Thông tin chung
Hoàng phi Nguyễn Thị Kim (1765 – 1804) là vợ của vua Lê Chiêu Thống, vị vua cuối cùng của nhà Lê Trung hưng trong lịch sử Việt Nam. Bà được hậu thế biết đến như một biểu tượng của sự tiết hạnh, thủy chung và lòng trung thành đối với phu quân và vương triều
Xuất thân
Liệt phi Hoàng Thị Kim sinh năm Ất Dậu (1765), dưới triều vua Lê Hiển Tông. Bà quê ở thôn Tỳ Bà, huyện Gia Lương, xứ Kinh Bắc, nay thuộc thôn Tỳ Điện, xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Bà xuất thân trong một gia đình quan lại danh giá: cha là Tham đốc Vãn Trung hầu, một viên quan có uy tín trong triều. Anh trai bà là Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống, vị tụng thần trung thành, từng cùng Lê Quýnh hộ tống Hoàng thái hậu và con trai vua Lê Chiêu Thống sang nhà Thanh cầu viện, thể hiện sự gắn bó và trung nghĩa của gia tộc đối với vương triều Lê. Ngay từ thuở nhỏ, Hoàng Thị Kim đã nổi tiếng xinh đẹp, nết na, được nuôi dạy chu đáo, hội đủ các phẩm chất “công, dung, ngôn, hạnh” của người phụ nữ khuê các. Bà được sử sách và truyền tụng đánh giá là người vợ thủy chung, giữ trọn danh tiết, tiêu biểu cho chuẩn mực đạo đức Nho giáo của phụ nữ thời Lê mạt.
Cuộc đời
Tuổi trẻ
Nguyễn Thị Kim, hậu nhân tôn xưng là Liệt phi, là người làng Tỳ Bà, huyện Lương Tài, trấn Kinh Bắc (nay là thôn Tỳ Bà, xã Phú Hòa, huyện Gia Lương, tỉnh Bắc Ninh). Theo bài thơ Tỳ Bà phu nhân tuẫn tiết hành của Nguyễn Huy Túc, bà sinh năm Ất Dậu (1765), tính ra lớn hơn chồng là Lê Duy Kỳ tức Lê Chiêu Thống (1766–1793) một tuổi.
Tuy sử sách không ghi chép tường tận, song nhiều dấu hiệu cho thấy bà có quan hệ huyết thống với Thái hậu (mẹ vua Lê Chiêu Thống) và là em gái của Phượng Thái hầu Nguyễn Quốc Đống. Cả ba người đều xuất thân từ làng Tỳ Bà, vì vậy, những kẻ đối nghịch đã vin vào mối quan hệ này để dè bỉu vua Lê Chiêu Thống bằng những lời vu cáo nặng nề như “sát thúc dâm muội” (giết chú để lấy em).
Thực tế, việc ba hoàng thúc nhà Lê bị giết vốn bắt nguồn từ những tranh chấp quyền lực từ trước, chứ không phải do vua Lê khi được quân Thanh đưa về Thăng Long mới “dựa thế người ngoài để ân đền oán trả” như Hoàng Lê nhất thống chí từng bịa đặt. Dẫu sao, nếu xét về mặt hôn nhân, mối quan hệ giữa Lê Duy Kỳ và Nguyễn Thị Kim – dù có thể là con cô, con cậu hay cháu cô, cháu cậu – cũng không đến mức loạn luân, nhất là khi so sánh với chế độ nội hôn thời Trần. Những cáo buộc về thông dâm, bất hiếu vốn là thủ đoạn chính trị quen thuộc được sử dụng rộng rãi vào cuối đời Lê và đầu đời Nguyễn nhằm hạ bệ đối phương.
Nhập cung
Theo bài thơ của Nguyễn Huy Túc, Nguyễn Thị Kim nhập cung năm mười bảy tuổi, tức vào năm Tân Sửu (1781). Tuy nhiên, đối chiếu với các tài liệu sử học cho thấy từ năm Tân Mão (1771) khi Thái tử Lê Duy Vĩ (con vua Hiển Tông, cha vua Chiêu Thống) bị Trịnh Sâm sát hại – thì vợ và ba người con trai của ông (Lê Duy Kỳ, Lê Duy Lứu và Lê Duy Chỉ) đều bị giam vào ngục, mãi đến năm Quý Mão (1783) mới được tha. Do đó, sớm nhất cũng phải đến năm Quý Mão (1783), Nguyễn Thị Kim và Lê Duy Kỳ mới có thể chính thức sánh duyên. Khi ấy, Lê Duy Kỳ 18 tuổi, Nguyễn Thị Kim 19 tuổi.
Năm Bính Ngọ (1786), vua Lê Hiển Tông băng hà, Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, tức vua Lê Chiêu Thống. Cũng trong năm đó, vương phi Nguyễn Thị Kim mang thai và sinh người con trai đầu lòng là Lê Duy Thuyên.
Theo truyền khẩu trong dân gian, bà được gọi là Hậu Tỳ Bà, tức hoàng hậu người làng Tỳ Bà. Khi ở trong cung, bà còn được mệnh danh là Đức Cô (德姑) – nghĩa là người phụ nữ có đức hạnh. Bà là người được vua Chiêu Thống yêu quý nhất trong hậu cung (寵冠後庭 – sủng quán hậu đình), lại sinh ra nguyên tử, nên vua Lê từng có ý lập bà làm hoàng hậu, song chưa kịp thực hiện thì biến cố lịch sử đã xảy ra, buộc nhà vua phải bỏ kinh thành lưu vong.
Bôn tẩu
Cuối năm Đinh Mùi (1787), tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm đem quân ra Bắc, giết cha con Nguyễn Hữu Chỉnh. Vua Chiêu Thống phải rời bỏ kinh đô, lưu lạc khắp nơi. Các em vua mỗi người một ngả, một số quốc thích thì hộ tống mẹ, vợ và con nhỏ chạy lên phía bắc trong khi bị quân Tây Sơn truy kích gắt gao.
Theo lời khai của nhóm người này với quan quân nhà Thanh, tháng Chạp năm ấy họ tới được xã Bác Sơn, huyện Võ Nhai (Thái Nguyên) để ẩn náu. Cùng thời điểm đó, vua Lê chạy lên Lạng Giang, được Trường Phái hầu Lê Quýnh đem gia nhân và hương binh bảo vệ. Danh nghĩa là mưu đồ phục quốc, nhưng thực chất đoàn người phải bôn tẩu liên miên, khi ở Chí Linh (Hải Dương), lúc lại sang Vị Hoàng (Nam Định).
Khi hay tin gia đình lâm nạn, vua Chiêu Thống liền sai Lê Quýnh cùng Nguyễn Quốc Đống lên Võ Nhai để bảo vệ mẹ, vợ và con.
