Vua Lê Chân Tông (1630 – 1649)

Vua Lê Chân Tông (1630 – 1649)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Lê Chân Tông (chữ Hán: 黎真宗, 1630 – 2 tháng 10 năm 1649), tên húy là Lê Duy Hựu (黎維祐, cũng chép là 黎維禔), là vị Hoàng đế thứ bảy của nhà Lê Trung hưng và thứ mười tám của triều Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, trị vì từ tháng 10 năm 1643 đến tháng 10 năm 1649, tổng cộng sáu năm. Ông là con trưởng của vua Lê Thần Tông và Quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch, người xã Hoàng Đan, Sơn Nam Hạ (nay là xã Yên Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). 

Theo truyền thuyết dân gian lưu truyền ở vùng Sơn Nam Hạ, mẹ của Lê Chân Tông gặp vua Lê Thần Tông trong một hoàn cảnh đặc biệt. Một lần, vua ngự thuyền rồng xuôi dòng sông Đáy, khi đi qua xã Hoàng Đan, thuộc xứ Sơn Nam Hạ, nhà vua thấy nơi đây có một dải đất hình dáng kỳ lạ như chiếc thoi dệt vải, nên gọi là xóm Thoi. Khi thuyền vừa đến, vua nghe thấy tiếng hát trong trẻo, thánh thót vang vọng từ bờ sông. Ngước mắt tìm kiếm, nhà vua thấy một cô gái dung nhan diễm lệ, đang thoăn thoắt cắt cỏ bên bờ sông, vừa làm vừa hát, hoàn toàn không tỏ vẻ e ngại trước sự xuất hiện của Hoàng đế. Điều kỳ lạ là trên đầu cô gái lúc ấy xuất hiện một đám mây xanh lơ lửng, hình như chiếc lọng che. Thấy là chuyện khác thường, vua Lê Thần Tông truyền gọi cô gái lên thuyền rồng, trò chuyện và nhận ra cô không chỉ có dung mạo xinh đẹp mà còn có cử chỉ khoan thai, lời ăn tiếng nói thông minh, ứng đối trôi chảy. Vua đem lòng yêu mến, cho rước về cung lập làm Phi.

Bối cảnh lịch sử

Sang cuối thu năm Quý Mùi (1643), trong một lần vào chầu, Chúa Trịnh Tráng tình cờ gặp bà Tiệp dư họ Đặng khi ấy tuổi vừa đôi mươi, dung nhan diễm lệ như tiên nữ giáng trần. Chúa buột miệng cầm tay mà than rằng: “Thiên hương quốc sắc như thế này mà phải giam thân nơi chốn thâm cung ư?”.

Bà Tiệp dư liền đáp lời, giọng nghiêm nghị: “Vương gia chớ nên làm điều lỗi đạo thần tử như vậy”. Chúa cười mà rằng: “Bổn Vương chỉ hỏi đùa thôi, sao nàng lại kiêu hãnh thế? Hoàng thượng của nàng vốn cũng ở trong tay Bổn Vương, đừng làm quá nhiều trò”. Bà Tiệp dư điềm tĩnh trả lời: “Quyền nằm trong tay Vương gia, Vương gia muốn làm gì chẳng được. Thiếp đây chỉ là tiện nữ, chỉ biết tận trung, ngoài Hoàng thượng ra, chẳng hiểu thế nào là quyền cả”.

Chuyện này sau đó truyền ra ngoài, gây xôn xao khắp cung đình. Tự biết mình đã có phần quá đà, ngày 23 tháng 11 năm 1643, Chúa Trịnh Tráng ép Hoàng thượng nhường ngôi cho Thái tử Lê Duy Hựu, tức Lê Chân Tông, còn nhà vua tôn làm Thái thượng hoàng, ở riêng tại cung. 

Trị vì

Ngày 5 tháng 12 cùng năm, Lê Chân Tông sai Nguyễn Danh Thế mang phù tiết bằng ngọc và sách ấn vàng, gia tôn Trịnh Tráng làm Đại nguyên soái, thống quốc chính, thái thượng sư phụ Thanh vương.

Tuy nhiên, cũng như nhiều vị tiên vương trước đó, Lê Chân Tông chỉ là bậc quân chủ trên danh nghĩa. Thực quyền trị quốc đều do Thanh Đô vương Trịnh Tráng nắm giữ. Sang tháng Tư âm lịch, nhân danh vua Lê, Chúa Trịnh phong cho Trịnh Tạc chức Thái úy tả tướng, tiết chế các doanh quân thủy và bộ khắp các xứ, giữ toàn quyền điều binh khiển tướng, ban tước Tây Quận công và cho mở phủ Khiêm Định.

