực yêu quý, cho phép đổi sang họ Nguyễn, trở thành Nguyễn Thị Giai (Nguyễn Thị Ngọc Giai). Từ đây, bà chính thức giữ vị trí Chính thất của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên và về sau được truy tôn Hiếu Văn hoàng hậu.
Trong đời sống hôn nhân và chính trị, bà sinh được 5 hoàng nam và 3 hoàng nữ, trong đó nổi bật là Nguyễn Phúc Lan (Thần Tông hoàng đế) người kế vị chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Các công chúa Ngọc Vạn, Ngọc Khoa được gả cho vua Chân Lạp và vua Chiêm Thành, góp phần mở rộng ảnh hưởng ngoại giao của Đàng Trong. Bản thân bà, với xuất thân hoàng tộc nhà Mạc, đã trở thành cầu nối biểu tượng cho sự dung hợp giữa hai dòng họ từng ở thế đối địch, thể hiện rõ vai trò lịch sử của phụ nữ hoàng tộc trong tiến trình chính trị Việt Nam thế kỷ XVI–XVII.
Không chỉ hiện diện trong chính sử, Hiếu Văn hoàng hậu còn sống động trong ký ức dân gian vùng Thuận Hóa – Quảng Nam. Xuất thân từ chốn cung đình triều Mạc, bà tinh thông nghệ thuật ẩm thực cung đình, truyền dạy lại cho dân chúng địa phương. Chính vì vậy, sau khi bà qua đời, “dân chúng nhiều nơi ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ tôn bà là Bà tổ bếp hay Bà tổ của nghề nấu ăn đất phương Nam”, xem bà như người khai mở nếp sống ẩm thực của cộng đồng người Việt trên vùng đất mới.
Hiếu Văn hoàng hậu qua đời ngày 12/12/1630, hưởng thọ 52 tuổi. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thương tiếc, truy tặng thụy hiệu dài: “Huy cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng hậu”, và cho xây lăng mộ tại Gò Hàm Rồng, làng Chiêm Sơn, Duy Xuyên, Quảng Nam (nay gọi là Lăng Vĩnh Diễn). Bà được phối thờ cùng chúa Nguyễn Phúc Nguyên tại Thái Miếu và thờ tự tại chùa Vĩnh An (Chùa Vua). Dù trải qua biến thiên lịch sử, lăng mộ và ký ức thờ phụng bà vẫn tồn tại như một minh chứng cho vị thế đặc biệt của Hiếu Văn hoàng hậu – người phụ nữ hoàng tộc hội tụ cả bi kịch thời đại, trí tuệ chính trị, đức hạnh cá nhân và ảnh hưởng văn hóa sâu rộng trong lịch sử Việt Nam thời phân tranh.
Thờ phụng
Năm Canh Ngọ (1630), vào mùa đông, tháng 11, Hiếu Văn hoàng hậu Mạc Thị Giai qua đời tại Quảng Nam, khi đang sinh sống cùng người con trai trưởng là Khánh Quận công Nguyễn Phúc Kỳ, lúc đó giữ chức quan trấn thủ dinh Quảng Nam. Bà hưởng thọ 52 tuổi. Linh cữu được an táng tại núi Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, lăng mộ mang tên Vĩnh Diễn lăng (永延陵).
Đến năm 1744, dưới thời Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đăng cơ và chính thức xưng Vương (王), triều đình tiến hành truy tôn các chúa Nguyễn theo nghi lễ vương triều. Khi đó, Mạc phu nhân được truy tặng thụy hiệu Huy Cung Từ Thận Thuận phi.
Năm 1806, vua Gia Long lên ngôi Hoàng đế, tiếp tục gia phong mỹ tự cho các bậc tiên triều. Hiếu Văn hoàng hậu được truy tặng thụy hiệu đầy đủ là: Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn hoàng hậu
Văn dâng tôn thụy
Sách văn dâng tôn thụy ghi rằng:
Tốt thay đức khôn nguyên, trên sánh với thê Kiều. Phô nêu đức tốt, là để đáp Phước dày mà tỏ đạo hiếu vậy.
Kính nghĩ, Huy Cung Từ Thận Mạc Thuận phi điện hạ: trinh tĩnh đoan trang, bao hàm rộng sáng; phong hóa khắp gần xa, đức tốt không bờ bến. Đúc thành giống tốt, phồn thịnh phước to. Nay trên nhờ đức thiêng liêng, nối mãi ngôi tôn quý. Vậy xét điển lễ kính dâng tên hay. Cẩn tiến sách vàng, dâng tôn hiệu là ‘Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn Hoàng hậu’, thờ chung vào gian tả nhất nhà Thái Miếu.
Đoạn văn thể hiện sự đánh giá rất cao của triều đình đối với đức hạnh, công lao sinh thành và vai trò mẫu nghi của bà trong sự nghiệp kế thừa và hưng thịnh của họ Nguyễn ở Đàng Trong.
Con cái
Hiếu Văn hoàng hậu sinh được tám người con, gồm năm con trai và ba con gái. Trong số đó, nhiều người có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và quan hệ đối ngoại của Đàng Trong thế kỷ XVII.