Tháng Tư năm Mậu Thân (1788), đoàn người đến Võ Nhai thì bị một số thổ mục mưu toan bắt giữ gia quyến vua Lê để lập công với quân Tây Sơn sắp kéo đến. Nguyễn Huy Túc, Đốc trấn Cao Bằng, hay tin liền đón gia quyến chạy lên Mục Mã (Cao Bằng), song bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, phần lớn đoàn hộ tống bị giết.
Ngày mồng 4 tháng Năm (7/6/1788), khi truy binh áp sát, Hoàng Ích Hiểu đưa gia quyến vua Lê xuống thuyền xuôi dòng ra cửa Thủy Khẩu, giáp với Long Châu của nhà Thanh, một trong ba cửa thông sang Trung Hoa.
Ngày 12 tháng Năm (theo Bắc hành tùng ký ghi là mồng 9, tức 15/6/1788), quân Tây Sơn tiếp tục truy kích. Gia quyến vua Lê được đưa ra một cồn cát giữa sông Phất Mê, trong khi quân hộ vệ chia làm hai mặt chống giữ. Đêm ấy, nhờ mưa to gió lớn, đoàn người lợi dụng ánh chớp mà lội qua sông sang đất nhà Thanh.
Hôm sau, họ tìm được nhau, tạm trú trong một hang núi, ăn rễ cây rừng, xin thêm được ít bắp ngô của thổ dân. Mãi vài ngày sau, quan quân nhà Thanh mới hay tin, sai người đến tra hỏi rồi đưa tất cả về Long Châu.
Tóm lại, cuộc đào thoát của gia quyến vua Lê sang đất Thanh là một hành trình sinh tử khốc liệt. Từ một đoàn hơn 200 người (chưa kể quân hộ vệ của Nguyễn Huy Túc), chỉ còn lại 62 người sống sót, tỷ lệ thương vong lên tới bốn chết ba, gian nan hơn bất kỳ cuộc đào tẩu nào có thể hình dung.
Đáng lưu ý, sử nước ta hầu như không nhắc đến việc vương phi và vương tử cùng chạy sang Trung Hoa, mà chỉ tập trung nhấn mạnh hình ảnh Thái hậu “gào khóc xin cứu viện”.
Cầu viện
Khi hay tin gia quyến nhà Lê sang tị nạn, Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị tâu lên vua Càn Long, xin đem quân sang cứu viện. Nhà Thanh lấy danh nghĩa “tự tiểu tồn vong, hưng diệt kế tuyệt” (nuôi kẻ nhỏ cho khỏi mất, dựng kẻ đã diệt, nối dòng đã đứt), sai Tôn Sĩ Nghị, Hứa Thế Hanh và Ô Đại Kinh đem quân Lưỡng Quảng và Vân–Quý sang đánh Tây Sơn.
Chỉ trong chưa đầy một tháng, quân Thanh tiến xuống chiếm lại Thăng Long. Ngày 22 tháng 11 năm Mậu Thân (19/12/1788), Tôn Sĩ Nghị vào thành, tuyên đọc sắc phong Lê Duy Kỳ làm An Nam quốc vương. Vua Chiêu Thống liền sai Nguyễn Quốc Đống sang Trung Hoa đón gia quyến.
Theo Khâm định An Nam kỷ lược, thái hậu, vương phi và nguyên tử trở về Thăng Long đúng vào đêm ba mươi Tết năm ấy (25/1/1789). Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau, vua Quang Trung kéo quân ra Bắc, đại phá quân Thanh trong chiến thắng lẫy lừng. Tôn Sĩ Nghị phải bỏ chạy, quân Thanh tan rã.
Lưu vong
Về phần vua Lê Chiêu Thống, sau thất bại của quân Thanh trước Tây Sơn, ông cùng một số thân thuộc chạy được sang Trung Hoa. Trong đoàn người đi theo có Thái hậu và nguyên tử, song vương phi bị lạc, không kịp theo đoàn trong cơn binh biến. Khi triều Thanh chính thức thừa nhận và phong vương cho Nguyễn Huệ, vua tôi nhà Lê buộc phải nhập tịch làm con dân Trung Hoa, cắt tóc thắt đuôi sam, mặc y phục nội địa và bị chia ra an trí tại nhiều địa phương khác nhau.
Theo sử liệu nhà Thanh, ban đầu việc an tháp được tiến hành như sau:
- Lê Duy Kỳ, cùng Thái hậu và nguyên tử, tổng cộng 54 người, và nhóm đồng tộc của Lê Duy Án gồm 10 người, được đưa tới Quế Lâm.
- Phan Khải Tích cùng 5 người bị đưa đi Tầm Châu.
- Bế Nguyễn Cung cùng 53 người an trí tại Uất Lâm.
- Bế Nguyễn Doãn cùng 36 người cũng bị đưa tới Tầm Châu.
- Đinh Nhã Hành cùng 24 người bị đưa tới Toàn Châu.
- Những người còn lại bị phân tán đi Bình Lạc, Liễu Châu, mỗi nơi một số ít. (8)
Đến tháng Chạp năm Kỷ Dậu (1789), vua Càn Long hay tin Lê Duy Chỉ (em vua Chiêu Thống) vẫn còn tiếp tục khởi binh chống Tây Sơn tại các vùng Cao Bằng, Na Lữ, Bảo Lạc, nên lo ngại rằng nếu để nhóm Lê Duy Kỳ an trí tại Quế Lâm, vốn gần biên giới, có thể nảy sinh liên lạc, đồng mưu. Vì vậy, vua Thanh truyền cho Phúc Khang An đưa vua Chiêu Thống cùng các nhóm Đinh Nhã Hành, Phan Khải Đức, Nguyễn Đình Bái lên kinh đô Bắc Kinh, cho nhập vào kỳ binh người Hán, tổ chức thành một tá lãnh do vua Lê đứng đầu, ban hàm tam phẩm thế tập.
Riêng nhóm của Lê Quýnh vốn được Phúc Khang An dụ sang nhằm triệt tiêu các lực lượng chống đối trong nước để giúp vua Quang Trung yên tâm sang dự lễ Bát tuần vạn thọ của vua Càn Long nhất quyết không chịu cắt tóc, nên toàn bộ đều bị tống giam hơn mười năm, mãi về sau mới được thả.
Trong thời gian lưu vong, vua Lê và những người đi theo nhiều lần vận động triều Thanh: nếu không thể gây sức ép buộc Tây Sơn cắt cho họ một phần đất ở Thái Nguyên hoặc Cao Bằng làm nơi dung thân, thì cũng xin cho phép họ trở về Đồng Nai, sinh sống trong vùng đất thuộc chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh). Tuy nhiên, triều Thanh không muốn làm phát sinh thêm rắc rối trong quan hệ ngoại giao với các phiên thuộc, nên đều bỏ qua, không xem xét.
Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, đến tháng Năm năm Nhâm Tý (1792), nguyên tử của vua Lê bị bệnh qua đời. Năm sau, vua Lê Chiêu Thống vì u uất mà mất vào ngày 16 tháng Mười năm Quý Sửu (1793). Đến năm Kỷ Mùi (1799), Thái hậu cũng từ trần.
An trinh thủ tiết
Về phần Nguyễn Thị Kim, do bị lạc đoàn khi chạy loạn, bà phải ẩn náu nơi thôn dã, sống nhờ họ hàng, dệt vải kiếm ăn, không dám lộ diện nơi thành thị. Theo chú thích của Nguyễn Huy Túc, bà từng ở ẩn tại xã Võng La, tỉnh Sơn Tây; một số tài liệu khác cho rằng bà đi tu tại chùa quê nhà.
Như vậy, suốt gần 14 năm (từ 1789 đến 1802), bà sống lặng lẽ trong cảnh lưu lạc. Bà nhiều lần dò hỏi tin tức, từng toan sang Trung Hoa tìm chồng, rồi lại nhiều lần toan quyên sinh nhưng được khuyên can.
Khi hay tin linh cữu vua Lê được đưa về nước, bà Nguyễn Thị Kim lên tận Nam Quan để đón. Từ đó, bà tuyệt thực, mỗi ngày chỉ uống vài chén nước cơm để cầm hơi, luôn ở kề cận bên linh cữu. Ngày 23 tháng Chín năm Giáp Tý (1804), linh cữu về đến Thăng Long, được đưa vào nhà của Diên Tự công Lê Duy Hoán (con của Lê Duy Chỉ) để làm lễ tế. Từ hôm ấy, mỗi ngày hoàng phi chỉ nhai vài lóng mía. Sau đó, Hoàng phi Nguyễn Thị Kim uống thuốc độc tự tử. Sau khi Liệt phi qua đời, các bầy tôi cũ của nhà Lê – kể cả những người đã từng cộng tác với Tây Sơn – đã để lại nhiều văn thơ ca tụng.
Các quan ở Bắc thành có viếng đôi câu đối:
五八旬祝地損身, 千古倫常照宇宙
十六載移夫没子, 一腔義烈答君王
Phiên âm:
Ngũ bát tuần chúc địa tổn thân, thiên cổ luân thường chiếu vũ trụ.
Thập lục tải di phu một tử, nhất xoang nghĩa liệt đáp quân vương.
Tạm dịch:
Bốn mươi tuổi bỏ thân về đất, mãi mãi luân thường soi vũ trụ.
Mười sáu năm xa chồng con chết, một lòng nghĩa liệt báo quân vương.
Về cuộc đời bà, Nguyễn Huy Túc có soạn bài văn Tiêu cung tuẫn tiết hành (椒宮殉節行).
順安良才來天德。古人命邑號琵琶。
琵琶古曲知何意。大堤軋彼貌如花。
英華悉嗶萃簪纓。景興乙酉佳時節。
望門誕育女中豪。言行工容無玷闕。
越從十七入青宮。纔登丙午夢呈熊。
日高影照天恩重。海潤星輝福氣濃。
丁未猖獗西山賊。卷地風塵驚不測。
羽葆隨鑾出鳳城。御林星散長安北。
落慌匹馬文峯還。別跟慈幔武崖山。
湘裙羅襪悲踰險。槨質蒲姿苦耐寒。
遠徼望龍音寂寞。閒庭泣虺淚闌干。
忽然何處淵淵鼓。高平閫將拜迎鑾。
駕回牧馬暫休歇。御舟隨進弗迷關。
賊兵聞信來追躡。箭落火飛鋒刃接。
數株夭竹過危灘。蕩覆顛傾還利涉。
緣崖攀木上高巔。雨沱瘴重色迷天。
土人踴躍前途送。山觜崎嶇小徑穿。
路盡有山山有洞。洞中香井水清漣。
想來此洞何年鑿。早知今日有神仙。
泉水山芝將度日。烏啼花落撩愁鬱。
信通內地判上司。詳門根由聲詰屈。
上司火速撥輿檯。送到龍州權駐蹕。
供需品物既豐盈。守護兵丁尤慎密。
撫擡旋派進南寧。內外莊嚴廠旅亭。
南北辛酸經幾度。不曾造次錯儀型。
維承慈訓嚴規範。自是椒宮禮度明。
越從上國允來援。萬里凱歌聞捷信。
翠花仙仗指南還。上苑春融故宮殿。
友琴樂鼓奏新聲。擁翠看花酬風願。
無端虐焰更焚穹。憂喜喜憂翻手變。
萬媲急擁六龍歸。少海慈宮著緊隨。
提携轉眼成相錯。隆謫交迷可奮飛。
覓條西上綱羅貫。幽獨一方腸欲斷。
媚珠虞草豈無時。何苦流離空匿怨。
誰云夏鼎久微煙。旅成再造在遺編。
上國同袍修戟日。君王嘗腑臥薪年。
假使雄才憂復社。能無遺恨一嬋娟。
迨夫癸丑能髯絕。底事疑信聞傳說。
豈其民望舊君深。此謀恐墜西山謫。
漢皇興運命更新。封使來時語亦云。
若把連城先碎了。未必香魂伴紫雲。
一十六年會鄭重。肯輕孫妹漢江身。
會使一二袍兄弟。直來北塞叩原因。
內投誓到三陵所。便將性命委羅巾。
從古營生勞且苦。誰知謀死更艱辛。
詎意天機相巧湊。宰臣扈蹕先題奏。
大清皇帝準南還。序逢甲子中秋候。
初聞皇遽便親迎。常餐頓減花容瘦。
迢迢舟楫渡瀘江。轎傘笙鏞入祀堂。
士庶凝愁瞻鹵簿。臣僚拭淚獻瓊觴。
閨中況味描難盡。薄將禮物澣香湯。
啟廞一覩冠袍樣。歛衽凝眸拜上床。
帳裡回身辭女主。甘將鴆毒沃肝腸。
說閙黄髫皆駭異。唁聞省署亦姿傷。
紅錦青蚨榮賵賻。艷辭綺句送稱揚。
妙哉一死求而得。死得聲名萬古香。
繄彼春閨如玉好。暮雨朝雲無足道。
黄金橫帶為何人。諂媚平生恣奸狡。
一朝世變鍾簴移。拜虜獻諛如故套。
醉中一唱覺寒心。冷處加鞭應靦貌。
幾會粉黛弼臯刑。怪得琚璜裨契教。
上比葩詩樛逮葛。旁稽湘嶺竹生班。
既有古人行所易。詎無今日得其難。
Phiên âm:
Thuận An Lương Tài lai Thiên Đức. Cổ nhân mệnh ấp hiệu Tỳ Bà.