Gia quyến

Thân phụ: vua Lê Thần Tông

Thân mẫu: Quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch, truy tôn là Minh Thục hoàng thái hậu

Hậu phi: Phương Từ Hoàng hậu (? – 1688) Trịnh Thị con gái của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng

Em trai: Vua Lê Huyền Tông

Hậu duệ: Diệu Sắt Tinh Thụy Công chúa Lê Thị Ngọc Phù, con của hoàng hậu. 

Cuối đời – thờ phụng

Vào năm Kỷ Sửu (1649), ngày mùng 2 tháng 10, vua Lê Chân Tông băng hà, khi ấy mới vừa tròn hai mươi tuổi, ở ngôi được bảy năm, lại không để lại con nối dõi. Ngay sau đó, triều đình làm lễ rước thần chủ của vua nhập thờ tại Thái miếu, tôn miếu hiệu là Chân Tông, rồi tiến hành an táng tại Hoa Phố lăng, nơi quy tụ lăng mộ của các vị tiên đế nhà Lê.

Vì Lê Chân Tông không có người thừa tự, quyền điều hành đất nước vốn đã nằm trong tay Chúa Trịnh Tráng lại càng trở nên tuyệt đối. Để bảo đảm sự ổn định của triều chính và tiếp tục duy trì trật tự chính trị theo ý mình, Chúa Trịnh Tráng đã ép Thái thượng hoàng Lê Thần Tông từ cảnh an nhàn của bậc đã thoái vị, phải quay lại đảm nhận ngôi vua lần thứ hai, thay con tiếp tục trị vì.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

__________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Background

Lê Chân Tông (Chinese: 黎真宗; 1630 – 2 Oct 1649), personal name Lê Duy Hựu (黎維祐; also recorded as 黎維禔), was the 7th emperor of the Restored Lê and the 18th ruler of the Later Lê dynasty. He reigned from October 1643 to October 1649 (six years). He was the eldest son of Emperor Lê Thần Tông and Consort Nguyễn Thị Ngọc Bạch of Hoàng Đan village, Sơn Nam Hạ (today Yên Hưng commune, Ý Yên district, Nam Định province).

According to a popular tale in Sơn Nam Hạ, Lê Chân Tông’s mother met Lê Thần Tông under unusual circumstances. One day, as the emperor’s dragon barge drifted down the Đáy River and passed Hoàng Đan, he noticed a strangely spindle-shaped strip of land and called the hamlet Xóm Thoi (“Spindle Hamlet”). Hearing a clear, melodious voice from the bank, he looked up and saw a strikingly beautiful young woman cutting grass as she sang, unperturbed by the sovereign’s presence. Above her head hovered a bluish cloud like a parasol. Finding this extraordinary, the emperor summoned her aboard; discovering that she was not only comely but poised and quick-witted, he grew fond of her and brought her into the palace as a consort.

Historical context

In late autumn 1643 (Quý Mùi), while attending court, Lord Trịnh Tráng happened upon a youthful imperial concubine of the Đặng clan, whose beauty he praised aloud, even taking her hand and lamenting that such “heavenly fragrance and national beauty” should be confined to the deep palace. The concubine soberly rebuked him: “My lord should not transgress the ethics of a subject.” Trịnh Tráng laughed: “I jest—why so proud? Your emperor is in my hands; do not make too many airs.” She replied calmly: “Power lies with my lord; you may do as you wish. I am but a humble woman; I know only loyalty—beyond His Majesty I know no other authority.”

The incident spread and caused a stir at court. Aware he had overreached, on 23 November 1643 Lord Trịnh Tráng forced the emperor to abdicate in favor of the crown prince Lê Duy Hựu—now Lê Chân Tông—while the former emperor became Retired Emperor (Thái thượng hoàng), residing separately in the palace.

Reign

On 5 December of the same year, Lê Chân Tông dispatched Nguyễn Danh Thế bearing a jade tally and a golden patent to elevate Trịnh Tráng as Grand Marshal, Chief Minister of the Realm, Grand Preceptor, and Prince of Thanh (Thanh vương).

As with many predecessors, Lê Chân Tông was emperor in name only. Real authority lay with Prince of Thanh, Trịnh Tráng. In the fourth lunar month, acting in the emperor’s name, Lord Trịnh appointed Trịnh Tạc Grand Commandant and Left Chancellor, commander-in-chief of all land and naval forces across the provinces, granted him the title Duke of the West (Tây quận công), and permitted him to open the Khiêm Định chancellery.