Các con trai:
- Khánh Quận công Nguyễn Phúc Kỳ (阮福淇; ? – 1631), trấn thủ dinh Quảng Nam.
- Nguyễn Phúc Lan (阮福瀾), sau lên ngôi, tức Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế (神宗孝昭皇帝).
- Nguyễn Phúc Trung (阮福忠), do mưu phản nghịch nên bị xử tử và tước tông tịch.
- Nguyễn Phúc An (阮福安), sử liệu không ghi chép rõ.
- Nguyễn Phúc Nghĩa (阮福義), mất sớm khi còn nhỏ.
Các con gái:
- Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Liên (阮福玉蓮), được gả cho Mạc Cảnh Vinh (Nguyễn Phước Vinh), trấn thủ Trấn Biên, con trai của Mạc Cảnh Huống.
- Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Vạn (阮福玉萬), được gả cho Quốc vương Chân Lạp Chey Chetta II, góp phần tạo lập mối quan hệ Việt – Khmer, đặt nền tảng cho quá trình người Việt tiến vào vùng Nam Bộ – Sài Gòn.
- Công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa (阮福玉誇), được gả cho Quốc vương Chiêm Thành Po Rome, góp phần duy trì quan hệ hòa hiếu giữa Đàng Trong và Chiêm Thành.
Việc thờ phụng Hiếu Văn hoàng hậu Mạc Thị Giai được tiến hành trang trọng trong cả điển lễ cung đình triều Nguyễn lẫn đời sống tín ngưỡng dân gian tại nhiều địa phương, phản ánh địa vị mẫu nghi thiên hạ của bà cũng như những đóng góp quan trọng đối với hoàng tộc và văn hóa xã hội Đàng Trong. Theo các nguồn thư tịch và truyền thống địa phương, việc thờ tự bà có thể phân thành các không gian chính sau:
Thờ phụng trong cung đình triều Nguyễn (Thái Miếu)
Trong hệ thống thờ tự hoàng gia, Hiếu Văn hoàng hậu được tôn vinh ở vị trí cao, tương xứng với vai trò chính thất của chúa Nguyễn Phúc Nguyên và thân mẫu của chúa Nguyễn Phúc Lan. Bà được phối thờ cùng phu quân là Hy Tông Hiếu Văn hoàng đế (chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) tại Thái Miếu trong Hoàng cung Huế. Bài vị của bà đặt tại gian thứ nhất bên trái Thái Miếu, theo đúng quy chế tế tự dành cho các Hoàng hậu triều Nguyễn. Trải qua nhiều triều vua, bà liên tục được truy tôn và gia phong mỹ tự. Đến thời vua Gia Long, thụy hiệu đầy đủ của bà được xác định là:
Huy Cung Từ Thận Ôn Thục Thuận Trang Hiếu Văn hoàng hậu.
Thờ phụng tại khu lăng mộ và chùa chiền ở Quảng Nam
Vùng Duy Xuyên (Quảng Nam) là nơi đặt lăng mộ của bà, đồng thời cũng là trung tâm thờ tự quan trọng gắn liền với các nghi lễ chính thức của triều đình.
- Lăng Vĩnh Diễn (còn gọi là Lăng Dưới): Lăng tọa lạc tại núi Chiêm Sơn, là nơi an táng Hiếu Văn hoàng hậu và là địa điểm tổ chức các nghi lễ tế tự hàng năm. Dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng, triều đình quy định nghi thức cúng tế rất nghiêm cẩn, bao gồm: Cấp tự điền (ruộng hương hỏa) để phục vụ việc thờ cúng lâu dài; Hàng năm vào tiết Thanh minh, quan viên thuộc tông thất thay mặt triều đình đến dâng lễ; Trong ngày giỗ, các công sở địa phương tạm ngừng xét xử án hình sự và cấm sát sinh, thể hiện sự tôn kính đặc biệt.
- Chùa Vĩnh An (còn gọi là Chùa Vua): Dưới triều vua Minh Mạng, chùa Vĩnh An được dựng giữa hai lăng Vĩnh Diễn (của Hiếu Văn hoàng hậu) và Vĩnh Diên (của con dâu bà là Đoàn Thị Ngọc). Hai gian tả – hữu của chùa được dùng để thờ thần vị của hai Hoàng hậu, vừa mang tính Phật tự, vừa là không gian thờ tự hoàng gia.
Thờ phụng tại quê gốc và các địa phương gắn với dòng họ Mạc
Do xuất thân từ hoàng tộc nhà Mạc, Hiếu Văn hoàng hậu còn được tôn kính như một vị tổ linh thiêng bảo hộ dòng họ tại nhiều địa phương.
- Tại Cổ Trai (Quảng Trị): Trước đây, dân làng đã lấy chùa Phật Lam Sơn – nơi bà từng cùng em gái lánh nạn trong buổi đầu vào Nam làm nơi thờ phụng bà. Đến năm 1824, theo nguyện vọng của dân làng, vua Minh Mạng cho phép đổi lại thành chùa Phật, song vẫn ghi nhận đây là địa điểm tưởng niệm người con gái danh giá của làng.