Tỳ bà cổ khúc tri hà ý. Đại đê yết bí mạo như hoa.
Anh hoa tất tất tụy trâm anh. Cảnh Hưng Ất Dậu giai thì tiết.
Vọng môn đản dục nữ trung hào. Ngôn hành công dung vô điếm khuyết.
Việt tòng thập thất nhập thanh cung. Tài đăng Bính Ngọ mộng trình hùng.
Nhật cao ảnh chiếu thiên ân trọng. Hải nhuận tinh huy phúc khí nùng.
Đinh Vị xương quyết Tây Sơn tặc. Quyển địa phong trần kinh bất trắc.
Vũ bảo tùy loan xuất phượng thành. Ngự lâm tinh tán trường an bắc.
Lạc hoảng thất mã văn phong hoàn. Biệt cân từ mạn Vũ Nhai san.
Tương quần la miệt bị du hiểm. Quách chất bồ tư khổ nại hàn.
Viễn kiểu vọng long âm tịch mịch. Nhàn đình khấp hủy lệ lan can.
Hốt nhiên hà xử uyên uyên cổ. Cao Bằng khổn tương bái nghênh loan.
Giá hồi Mục Mã tạm hưu yết. Ngự chu tùy tiến Phất Mê quan.
Tặc binh văn tín lại truy niếp. Tiễn lạc hỏa phi phong nhận tiếp.
Sổ chu yêu trúc quá nguy than. Đăng phúc điên khuynh hoàn lợi thiệp.
Duyên nhai phàn mộc thượng cao điện. Vũ đà chướng trọng sắc mê thiên.
Thổ nhân dũng dược tiền đồ tống. Sơn chủy kỳ khu tiểu kính xuyên.
Lộ tận hữu san, san hữu động. Động trung hương tỉnh thủy thanh liên.
Tưởng lai thử động hà niên tạc. Tảo tri kim nhật hữu thần tiên.
Tuyền thủy san chi tương độ nhật. Ô đề hoa lạc liêu sầu uất.
Tín thông nội địa phán thượng ty. Tường môn căn do thanh cật khuất.
Thượng ty hỏa tốc bát dư thai. Tống đáo Long Châu quyền trú tất.
Cung nhu phẩm vật ký phong doanh. Thủ hộ binh đinh vưu thận mật.
Phủ dài toàn phải tiến Nam Ninh. Nội ngoại trang nghiêm xưởng lữ đình.
Nam bắc tân toan kinh kỷ độ. Bất tằng tạo thứ thác nghi hình.
Duy thừa từ huấn nghiêm quy phạm. Tự thị tiêu cung lễ độ minh.
Việt tòng thượng quốc duẫn lai viện. Vạn lý khải ca văn tiệp tín.
Thúy hoa tiên trượng chỉ nam hoàn. Thượng uyển xuân dung cố cung điện.
Hữu cầm nhạc cổ tấu tân thanh. Úng thủy khán hoa thù phong nguyện.
Vô đoan ngược diễm canh phần khung. Ưu hỉ hỉ ưu phiên thủ biến.
Vạn bễ cấp ủng lục long quy. Thiểu hải từ cung trứ khẩn tùy.
Đề huề chuyển nhãn thành tương thác. Long trích giao mê khả phấn phi.
Mịch điều tây thượng cương la quán. U độc nhất phương tràng dục đoạn.
Mị Châu ngu thảo khởi vô thì. Hà khổ lưu ly không nặc oán.
Thùy vân hạ đỉnh cửu vi yên. Lữ thành tái tạo tại di biên.
Thượng quốc đồng bào tu kích nhật. Quân vương thường phủ ngọa tân niên.
Giả sử hùng tài ưu phục xã. Năng vô di hận nhất thiền quyên.
Đãi phu Quý Sửu năng nhiễm tuyệt. Để sự nghi tín văn truyền thuyết.
Khởi kỳ dân vọng cựu quân thâm. Thử mưu khủng trụy Tây Sơn trích.
Hán hoàng hưng vận mệnh canh tân. Phong sử lại thì ngữ diệc vân.
Nhược bả liên thành tiên toái liễu. Vị tất hương hồn bạn tử vân.
Nhất thập lục niên hội trịnh trọng. Khẳng khinh Tôn muội Hán giang thân.
Hội sử nhất nhị bào huynh đệ. Trực lai bắc tắc khấu nguyên nhân.
Nội đầu thệ đáo tam lăng sở. Tiện tương tính mệnh ủy la cân.
Tòng cổ doanh sanh lao thả khổ. Thùy tri mưu tử canh gian tân.
Cự ý thiên ky tương xảo thấu. Tể thần hỗ tất tiên đề tấu.
Đại Thanh hoàng đế chuẩn nam hoàn. Tự phùng giáp tử trung thu hậu.
Sơ văn hoàng cự tiện thân nghênh. Thường xan đốn giảm hoa dung sấu.
Điều điều chủ tiếp độ lô giang. Kiệu tán sanh dong nhập tự đường.
Sĩ thứ ngưng sầu chiêm lỗ bộ. Thần liêu thức lệ hiến quỳnh thương.
Khuê trung huống vị miêu nan tận. Bạc tương lễ vật cán hương thang.
Khải hận nhất đổ quan bào dạng. Liễm nhẫm ngưng mâu bái thượng sàng.
Trưởng lý hồi thân từ nữ chủ. Cam tương chậm độc ốc can tràng.
Thuyết náo hoàng thiều giai hãi dị. Nghiễn văn tỉnh thự diệc tư thương.
Hồng cẩm thanh phù vinh phúng phụ. Diễm từ khi cú tống xưng dương.
Diệu tai nhất tử cầu nhi đắc. Tử đắc thanh danh vạn cổ hương.
Ế bỉ xuân khuê như ngọc hảo. Mộ vũ triều vân vô túc đạo.
Hoàng kim hoành đái vi hà nhân. Siểm mị bình sanh tử gian giảo.
Nhất triêu thế biến chung cự di. Bái lỗ hiến du như cố sáo.
Túy trung nhất xướng giác hàn tâm. Lãnh xử gia tiên ứng điến mạo.
Cơ hội phấn đại bật cao hình. Quái đắc cư hoàng bì khế giáo.
Thượng bị ba thi cù đãi cát. Bàng kê tương lĩnh trúc sanh ban.
Ký hữu cổ nhân hành sở dịch. Cự vô kim nhật đắc kỳ nan.