Family

Father: Emperor Lê Thần Tông

Mother: Consort Nguyễn Thị Ngọc Bạch, posthumously honored as Empress Dowager Minh Thục

Empress: Phương Từ Empress (d. 1688), Trịnh Thị, daughter of Prince of Thanh Trịnh Tráng

Younger brother: Emperor Lê Huyền Tông

Issue: Princess Diệu Sắt Tinh Thụy – Lê Thị Ngọc Phù, daughter of the empress.

Final years and veneration

On the 2nd day of the 10th lunar month, 1649 (Kỷ Sửu), Lê Chân Tông died at age 20, having reigned seven years, and left no heir. His spirit tablet was enshrined in the Thái Miếu (Ancestral Temple) with the temple name Chân Tông, and he was buried in Hoa Phố Tomb, among the mausoleums of earlier Lê emperors.

Because he left no successor, and with state power already concentrated in the hands of Lord Trịnh Tráng, the lord’s control became absolute. To preserve political stability and maintain the established order, Trịnh Tráng compelled the Retired Emperor Lê Thần Tông to return from seclusion and resume the throne for a second reign, continuing governance in place of his deceased son.

References

  1. Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Youth Publishing House.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Education Publishing House.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Đồng Tháp General Publishing.
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, … (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Social Sciences Publishing House.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Nôm Heritage Preservation Association.
  6. Lê triều ngọc phả.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Bắc Thành Press.
  8. Imperial Historiography Office of the Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Education Publishing House.

__________________

Tiếng Pháp (français’)

Origines

Lê Chân Tông (chinois : 黎真宗, 1630 – 2 octobre 1649), nom personnel Lê Duy Hựu (黎維祐, aussi transcrit 黎維禔), est le septième empereur des Lê restaurés et le dix-huitième souverain de la dynastie des Hậu Lê dans l’histoire du Việt Nam. Il régna d’octobre 1643 à octobre 1649 (six ans au total). Fils aîné de l’empereur Lê Thần Tông et de la Dame de rang quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch, originaire du village de Hoàng Đan, Sơn Nam Hạ (aujourd’hui commune de Yên Hưng, district d’Ý Yên, province de Nam Định).

Selon une tradition populaire de la région de Sơn Nam Hạ, la mère de Lê Chân Tông rencontra Lê Thần Tông dans des circonstances particulières : un jour où le souverain descendait la rivière Đáy sur sa barque impériale et passait par Hoàng Đan, il entendit une voix claire et cristalline venant de la berge. Il aperçut une jeune fille d’une grande beauté qui coupait l’herbe tout en chantant, sans se troubler de la présence du roi ; au-dessus de sa tête flottait, dit-on, un nuage bleu semblable à un parasol. Intrigué, le roi la fit monter à bord, conversa avec elle, fut séduit par sa beauté, sa tenue et son esprit, et l’emmena au palais où elle devint concubine.

Contexte historique

À la fin de l’automne 1643 (année Quý Mùi), lors d’une audience, le seigneur Trịnh Tráng croisa la Tiệp dư (dame de rang) de la famille Đặng, jeune et d’une beauté éclatante. Il lui prit la main en s’exclamant : « Une beauté céleste et nationale comme vous, doit-elle donc rester enfermée au fond du harem ? »
La dame répondit avec gravité : « Monseigneur ne devrait pas commettre une faute contraire au devoir du sujet. » Le seigneur, moqueur : « Je plaisante… Et puis votre empereur n’est-il pas entre mes mains ? » Elle répliqua calmement : « Le pouvoir est à Monseigneur ; moi, humble servante, je ne connais que la loyauté : en dehors de l’Empereur, je n’entends point parler de pouvoir. »

L’affaire fit grand bruit. Conscient d’avoir dépassé les bornes, le 23 novembre 1643, Trịnh Tráng contraignit l’empereur à abdiquer en faveur du prince héritier Lê Duy Hựu (qui devint Lê Chân Tông) et éleva l’ancien souverain au rang de grand empereur retiré (Thái thượng hoàng).

Règne

Le 5 décembre de la même année, Lê Chân Tông chargea Nguyễn Danh Thế de porter le sceptre-symbole en jade et le sceau d’or pour conférer à Trịnh Tráng les titres de Grand commandant en chef, Régent des affaires de l’État, Grand maître et précepteur, prince de Thanh.

Comme ses prédécesseurs, Lê Chân Tông ne fut qu’un souverain de nom : le pouvoir effectif demeurait entre les mains du prince de Thanh, Trịnh Tráng. En avril (lunaire), au nom du roi Lê, le seigneur Trịnh éleva Trịnh Tạc au rang de Thái úy, grand ministre de gauche, avec commandement suprême des forces terrestres et navales dans tous les territoires, lui conféra le titre de Tây quận công et l’autorisa à ouvrir la résidence de Khiêm Định.