- Tại Cổ Trai (Hải Phòng): Hàng năm, con cháu họ Mạc tổ chức lễ Hiệp kỵ trọng thể vào ngày rằm tháng 5 âm lịch. Tại đây, Hiếu Văn hoàng hậu được thờ chung với Mạc Cảnh Huống (chú ruột) và Công nữ Ngọc Liên (con gái bà), như ba vị linh thần bảo hộ cho dòng họ.
Thờ phụng trong tín ngưỡng dân gian – “Bà tổ bếp”
Trong dân gian, đặc biệt tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ, Hiếu Văn hoàng hậu còn được tôn xưng là Bà Tổ Bếp hay Bà Tổ nghề nấu ăn đất phương Nam. Theo truyền tụng, bà am hiểu sâu sắc ẩm thực cung đình nhà Mạc và đã truyền dạy lại cho cư dân vùng đất mới, góp phần hình thành nếp sinh hoạt gia đình và văn hóa ẩm thực bản địa. Việc thờ phụng bà trong vai trò này mang ý nghĩa tri ân người có công khai mở đời sống văn hóa và sinh kế cho cộng đồng.
Các mốc thời gian cúng tế chính
- Lễ giỗ chính: Ngày 17 tháng 5 âm lịch, tổ chức tại lăng Vĩnh Diễn (theo điển lệ triều đình, dù ngày mất của bà là mồng 9 tháng 11).
- Lễ Hiệp kỵ dòng họ Mạc: Ngày rằm tháng 5 âm lịch, tổ chức tại Cổ Trai (Hải Phòng).
- Lễ Thanh minh: Thực hiện hàng năm theo lịch tiết, với sự tham gia của quan viên hoặc đại diện tông thất.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Dị Cổ, Chuyện hai lăng hoàng hậu ở Quảng Nam, Báo Đà Nẵng, ngày 20/08/2023.
- Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, trang https://mactrieu.vn, ngày 25/03/2017.
- Lê Bình Trị, Hai bà hoàng hậu trên đất Duy Xuyên, trang https://mactrieu.vn, ngày 19/12/2016.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Tập 3, Đỗ Mộng Khương dịch (2006), Nxb Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Hieu Van Empress (Chinese characters: 孝文皇后; 1578–1630), also known by the honorific title Huy Cung Tu Than Thuan Phi (徽恭慈慎順妃), was the principal consort of Lord Nguyen Phuc Nguyen and the biological mother of Lord Nguyen Phuc Lan. In the folk memory of southern Vietnam, she is remembered not only as a maternal figure of the Nguyen ruling house but is also revered as the Ancestress of the Kitchen, or the patron goddess of cooking. Oral traditions preserved among local communities reflect her close association with domestic life, kitchens, and culinary practices, illustrating the intersection between official history and popular belief, in which Hieu Van Empress is venerated as a benevolent tutelary spirit protecting the culinary profession and the food culture of Southern Vietnam.
Origin
Hieu Van Empress originated from the imperial Mac clan, a royal lineage that once ruled Dai Viet in the sixteenth century. She was the principal wife of Lord Sai Nguyen Phuc Nguyen and the mother of Lord Hien Nguyen Phuc Lan, who succeeded his father as ruler of Dang Trong.
Born into the Mac family, she was later granted the Nguyen surname. Her ancestral homeland was Co Trai village, Nghi Duong district, Kinh Mon prefecture, Hai Duong province (present-day Ngu Doan commune, Kien Thuy district, Hai Phong city), the ancestral seat of the Mac dynasty. She was the daughter of Khiem Vuong Mac Kinh Dien, a senior statesman and pillar of the Mac court, who played a crucial role in defending and sustaining Mac rule during its middle and later periods. Her personal name was Mac Thi Giai. After entering the Nguyen lordly household and receiving special favor, she was permitted to adopt the Nguyen surname, and historical records often refer to her as Nguyen Thi Giai or Nguyen Thi Ngoc Giai.
Life
Hieu Van Empress represents a historical figure emblematic of the profound transition experienced by the Mac royal lineage during the collapse of their dynasty and the emergence of a new political order in Dang Trong. Born into the Mac imperial family, she was the daughter of Khiem Dai Vuong Mac Kinh Dien and the granddaughter of Emperor Mac Dang Doanh (some sources record Mac Dang Dung). She was also the niece of Commander-in-Chief Grand Tutor Mac Canh Huong, a key figure who collaborated with the early Nguyen lords. From this foundation, “the Mac clan, together with Mac Canh Huong, was regarded as having rendered the greatest service in establishing Mac influence within Nguyen domains for many generations.” Owing to these ties, even after the Mac dynasty was defeated by the Le–Trinh forces, members of the Mac royal family who fled south were able to live in relative safety under Nguyen protection, despite both Trinh and Nguyen factions officially proclaiming the slogan “Support the Le, eliminate the Mac.”