Bản dịch sau đây trích trong Hoàng Lê nhất thống chí (Bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch, Hà Nội, Nxb Văn học, 2002) từ trang 425 đến 430 (các cước chú trong bài đều lấy từ cuốn sách này):
Đất Thuận An cạnh sông Thiên Đức,
Người đời xưa gọi ấp Tỳ Bà.
Khúc tỳ mượn ý đặt ra,
Trời sinh người đẹp sánh hoa Đại-đề
Khí tươi tốt nhóm về khuê tú,
Năm Cảnh Hưng Ất-Dậu (1765) mừng sao,
Nhà sang sinh bậc nữ hào,
Công, dung, ngôn, hạnh vẻ nào kém đâu.
Tuổi mười bảy kén vào cung khuyết,
Bính Ngọ (1786) liền sớm biết điềm hùng
Ơn trên cao cả muôn trùng, Đượm nhuần mưa móc phúc hồng chứa chan,
Năm Đinh Vị (1787) Tây Sơn khởi biến.
Cảnh phong trần chợt đến khôn lường.
Ngoài thành giong ruổi xe hương,
Quân hầu tan tác, bàng hoàng bên sông.
Vó ngựa lạc văn phong mấy độ,
Theo từ vi đến Võ Nhai sơn.
Quần hồng lận đận núi ngàn
Liễu bồ phải chịu muôn vàn long đong,
Xa trông đợi tin rồng vắng bặt,
Chốn nhân đình nước mắt chứa chan.
Bỗng đâu tiếng trống nổi ran,
Tướng Cao Bằng rước xe loan lên đường.
Tới Mục Mã vội vàng nghỉ lại,
Thuyền vua giong lên ải Phất Mê.
Địch nghe tin, kíp đuổi kề,
Tên bay đạn lạc bốn bề rối ren.
Bè một mảng qua phen kinh hãi,
Bao hiểm nghèo rồi lại bình yên.
Vin cây giẫm đá trèo lên,
Mưa mù lam chướng đầy trên một trời.
Dân sở tại chào mời, đưa dắt, Gập ghềnh theo lối tắt đường ngang.
Hết đường, tới núi, vào hang,
Giếng thơm trong suốt, nước đang dạt dào.
Biết động ấy thuở nào đào đục?
Mà hôm nay hưởng phúc thần tiên!
Nước ngàn rau núi cũng yên, Chim kêu, hoa rụng, nỗi buồn tạm khuây.
Trong nội địa tin đầu bay đến,
Quan trên liền sai khiến người sang.
Trước sau căn vặn tỏ tường,
Long Châu tạm đón dọc đường nghỉ chân.
Cấp phẩm vật mọi phần tươm tất,
Lính đưa đường cẩn mật, tận tình.
Rồi cho đến ở Nam Ninh,
Cửa nhà rộng rãi quán đình nghiêm trang.
Dù Nam, Bắc, đôi đường chua xót,
Lễ nghi thường chưa chút đơn sai,
Một niềm từ huấn vâng lời,
Tiêu phòng giữ lễ trong ngoài phân minh.
Nhờ thượng quốc đề binh cứu viện,
Muôn dặm xa đưa đến tin vui, Về Nam cờ quạt rợp trời,
Vườn xưa điện cũ sáng ngời vẻ xuân.
Tiếng đàn, trống muôn phần rộn rã,
Cảnh cỏ hoa thỏa dạ lâu nay.
Nào ngờ vạ gió tại bay,
Buồn vui chốc lát đổi thay khôn lường
Trên ngự giá vội vàng ra ải,
Từ vi và cháu dại cùng đi.
Não lòng thay lúc biệt ly,
Bỗng dưng kẻ ở người đi rã rời.
Sang phía tây tìm nơi lẩn tránh,
Cảnh chơ vơ, cô quạnh, đau thương.
My, Ngu xưa cũng một phường,
Ai làm nên nỗi dặm đường gian truân.
Xưa nhà Hạ có lần suy bại,
Một lữ, thành dấy lại cơ đồ.
Giáo gươm thượng quốc giùm cho,
Nằm gai nếm mật vua lo đủ điều.
Vị xã tắc có nhiều người giỏi,
Phận thuyền quyên đầu phải gian nan.
Khoảng năm Quý Sửu (1793) đồn sang,
“Chầu trời” tin ấy bàng hoàng một phen.
Nghĩ vì lẽ dân đen mong mỏi,
Nền Tây Sơn kia nói sai ngoa,
Đến khi vận mở nước nhà,
Sứ thần sang, mới biết là không sai.
Vi ngọc nát, về nơi chín suối,
Hương hồn khôn bạn với tiên quân.
Mười sáu năm, biết mấy lần,
Rắp theo Tôn muội làm thân chết chìm.
Khiến gia thuộc dò tìm mấy độ,
Lên ải quan hỏi rõ nguyên nhân.
Thề sang tới mộ cổ quân,
Quyết liều tính mệnh với khăn lụa là.
Sống là khó, xưa đà có biết,
Nào hay đâu muốn chết cũng gay.
Cơ trời sao khéo vần xoay,
Quan trên đã lấy việc này tâu lên.
Cho về nước, vua liền có chỉ,
Tiết Trung thu, Giáp Tý (1804) vừa qua.
Vội vàng lên đón linh xa,
Cháo cơm biếng nuốt, mặt hoa võ vàng.
Thuyền đủng đỉnh Lô Giang qua bến,
Kiệu toàn che, rước đến từ đường.
Thần liêu dâng chén quỳnh tương,
Trông lên, trăm họ đôi hàng lệ sa.
Tình khuê phụ thật là khó vẽ,
Rửa nước thơm làm lễ gọi là.
Mở quan, cái mặt nhìn qua,
Chắp tay vái lạy lệ nhòa hai mi.
Cầm thuốc độc thầm thì từ tạ
Lui vào màn uống cả một hơi,
Trẻ già ai nấy rụng rời,
Triều đình nghe tiếng bồi hồi tiếc thương.
Ban gấm vóc bạc vàng phúng viếng,
Bao vần thơ lên tiếng ngợi khen.
Khen thay! một chết phỉ nguyền,
Thơm tho muôn thuở con thuyền thanh danh,
Kìa khuê các ngọc lành hiếm có,
Sá chi luống mộ vũ triều vân
Đai vàng nọ đứa nịnh thần,
Một đời ton hót làm thân gian tà.
Kịp đến lúc sơn hà biến đổi,
Trước quân thù quỳ gối, chắp tay.
Lạnh lòng khi đọc thơ này,
Khác nào roi quất, mặt dày mày ê.
Thân khuê các giúp bề Tiết giáo,
Mặt phấn son phụ đạo Cao hình.
So thơ Cù, Cát đã đành,
Trúc Tương vằn đẹp lưu danh muôn đời.