Famille

Père : l’empereur Lê Thần Tông

Mère : Quý phi Nguyễn Thị Ngọc Bạch, plus tard impératrice douairière Minh Thục

Impératrice : Phương Từ hoàng hậu († 1688), Trịnh Thị, fille du prince de Thanh Trịnh Tráng

Frère cadet : l’empereur Lê Huyền Tông

Descendance : princesse Diệu Sắt Tinh Thụy, Lê Thị Ngọc Phù, fille de l’impératrice

Fin de règne — culte

Le 2 octobre 1649 (année Kỷ Sửu), Lê Chân Tông mourut à vingt ans, après sept années de règne, sans héritier. La cour introduisit aussitôt sa tablette ancestrale au Thái miếu, lui décerna le nom de temple Chân Tông, puis l’inhuma au mausolée de Hoa Phố, nécropole des souverains Lê.

Faute d’héritier, le pouvoir déjà détenu par Trịnh Tráng devint absolu. Pour garantir la stabilité du régime et pérenniser l’ordre politique souhaité, Trịnh Tráng contraignit le grand empereur retiré Lê Thần Tông à reprendre le trône pour un second règne, succédant ainsi à son fils défunt.

Références

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, éd. Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, éd. Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, éd. Tổng hợp Đồng Tháp.
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, éd. Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm.
  6. Lê triều ngọc phả.
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nha In Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, éd. Giáo dục.

__________________

Tiếng Trung (中文)

身世

黎真宗(1630-1649年10月2日),諱黎維祐(亦作黎維禔),為黎中興第七位皇帝、後黎王朝第十八位君主,自1643年10月至1649年10月在位,共六年。其為黎神宗長子,生母為貴妃阮氏玉白,籍貫山南下黃丹社(今南定省意安縣安興社)。

民間傳說於山南下流傳:黎真宗之母與黎神宗邂逅於帶江。時王乘龍舟順流經黃丹社,見一片形如織梭之地,因名「梭村」。舟至,王聞岸上清亮歌聲,見一少女貌若芙蓉,割草而歌,毫無畏縮。其首上似有青雲如蓋。王以為異,召登舟對談,見其容儀雍雅、辭令敏捷,遂迎入宮立為妃。

歷史背景

癸未年(1643)深秋,鄭氏清都王鄭梉入朝,偶遇年方二十、容華若仙之鄧氏婕妤,遂失言執手嘆曰:「天香國色,豈可幽居深宮?」婕妤正色對曰:「王家毋可為失臣禮。」鄭梉笑曰:「本王戲言耳。爾之皇上本在本王之手,毋多作態。」婕妤鎮定曰:「權在王家,所欲皆可。妾但知盡忠,除皇上外,不知何謂權。」

此事外播,譁然一時。自覺過越,十一月二十三日(1643),鄭梉遂迫皇帝讓位於太子黎維祐,即位為黎真宗,而上尊黎神宗為太上皇,別居於宮。

在位

同年十二月初五,黎真宗命阮登世齎玉符、金冊金印,加尊鄭梉為大元帥、統國政、太上師傅清王。然如前代之例,皇帝多為名義之君,而實權操於清都王鄭梉。至翌年四月,鄭氏以王命授鄭柞為太尉左相,節制諸路水陸諸營,專總兵權,封西郡公,開府謙定。

家眷

父:黎神宗

母:貴妃阮氏玉白,追尊明淑皇太后

皇后:芳慈皇后鄭氏(清都王鄭梉之女)(?-1688)

弟:黎玄宗

後嗣:妙錫貞瑞公主黎氏玉符(皇后所生)

末年與祀奉

己丑年(1649)十月初二,黎真宗崩,年二十,在位七年,無子嗣。其神主入祀太廟,上廟號「真宗」,葬於花鋪陵,與歷代先帝陵域相毗連。以其無嗣,而國政早為鄭梉所專,為保政局,鄭梉遂迫太上皇黎神宗再度復辟,代子續治。

參考資料

  1. 瓊居、杜德雄,《各朝代越南》,青年出版社,2001。
  2. 潘輝注,《歷朝憲章類誌》,教育出版社,2007。
  3. 黎貴惇,《大越通史》,同塔綜合出版社,1993。
  4. 黎文休、潘夫僊、吳士連等,《大越史記全書》,社會科學出版社,1993。
  5. 黎嵩,《大越通鑑總論》,字喃遺產保護會。
  6. 《黎朝玉譜》。
  7. 陳仲金,《越南史略》,北城印書館,1943。
  8. 阮朝國史館,《欽定越史通鑑綱目》,教育出版社,1998。
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)