Following the death of her father Mac Kinh Dien in 1580, the Mac political position deteriorated rapidly. In 1592, amid intensified persecution of the so-called “remnant Mac rebels” by the Le–Trinh regime, Princess Mac Thi Giai departed her ancestral homeland of Co Trai with her family and traveled south in 1593 at the age of fifteen, seeking refuge with her paternal uncle Mac Canh Huong. According to Dai Nam Liet Truyen Tien Bien, she “followed her uncle Canh Huong with the entire household into the South, hiding at Lam Son Pagoda and thereby registering residence in Quang Tri.” This period of seclusion at Phat Lam Son Pagoda not only provided political asylum but also nurtured her Buddhist sensibility and composed character, qualities later recognized by Nguyen court historians: “The Empress was intelligent and gentle; her speech and conduct were always proper, and the Lord cherished her deeply.”
A turning point in her life occurred when Nguyen Thi Ngoc Duong, wife of Mac Canh Huong and adoptive mother of Crown Prince Nguyen Phuc Nguyen, recommended her to serve the prince while he was still heir apparent. The intricate network of foster kinship between the Mac and Nguyen families culminated in the marriage between Princess Mac Thi Giai and Nguyen Phuc Nguyen around 1595–1596. Historical sources describe her as “clear-minded and refined, her words and actions always measured,” earning her exceptional favor. She was granted the Nguyen surname and became Nguyen Thi Giai (Nguyen Thi Ngoc Giai), officially assuming the position of principal consort. She was later posthumously honored as Hieu Van Empress.
During her married life, she bore five sons and three daughters. Among them, Nguyen Phuc Lan later ascended the throne as Emperor Than Tong, succeeding Nguyen Phuc Nguyen. Her daughters Ngoc Van and Ngoc Khoa were married respectively to the King of Chenla and the King of Champa, strengthening Dang Trong’s diplomatic reach. With her Mac royal origins, she became a symbolic bridge between two formerly rival dynasties, exemplifying the political and cultural role of royal women in sixteenth- and seventeenth-century Vietnam.
Beyond official historiography, Hieu Van Empress lives vividly in the folk memory of Thuan Hoa and Quang Nam. Trained in Mac court cuisine, she is said to have transmitted culinary knowledge to local communities. Consequently, after her death, “people in many coastal regions of Central Vietnam venerated her as the Ancestress of the Kitchen or the progenitor of southern cooking,” crediting her with shaping the culinary life of Vietnamese settlers in newly developed lands.
Hieu Van Empress passed away on 12 December 1630 at the age of fifty-two. Lord Nguyen Phuc Nguyen, deeply grieved, posthumously conferred upon her the extended honorific title “Huy Cung Tu Than On Thuc Thuan Trang Hieu Van Empress” and ordered the construction of her mausoleum at Go Ham Rong, Chiem Son village, Duy Xuyen, Quang Nam (now known as Lang Vinh Dien). She was enshrined alongside Nguyen Phuc Nguyen at the Thai Mieu and also worshipped at Vinh An Pagoda. Despite historical upheavals, her tomb and cult have endured as testimony to her exceptional status as a royal woman embodying the tragedies of her age, political wisdom, personal virtue, and enduring cultural influence during the era of division.
Veneration
In the winter of the Canh Ngo year (1630), during the eleventh lunar month, Hieu Van Empress Mac Thi Giai passed away in Quang Nam while residing with her eldest son Khanh Quan Cong Nguyen Phuc Ky, then serving as governor of Quang Nam. She was fifty-two years old. Her coffin was interred at Chiem Son Mountain, Duy Xuyen district, Quang Nam province, in a mausoleum named Vinh Dien Lang (永延陵).
In 1744, under Lord Vo Vuong Nguyen Phuc Khoat, who formally proclaimed himself King, the Nguyen court posthumously elevated earlier Nguyen rulers according to royal ritual. At that time, Mac Consort was granted the posthumous title Huy Cung Tu Than Thuan Phi.
In 1806, after Emperor Gia Long ascended the throne, further honorific titles were bestowed upon earlier generations. Hieu Van Empress received her full posthumous designation: Huy Cung Tu Than On Thuc Thuan Trang Hieu Van Empress.
Text of the Honorific Proclamation
The ceremonial text states:
Excellent indeed is her profound virtue, comparable to the consort of antiquity. Her virtues are proclaimed to repay abundant blessings and manifest filial piety. Reverently recalling Her Highness Huy Cung Tu Than Mac Thuan Phi: chaste and dignified, encompassing wisdom and clarity; her moral influence spread far and wide without bounds. She nurtured a virtuous lineage, bringing forth abundant blessings. Now, by virtue of sacred grace, the exalted throne endures. According to ritual precedent, we respectfully present this noble name. We humbly offer the golden register, conferring the honorific ‘Huy Cung Tu Than On Thuc Thuan Trang Hieu Van Empress,’ to be enshrined in the leftmost bay of the Thai Mieu.
This text reflects the exceptionally high esteem in which the Nguyen court held her virtue, maternal merit, and role as dynastic matriarch.