Người xưa làm việc dễ rồi.
Nay làm việc khó không người đó sao?
Vua Tự Đức trong Việt sử ngự chế tổng vịnh cũng có thơ đề cập đến Hoàng phi Nguyễn Thị Kim, ghi nhận tiết nghĩa và sự tuẫn tiết của bà:
Nguyên văn:
羈靮匆忙痛莫追。
釵鈿荆布久迷離。
朝朝絕粒朝歸殯。
一盞砒霜更與隨。
Phiên âm:
Ky đích thông mang thống mạc truy,
Thoa điền kinh bố cửu mê ly.
Triều triều tuyệt lạp triều quy tẫn,
Nhất trản tỳ sương cánh dữ tùy.
Dịch thơ:
Lật đật không theo kịp vó câu,
Ấm nồng tình nghĩa bỗng xa nhau.
Nhịn ăn bỏ uống chờ thân chúa,
Tỳ sương một chén cũng đi sau.
Tính từ cuối năm Đinh Mùi (1787) đến năm Giáp Tý (1804), vợ chồng Nguyễn Thị Kim chỉ thực sự ở bên nhau đúng bốn ngày. Tuy vậy, giữa bao nhiêu biến loạn, hai người vẫn giữ được trọn vẹn tình nghĩa phu thê, trở thành một trong những bi kịch cảm động nhất của lịch sử hậu Lê.
Thờ phụng
Việc thờ phụng và tưởng nhớ Hoàng phi Nguyễn Thị Kim (1765 – 1804) được thực hiện trang trọng từ thời nhà Nguyễn cho đến ngày nay, nhằm tôn vinh sự tiết hạnh, thủy chung và lòng trung trinh của bà đối với vua Lê Chiêu Thống. Theo các nguồn sử liệu, sự ghi nhận đối với bà không chỉ dừng ở nghi lễ thờ tự mà còn được khắc ghi trong văn học, địa danh và ký ức lịch sử của hậu thế.
Sự vinh danh của triều đình nhà Nguyễn
Sau khi Hoàng phi Nguyễn Thị Kim uống thuốc độc tuẫn tiết theo chồng vào năm 1804, gương tiết liệt của bà đã được người khắp cả nước ca tụng là bậc tiết nghĩa. Bề tôi cũ của nhà Lê là Tô phái hầu Nguyễn Huy Túc đã làm bài Tiêu cung tuẫn tiết hành để ca ngợi hành trạng và tiết hạnh của bà.
Tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã đem việc này tâu lên vua Gia Long. Vua Gia Long bèn hạ chỉ ban khen, ghi nhận bà là bậc tiết nghĩa hiếm có. Theo chỉ dụ của vua Gia Long, triều đình cho dựng bia đá tại quê nhà của Hoàng phi với dòng chữ:
Yên trinh tuẫn nghĩa Nguyễn thị chi môn
(Ý nghĩa: Cửa nhà bà Nguyễn tiết hạnh, trung trinh)
Dòng chữ này nhằm nêu gương tiết hạnh cho đời sau, đồng thời chính thức xác lập vị thế đạo đức của Hoàng phi Nguyễn Thị Kim trong trật tự luân lý Nho giáo.
Triều đình nhà Nguyễn cấp cho gia đình bà 20 mẫu ruộng tự điền (ruộng dùng riêng cho việc thờ cúng), đồng thời cử hai người phu mộ để trông nom phần mộ và hương khói. Bên cạnh đó, dân làng quê bà cũng được tha thuế khóa, để chuyên tâm vào việc đèn nhang thờ phụng Hoàng phi theo lệ nhà nước ban cấp.
Hoàng phi Nguyễn Thị Kim được an táng cạnh lăng vua Lê Chiêu Thống và Thái hậu tại núi Bàn Thạch, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa, thể hiện sự ghi nhận chính thức của triều Nguyễn đối với tiết nghĩa của bà trong tư cách một chính phi của nhà Lê.
Các địa điểm thờ tự chính
Hiện nay, Hoàng phi Nguyễn Thị Kim được thờ phụng tại nhiều địa điểm gắn liền với quê hương và quãng đời lưu lạc, trong đó tiêu biểu nhất là hai nơi sau:
- Am Trinh Nghĩa (Bắc Ninh): Đây là nơi thờ chính của Hoàng phi tại quê hương bà, thuộc thôn Tỳ Điện (xưa là xã Tỳ Bà), xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Am Trinh Nghĩa hiện còn lưu giữ hai tấm bia đá cổ, trong đó có một tấm bia khắc dòng chữ “An trinh tuẫn nghĩa môn”, được dựng từ thời vua Gia Long theo chỉ dụ triều đình. Trải qua thời gian, am đã có dấu hiệu xuống cấp, song vẫn được hậu duệ dòng họ Nguyễn Văn và nhân dân địa phương chăm sóc, gìn giữ. Hiện nay đã có dự án đầu tư xây dựng lại Am Trinh Nghĩa nhằm khôi phục và phát huy giá trị lịch sử – tâm linh của di tích này.
- Chùa Dương Nham (Linh Quang) – Hải Phòng: Theo các giai thoại lịch sử, trong thời gian lưu lạc chờ tin chồng, Hoàng phi Nguyễn Thị Kim từng lánh mình tu hành tại chùa Linh Quang (nay thuộc phường Đằng Giang, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng). Do đó, nhân dân thôn An Đà tại đây đã tôn thờ bà làm Thành hoàng làng, nhằm ghi nhớ công đức, sự thanh cao và tiết hạnh của một người phụ nữ sống trọn nghĩa với vua, với chồng, và với đạo lý truyền thống.
Tưởng nhớ trong văn hóa và đời sống tinh thần
Sự hy sinh của Hoàng phi Nguyễn Thị Kim không chỉ được duy trì trong nghi lễ thờ tự, mà còn được lưu truyền sâu rộng trong văn học và đời sống văn hóa Việt Nam.
Trong văn học, Hoàng phi Nguyễn Thị Kim là nguồn cảm hứng cho nhiều tác phẩm văn học, tiêu biểu gồm: Tiêu cung tuẫn tiết hành của Nguyễn Huy Túc – một trường ca ca ngợi tiết nghĩa và hành trạng của bà. Thơ của vua Tự Đức trong Việt sử ngự chế tổng vịnh. Tác phẩm Trai lành gái tốt của Dương Bá Trạc.
Năm 1932, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã viết bài Nguyễn Thị Kim khóc Lê Chiêu Thống, thể hiện sâu sắc mối tình thủy chung và bi kịch lịch sử của bà:
Triều Lê-qui có nàng tiết liệt.
Nhà tan, nước mất, chàng đi thôi.
Thiếp nén lòng đau khóc nghẹn lời,
Chậm bước đành nương mình bóng Phật;
Màng tin trông ngóng nhạn chân trời.