Children
Hieu Van Empress bore eight children: five sons and three daughters.
Sons:
- Khanh Quan Cong Nguyen Phuc Ky (阮福淇; ?–1631), governor of Quang Nam.
- Nguyen Phuc Lan (阮福瀾), later Emperor Than Tong Hieu Chieu (神宗孝昭皇帝).
- Nguyen Phuc Trung (阮福忠), executed and removed from the clan due to rebellion.
- Nguyen Phuc An (阮福安), little recorded in historical sources.
- Nguyen Phuc Nghia (阮福義), died young.
Daughters:
- Princess Nguyen Phuc Ngoc Lien (阮福玉蓮), married to Mac Canh Vinh (Nguyen Phuoc Vinh), governor of Tran Bien.
- Princess Nguyen Phuc Ngoc Van (阮福玉萬), married to Chenla King Chey Chetta II, laying foundations for Vietnamese expansion into the Mekong region.
- Princess Nguyen Phuc Ngoc Khoa (阮福玉誇), married to Champa King Po Rome, sustaining peaceful relations between Dang Trong and Champa.
Sites and Forms of Worship
Imperial Worship at the Thai Mieu, Hieu Van Empress is enshrined with her husband Nguyen Phuc Nguyen at the Thai Mieu in Hue. Her spirit tablet occupies the leftmost bay, in accordance with imperial ritual. Her final officially recognized title dates from the reign of Gia Long.
Mausoleum and Pagodas in Quang Nam, Vinh Dien Mausoleum (Lang Duoi), located at Chiem Son Mountain, serves as the primary site of annual rites. The court allocated ritual lands, mandated annual offerings at Qingming, and imposed temporary bans on executions and slaughter during her death anniversary.
Vinh An Pagoda (also known as Chua Vua), established between her mausoleum and that of her daughter-in-law Doan Thi Ngoc, houses spirit tablets of both empresses.
Ancestral Homeland and Mac Clan Worship
At Phat Lam Son Pagoda in Quang Tri, formerly a place of refuge, local villagers maintained her cult.
At Co Trai in Hai Phong, Mac clan descendants hold a collective ancestral rite on the fifteenth day of the fifth lunar month, worshipping her together with Mac Canh Huong and Princess Ngoc Lien.
Folk Belief: Ancestress of the Kitchen
In folk religion, particularly along the South Central Coast, Hieu Van Empress is revered as Ba To Bep, the Ancestress of the Kitchen. She is credited with transmitting court culinary knowledge to settlers, shaping domestic life and food culture in southern Vietnam.
Major Ritual Dates
- Official death anniversary: 17th day of the fifth lunar month, observed at Vinh Dien Mausoleum
- Mac clan collective rite: full moon of the fifth lunar month, Co Trai, Hai Phong.
- Qingming rites: performed annually by court or clan representatives.
References
- Nguyễn Dị Cổ, Chuyện hai lăng hoàng hậu ở Quảng Nam, Báo Đà Nẵng, ngày 20/08/2023.
- Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, trang https://mactrieu.vn, ngày 25/03/2017.