Chuông đồng cảnh vắng, hồn mơ sảng,
Trăng lạnh, đêm sâu, cú đổ hồi.
Thê thảm chàng đi, về có vậy!
Thiếp chờ ai nữa? Hỡi chàng ôi!
Những tác phẩm này đều khắc họa bà như một biểu tượng tiêu biểu của lòng trung nghĩa, tiết liệt và tình phu thê son sắt trong lịch sử Việt Nam.
Trong địa danh, để tưởng niệm công lao và tiết hạnh của bà, vào giai đoạn 1945–1946, tên Hoàng phi Nguyễn Thị Kim đã được đặt cho một con phố tại Hà Nội. Thời Pháp thuộc, phố có tên Rue Constant Mathis. Năm 1945–1946, phố được đổi tên thành Nguyễn Thị Kim. Hiện nay, con phố này mang tên Nguyễn Huy Tự, thuộc quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Đánh giá chung
Mặc dù tư liệu lịch sử về Hoàng phi Nguyễn Thị Kim không thật phong phú, nhưng thông qua sự vinh danh của triều Nguyễn, hệ thống thờ tự tại Am Trinh Nghĩa và chùa Linh Quang, cùng sự ca ngợi liên tục trong văn học và ký ức dân gian, bà vẫn được hậu thế ghi nhận là một “bậc nữ trung anh kiệt”, tiêu biểu cho đạo lý tiết nghĩa và lòng trung trinh của người phụ nữ Việt Nam trong thời biến động lịch sử.
Tài liệu tham khảo
- Trần Đình Ba, Hé lộ mỹ nhân quyên sinh vì Lê Chiêu Thống, Báo Dân Việt, ngày 16/10/2028.
- Nguyễn Duy Chính, Liệt Phi Nguyễn Thị Kim (1765-1804), Người đàn bà bất hạnh, Nghiên cứu và phát triển, số 5 (88), 2011.
- Ngô gia văn phái (2001), Hoàng Lê nhất thống chí, Quyển 2, Nxb Văn học.
- Hồ Bạch Thảo, Tình nghĩa vợ chồng giữa vua Lê Chiêu Thống và hoàng-phi Nguyễn Thị Kim, Nghiên cứu Lịch sử, ngày 13/12/2005.
- Viện Sử học dịch (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên quyển thứ 47, Nxb Giáo dục.
_________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Nguyen Thi Kim (1765–1804), known in history as Imperial Consort Nguyen Thi Kim, was the wife of King Le Chieu Thong, the last ruler of the Later Le dynasty in Vietnam. In later generations, she has been remembered as a symbol of chastity, fidelity, and absolute loyalty to her husband and the Le royal house.
Origin
Imperial Consort Nguyen Thi Kim was born in the year At Dau (1765), during the reign of King Le Hien Tong. She was a native of Ty Ba village, Gia Luong district, Kinh Bac region, corresponding to present-day Ty Dien hamlet, Phu Hoa commune, Luong Tai district, Bac Ninh province.
She was born into a prestigious mandarin family. Her father held the title of Tham Doc Van Trung Hau, a respected official at court. Her elder brother was Nguyen Quoc Dong, titled Phuong Thai Hau, a loyal court minister who, together with Le Quyng, escorted the Empress Dowager and the son of King Le Chieu Thong to the Qing court to seek military assistance. This demonstrated the Nguyen family’s deep loyalty to the Le dynasty.
From a young age, Nguyen Thi Kim was renowned for her beauty, refinement, and proper upbringing, fully embodying the Confucian virtues of cong, dung, ngon, hanh (domestic skill, appearance, speech, and moral conduct). Historical records and oral tradition consistently portray her as a paragon of marital fidelity and moral integrity during the late Le period.
Life
Early Life
Nguyen Thi Kim, later posthumously honored as Liet Phi, originated from Ty Ba village in Luong Tai district, Kinh Bac. According to the poem Ty Ba phu nhan tuan tiet hanh by Nguyen Huy Tuc, she was born in At Dau (1765), one year older than her husband Le Duy Ky, later King Le Chieu Thong (1766–1793).
Although official histories do not provide detailed genealogical records, multiple indications suggest that she was related by blood to the Empress Dowager, the mother of King Le Chieu Thong, and was the younger sister of Nguyen Quoc Dong. Because all three originated from the same village, political opponents exploited this relationship to defame King Le Chieu Thong with accusations such as “sat thuc dam muoi” (killing an uncle to marry a niece).
In reality, the execution of three Le royal uncles resulted from prior political power struggles rather than personal misconduct. Accusations of incest and immorality were common political tools used during the late Le and early Nguyen periods to discredit rivals.
Entry into the Palace
According to Nguyen Huy Tuc’s poetry, Nguyen Thi Kim entered the palace at the age of seventeen, in the year Tan Suu (1781). However, historical evidence indicates that after Crown Prince Le Duy Vi was executed by Trinh Sam in Tan Mao (1771), his wife and sons, including Le Duy Ky, were imprisoned until Quy Mao (1783). Therefore, the earliest possible date for Nguyen Thi Kim’s marriage to Le Duy Ky was 1783, when she was nineteen and he was eighteen.
In Binh Ngo (1786), King Le Hien Tong passed away, and Le Duy Ky ascended the throne as King Le Chieu Thong. That same year, Nguyen Thi Kim became pregnant and gave birth to their first son, Le Duy Thuyen.
Within the palace, she was affectionately known as Hau Ty Ba (the Empress from Ty Ba village) and was also called Duc Co, meaning “the virtuous lady.” She was the most favored consort in the royal harem and bore the heir apparent. King Le Chieu Thong intended to formally elevate her to Empress, but political catastrophe intervened before this could occur.
Flight and Exile
At the end of Dinh Mui (1787), Tay Son general Vu Van Nham marched north, forcing King Le Chieu Thong to flee the capital. Members of the royal family scattered, many escorting the Empress Dowager, the consort, and the young heir while under relentless pursuit.
After months of perilous flight through Bac Son, Vo Nhai, Chi Linh, and Vi Hoang, the royal family crossed into Qing territory in mid-1788 under extreme hardship. Out of more than two hundred people, only sixty-two survived.
Although Vietnamese historical records emphasize the Empress Dowager’s plea for aid, they largely omit the suffering endured by the Imperial Consort and the royal heir during this escape.
Appeal to the Qing Court
Upon learning of the Le royal family’s refuge in Qing territory, the Governor-General of Liangguang, Sun Shiyi, petitioned Emperor Qianlong for military intervention. Qing forces quickly occupied Thang Long, and Le Duy Ky was proclaimed King of Annam in late 1788.