- Lê Bình Trị, Hai bà hoàng hậu trên đất Duy Xuyên, trang https://mactrieu.vn, ngày 19/12/2016.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Tập 3, Đỗ Mộng Khương dịch (2006), Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Trung (中文)
一般信息
孝文皇后(汉字:孝文皇后;1578–1630),又称徽恭慈慎顺妃(徽恭慈慎順妃),原为阮福源主之正室,为阮福澜主之生母。于南方民间记忆中,她不仅被视为阮主世系之母仪人物,更被尊称为“灶祖婆”“烹饪业始祖”。流传于民间的诸多传说,反映了她与家庭生活、灶火饮食的密切关联,展现出正统历史与民间信仰之间的交融——在其中,孝文皇后被民众奉为庇佑灶业与南部饮食文化的福神。
出身
孝文皇后出身于莫氏皇族,该家族曾于十六世纪在大越建立王朝。她原为阮福源主(史称阮主“阮嗣”)之正室,同时亦是阮福澜主(史称阮主“阮贤”)之生母,为继承阮氏政权于南方(内镇)之关键人物。
其本姓莫,后获赐改姓阮。其祖籍在古柴村,义阳县,京门府,海阳镇(今属海防市建瑞县五端社),为莫朝发祥之地。她为谦王莫敬典之女。莫敬典乃莫朝中后期之柱石大臣,于维系莫氏政权中立下显著功勋。其名讳为莫氏阶。入阮主府并深受宠爱后,获赐改姓阮,史籍与族谱多记作阮氏阶或阮氏玉阶。
一生经历
孝文皇后堪称反映莫氏皇族在王朝衰亡与南方新政治秩序形成背景下历史转向的重要人物。她出身莫氏皇族,为谦大王莫敬典之女,系莫登营(或有记为莫登庸)之孙女,同时亦是统兵太傅莫景晃之侄女。莫景晃为协助阮主草创基业之功臣。正因如此,“莫氏及其叔父莫景晃被视为促成莫氏一族在阮主辖地长期立足的最重要人物”。在莫朝为黎—郑政权击败之际,“莫氏皇族后裔南迁者得以在新土地上相对安全地生存”,尽管黎、郑、阮三方皆高举“扶黎灭莫”之名义。
1580年莫敬典去世后,莫氏势力迅速衰落。1592年,在黎朝—郑主对“伪莫余党”的大规模清剿下,莫氏阶郡主随家族于1593年南迁,当时年仅十五岁,投奔其叔父莫景晃。据《大南列传前编》记载:“随其叔景晃携家属入南,隐居于佛林山寺,因而在广治入籍。”这一段佛寺隐居生活,不仅是政治避难时期,也奠定了其后沉静、笃佛的人格特质。阮朝史籍评其曰:“后性聪敏柔和,言行有法度,主甚爱之。”
其人生转折点在于,经莫景晃之妻阮氏玉阳——既为其姨母,亦为阮福源之养母——举荐入侍潜邸。莫氏与阮氏之间错综复杂的血缘与姻亲关系,促成了莫氏阶郡主与世子阮福源于约1595–1596年间的婚姻。史载其人“明敏纯熟,言行皆中法度”,深得阮主宠信,遂赐改姓阮,称阮氏阶(或阮氏玉阶),正式成为阮福源主之正室,后追尊为孝文皇后。
她生育五子三女,其中最重要者为阮福澜,即后来的神宗孝昭皇帝。诸公主如玉万、玉夸,分别嫁与真腊国王与占城国王,对内镇对外关系拓展影响深远。以其莫氏皇族出身,孝文皇后成为两个曾对立王族之间象征性的融合纽带,凸显十六至十七世纪越南政治进程中皇族女性的独特历史角色。
除正史记载外,孝文皇后亦深植于顺化—广南地区的民间记忆。她精通莫朝宫廷饮食之道,并将之传授于地方百姓。因而其逝世后,“南中部沿海诸地民众尊其为灶祖婆、南方烹饪业之始祖”,视其为新土饮食生活之开创者。
孝文皇后卒于1630年12月12日,享年五十二岁。阮福源主追赠其尊谥为:“徽恭慈慎温淑顺庄孝文皇后”,并敕建陵墓于广南维川县占山之含龙冈(今称永延陵)。其神主配享于太庙,并祀于永安寺(俗称王寺)。尽管历经历史变迁,其陵墓与祭祀记忆仍延续不绝,成为这位兼具时代悲剧、政治智慧、个人德行与深远文化影响之皇族女性的重要见证。
祭祀
庚午年(1630)冬十一月,孝文皇后莫氏阶卒于广南,当时与长子庆郡公阮福淇同住。阮福淇时任广南镇守。皇后享年五十二岁,灵柩安葬于广南维川县占山,其陵号为永延陵(永延陵)。
1744年,武王阮福濶即位并正式称王,朝廷依王朝礼制追尊历代阮主,莫夫人获追赠尊号徽恭慈慎顺妃。
1806年,嘉隆帝即位,继续加封前朝美谥,孝文皇后获完整尊谥:
徽恭慈慎温淑顺庄孝文皇后
上尊谥文
《上尊谥册文》载曰:
美哉元善之德,上比乔配;彰显懿行,以答厚福而明孝道。谨惟徽恭慈慎莫顺妃殿下,贞静端庄,包容明达;风化遍及远近,懿德无涯。铸成良嗣,福祚繁昌。今仰承灵德,永续尊位。爰考典礼,敬进嘉名。谨奉金册,上尊号为“徽恭慈慎温淑顺庄孝文皇后”,配祀太庙左第一室。
此文高度评价其德行、母仪之范及其在阮氏继嗣与内镇兴盛中的根本贡献。
子女
孝文皇后共生八子女,五子三女,其中多人对十七世纪内镇政治与外交产生深远影响。
诸子
庆郡公 阮福淇(阮福淇;?–1631),广南镇守
- 阮福澜(阮福瀾),即位为神宗孝昭皇帝
- 阮福忠(阮福忠),因谋逆被诛并削宗籍
- 阮福安(阮福安),史载不详
- 阮福义(阮福義),幼年早逝
诸女
- 公女 阮福玉莲(阮福玉蓮),嫁莫景晃之子莫景荣(阮福荣),任镇边镇守
- 公女 阮福玉万(阮福玉萬),嫁真腊国王 Chey Chetta II,奠定越—高棉关系与南部拓展基础
- 公女 阮福玉夸(阮福玉誇),嫁占城国王 Po Rome,维系内镇与占城之和好关系
祭祀空间与民间信仰
孝文皇后莫氏阶之祭祀,既见于阮朝宫廷典礼,亦深植于民间信仰,体现其“母仪天下”之地位与对内镇社会文化的深远影响。
宫廷祭祀(太庙)
孝文皇后配祀于顺化皇城太庙,与其夫阮福源主(谥号熙宗孝文皇帝)同享香火。其神位设于太庙左第一间,符合阮朝皇后祀典。至嘉隆朝,其完整尊谥正式确立。
广南陵寝与寺院
永延陵(又称下陵):位于占山,为其安葬之所,历代朝廷定制祭田、清明致祭、忌日禁杀,礼制甚严。
永安寺(王寺):明命年间建于永延陵与永延陵(其媳段氏玉)之间,左右殿分别奉祀两位皇后,兼具佛寺与皇族祠祀性质。
莫氏祖地与相关地区
古柴(广治):佛林山寺为其早年避难之所,后被视为纪念地
古柴(海防):莫氏后裔每年农历五月十五举行合忌大祭,孝文皇后与莫景晃、公女玉莲并祀,为宗族守护灵神
民间信仰——“灶祖婆”
于南中部沿海地区,孝文皇后被尊为“灶祖婆”“烹饪业祖师”,象征其对地方饮食文化与家庭生活形态的开创之功。
主要祭祀时间
- Nguyễn Dị Cổ, Chuyện hai lăng hoàng hậu ở Quảng Nam, Báo Đà Nẵng, ngày 20/08/2023.
- Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, trang https://mactrieu.vn, ngày 25/03/2017.
- Lê Bình Trị, Hai bà hoàng hậu trên đất Duy Xuyên, trang https://mactrieu.vn, ngày 19/12/2016.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Tập 3, Đỗ Mộng Khương dịch (2006), Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations generales
L’Imperatrice Hieu Van (en caracteres chinois : 孝文皇后 ; 1578–1630), egalement connue sous son titre honorifique de Huy Cung Tu Than Thuan phi (徽恭慈慎順妃), fut l’epouse legitime du seigneur Nguyen Phuc Nguyen et la mere du seigneur Nguyen Phuc Lan.
Dans la memoire populaire du Sud du Vietnam, elle n’est pas seulement evoquee comme une grande figure maternelle de la lignee des seigneurs Nguyen, mais elle est aussi veneree sous le nom de Ba To Bep, c’est-a-dire la deesse fondatrice du foyer et de l’art culinaire. Les traditions transmises au sein des communautes locales reflètent son attachement a la vie domestique, a la cuisine et a la culture alimentaire, illustrant ainsi l’entrelacement entre l’histoire officielle et les croyances populaires, ou l’image de l’imperatrice Hieu Van est honoree comme une divinite protectrice du metier de cuisinier et de la culture gastronomique du Sud.
Origines
L’imperatrice Hieu Van etait issue de la famille imperiale des Mac, une dynastie qui regna sur le Dai Viet au XVIe siecle. Elle fut l’epouse principale du seigneur Nguyen Phuc Nguyen, dit le seigneur Sai, et la mere du seigneur Hien Nguyen Phuc Lan, successeur de la lignee des Nguyen en Dang Trong.
De naissance, elle portait le nom de famille Mac, lequel fut plus tard change en Nguyen par faveur seigneuriale. Sa terre natale etait le village de Co Trai, district de Nghi Duong, prefecture de Kinh Mon, province historique de Hai Duong (aujourd’hui commune de Ngu Doan, district de Kien Thuy, ville de Hai Phong), berceau originel de la dynastie Mac.
Elle etait la fille du prince Khiem, Mac Kinh Dien, grand dignitaire et pilier du regime Mac, qui joua un role majeur dans la defense et la preservation du pouvoir de cette dynastie durant sa periode intermediaire et tardive. Son nom personnel etait Mac Thi Giai ; apres son entree au palais des seigneurs Nguyen et en raison de la faveur particuliere dont elle beneficia, elle fut autorisee a prendre le nom Nguyen, apparaissant dans les chroniques et genealogies sous les noms de Nguyen Thi Giai ou Nguyen Thi Ngoc Giai.
Vie
L’imperatrice Hieu Van incarne une figure representative des profondes mutations historiques vecues par l’aristocratie des Mac a l’epoque de la chute de leur dynastie et de la formation d’un nouvel ordre politique en Dang Trong. Issue de la famille imperiale Mac, elle etait fille de Mac Kinh Dien, petite-fille du roi Mac Dang Doanh (certaines sources mentionnent Mac Dang Dung) et niece directe de Mac Canh Huong, grand commandant et haut dignitaire ayant joue un role cle dans la cooperation avec les premiers seigneurs Nguyen. Grace a cette base familiale, la branche Mac, bien que vaincue par les Le–Trinh, conserva une certaine securite dans les territoires meridionaux gouvernes par les Nguyen, malgre le mot d’ordre officiel de « soutenir les Le et eliminer les Mac ».
Apres la mort de son pere en 1580, la puissance des Mac declina rapidement. En 1592, face aux persecutions dirigees contre les « restes du regime Mac » par la cour Le–Trinh, la princesse Mac Thi Giai quitta sa terre natale de Co Trai et migra vers le Sud en 1593, a l’age de quinze ans, pour rejoindre son oncle Mac Canh Huong. Selon le Dai Nam liet truyen tien bien, elle « suivit son oncle Canh Huong vers le Sud, se refugia au monastere Phat Lam Son et fut ensuite inscrite comme residente du Quang Tri ». Cette periode de retraite monastique contribua a forger sa profondeur spirituelle et son caractere paisible, qualites que les historiens Nguyen decrivirent plus tard comme etant empreintes de douceur, de sagesse et de retenue.
Le tournant decisif de sa vie eut lieu lorsqu’elle fut recommandee au futur seigneur Nguyen Phuc Nguyen par Nguyen Thi Ngoc Duong, epouse de Mac Canh Huong et mere adoptive du prince heritier. Ce reseau complexe de liens familiaux entre les Mac et les Nguyen aboutit a son mariage avec Nguyen Phuc Nguyen vers 1595–1596. Les sources la decrivent comme une femme « lucide, mesuree et irreprochable dans ses paroles comme dans ses actes », ce qui lui valut l’affection profonde du seigneur et l’autorisation de changer de nom en Nguyen Thi Giai. Elle devint ainsi l’epouse legitime du seigneur Sai et fut ulterieurement honoree du titre d’imperatrice Hieu Van.
Elle donna naissance a cinq fils et trois filles, parmi lesquels se distingua Nguyen Phuc Lan, futur Than Tong Hoang de. Les princesses Ngoc Van et Ngoc Khoa furent mariees respectivement aux rois du Cambodge et du Champa, contribuant a l’expansion diplomatique et territoriale de Dang Trong. Par son origine Mac et son role d’epouse Nguyen, elle incarna un symbole de reconciliation et d’integration entre deux lignees autrefois rivales.
Au-dela des chroniques officielles, l’imperatrice Hieu Van demeure vivante dans la memoire populaire de Thuan Hoa et Quang Nam. Maitrisant l’art culinaire raffine de la cour des Mac, elle le transmit aux populations locales. Ainsi, apres sa mort, elle fut veneree comme la Deesse fondatrice de la cuisine, honoree pour avoir contribue a faconner les pratiques alimentaires et la vie quotidienne des communautes vietnamiennes du Sud.
Elle deceda le 12 decembre 1630 a l’age de 52 ans. Le seigneur Nguyen Phuc Nguyen, profondement attriste, lui confera a titre posthume le long titre de Huy Cung Tu Than On Thuc Thuan Trang Hieu Van Hoang hau et fit edifier son tombeau a Go Ham Rong, village de Chiem Son, district de Duy Xuyen, province de Quang Nam (aujourd’hui connu sous le nom de mausolee Vinh Dien). Elle est honoree conjointement avec son epoux au Thai Mieu et veneree au temple Vinh An.
Culte et veneration
L’imperatrice Hieu Van Mac Thi Giai mourut en l’an Canh Ngo (1630), au onzieme mois lunaire, alors qu’elle residait a Quang Nam aupres de son fils aine, le duc Khanh Nguyen Phuc Ky, gouverneur de la region. Son cercueil fut inhume au mont Chiem Son, dans le district de Duy Xuyen ; le mausolee porte le nom de Vinh Dien Lang (永延陵).
En 1744, sous le regne du seigneur Vo vuong Nguyen Phuc Khoat, elle fut officiellement honoree du titre de Huy Cung Tu Than Thuan phi. En 1806, l’empereur Gia Long confirma et completa son titre posthume en Huy Cung Tu Than On Thuc Thuan Trang Hieu Van Hoang hau.
Descendance
L’imperatrice Hieu Van eut huit enfants : cinq fils et trois filles, dont plusieurs jouerent un role majeur dans l’histoire politique et diplomatique du XVIIe siecle en Dang Trong.
Fils :
- Nguyen Phuc Ky, duc Khanh, gouverneur du Quang Nam.
- Nguyen Phuc Lan, futur empereur Than Tong Hieu Chieu.
- Nguyen Phuc Trung, execute pour rebellion.
- Nguyen Phuc An, peu mentionne dans les sources.
- Nguyen Phuc Nghia, mort en bas age.
Filles :
- Princesse Nguyen Phuc Ngoc Lien, epouse de Mac Canh Vinh.
- Princesse Nguyen Phuc Ngoc Van, epouse du roi Chey Chetta II du Cambodge.
- Princesse Nguyen Phuc Ngoc Khoa, epouse du roi champa Po Rome.
Le culte rendu a l’imperatrice Hieu Van est pratique a la fois dans le cadre des rites officiels de la cour Nguyen et dans les croyances populaires, refletant son statut de mere exemplaire et son influence durable sur la culture, la diplomatie et la vie spirituelle du Vietnam meridional.
Bibliographie
- Nguyễn Dị Cổ, Chuyện hai lăng hoàng hậu ở Quảng Nam, Báo Đà Nẵng, ngày 20/08/2023.
- Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, trang https://mactrieu.vn, ngày 25/03/2017.
- Lê Bình Trị, Hai bà hoàng hậu trên đất Duy Xuyên, trang https://mactrieu.vn, ngày 19/12/2016.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Tập 3, Đỗ Mộng Khương dịch (2006), Nxb Thuận Hóa.