However, shortly thereafter, Emperor Quang Trung decisively defeated the Qing army. King Le Chieu Thong and his entourage were forced into permanent exile in China.
Separation and Final Years
During the chaos, Nguyen Thi Kim was separated from the main group and remained in hiding within rural areas, sustaining herself by weaving cloth. She lived in obscurity for nearly fourteen years.
When she learned of the deaths of King Le Chieu Thong and their son in exile, she attempted repeatedly to follow them in death but was dissuaded. In 1804, upon receiving the king’s coffin at the border, she undertook extreme fasting and remained beside it until it reached Thang Long. Shortly thereafter, she took poison and died, preserving her chastity and loyalty unto death.
Her death inspired widespread mourning and praise, including elegiac poetry by former Le officials.
Veneration
Recognition by the Nguyen Court
Following her death in 1804, Nguyen Thi Kim’s act of loyal suicide was celebrated nationwide as a supreme example of Confucian virtue. Nguyen Huy Tuc composed Tieu cung tuan tiet hanh in her honor.
Governor-General Nguyen Van Thanh reported the event to Emperor Gia Long, who issued a royal commendation. A stele was erected in her hometown bearing the inscription:
Yen trinh tuan nghia Nguyen thi chi mon
(The household of Nguyen, exemplary in chastity and righteousness)
The Nguyen court also granted twenty mau of ritual land for her worship and assigned caretakers for her tomb.
She was buried near the tombs of King Le Chieu Thong and the Empress Dowager at Ban Thach Mountain, Tho Xuan district, Thanh Hoa province.
Major Worship Sites
- Am Trinh Nghia (Bac Ninh): The principal shrine dedicated to her in her native village, preserving stone steles from the Gia Long period.
- Duong Nham (Linh Quang) Pagoda, Hai Phong: Local tradition holds that she once took refuge here; villagers later venerated her as a tutelary spirit.
Cultural Memory
Nguyen Thi Kim remains a prominent figure in Vietnamese literature and moral discourse. She appears in works by Nguyen Huy Tuc, Emperor Tu Duc, Duong Ba Trac, and Nguyen Nhuoc Phap. Her name was also commemorated in Hanoi street nomenclature during the mid-20th century.
Notes
From the end of Dinh Mui (1787) to Giap Ty (1804), Nguyen Thi Kim and King Le Chieu Thong were together for only four days in total. Despite prolonged separation and political collapse, their marital fidelity has been remembered as one of the most poignant tragedies of the Later Le dynasty.
References
- Trần Đình Ba, Hé lộ mỹ nhân quyên sinh vì Lê Chiêu Thống, Báo Dân Việt, ngày 16/10/2028.
- Nguyễn Duy Chính, Liệt Phi Nguyễn Thị Kim (1765-1804), Người đàn bà bất hạnh, Nghiên cứu và phát triển, số 5 (88), 2011.
- Ngô gia văn phái (2001), Hoàng Lê nhất thống chí, Quyển 2, Nxb Văn học.
- Hồ Bạch Thảo, Tình nghĩa vợ chồng giữa vua Lê Chiêu Thống và hoàng-phi Nguyễn Thị Kim, Nghiên cứu Lịch sử, ngày 13/12/2005.
- Viện Sử học dịch (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên quyển thứ 47, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung (中文)
一、概述
阮氏金皇妃(1765—1804),为后世尊称之“烈妃”,是黎昭统帝(黎维祁)之正妃,亦为黎中兴时期最后一位君主之皇妃。她被后世视为贞节、忠贞与夫妇情义的象征,其一生行状体现了黎末时期儒家伦理中对女性“节义”“贞烈”的最高道德理想。
二、出身
烈妃阮氏金,乙酉年(1765)生,时值黎显宗在位。其籍贯为京北道嘉良县琵琶社(今属北宁省良才县富和社琵殿村)。其出身于显赫官宦之家:父为参督宛忠侯,乃朝廷重臣;兄为凤凰太侯阮国栋,为忠诚辅臣,曾与黎贵胤护送太后及昭统帝之子赴清廷求援,显示其家族对黎朝之深厚忠义。
阮氏金自幼容貌端丽、品行端正,受良好教养,具备“工、容、言、行”四德,为黎末女性儒家道德之典范。史籍与传述皆称其为守节守义、终身不渝之贤妇。
三、生平
少年时期
阮氏金为琵琶村人,据阮辉肃《琵琶夫人殉节行》记载,生于乙酉年(1765),年长其夫黎维祁(即黎昭统帝,1766—1793)一岁。
史料虽未明载其血缘关系,但多方迹象显示,她与昭统帝之母太后或有近亲关系,并为凤凰太侯阮国栋之妹。因三人皆出自琵琶村,故政敌借此加以诬蔑,诋毁昭统帝为“杀叔淫妹”。然此类指控实属政治抹黑,与事实不符。
事实上,黎朝三位皇叔被害,源于既有权力斗争,与昭统帝即位后“借清兵之势报私仇”无关。即便从婚姻伦理角度考察,黎维祁与阮氏金之关系,亦未构成乱伦,尤其相较于陈朝时期之内婚制度,更不足为奇。所谓通奸、不孝之指控,实为黎末、阮初政治斗争中常见之手段。
入宫
据阮辉肃诗文记载,阮氏金十七岁入宫,即辛丑年(1781)。然据史实考证,黎显宗之太子黎维祎于辛卯年(1771)被郑森所害,其妻子与三子(黎维祁、黎维留、黎维祉)皆遭囚禁,直至癸卯年(1783)方得释放。故阮氏金与黎维祁最早应于癸卯年(1783)正式成婚,当时黎维祁十八岁,阮氏金十九岁。
丙午年(1786),黎显宗崩,黎维祁即位,是为黎昭统帝。同年,阮氏金怀孕,诞下长子黎维诠。
民间称其为“琵琶后”,宫中尊称其为“德姑(德行之妇)”。她为昭统帝最受宠爱的后妃(“宠冠后庭”),又生原子,昭统帝曾有意立其为皇后,然未及实行,国变已起。
流亡奔走
丁未年(1787)末,西山将领武文任北进,昭统帝被迫弃京流亡。皇族四散,部分宗亲护送太后、皇妃与幼子北逃,途中屡遭西山军追击。
丁未年腊月,一行人抵达武崖(今太原省武崖县)避难。昭统帝则逃至谅江,由黎贵胤率家兵护卫。名义上谋复国,实则颠沛流离,辗转于志灵、位黄等地。
戊申年(1788)四月,至武崖时,地方土豪图谋擒获皇族邀功。阮辉肃闻讯,将家眷接至高平木马,然再遭追击,多数护送者遇害。
五月初四(1788年6月7日),皇族乘舟顺流至水口关,通清朝龙州。五月十二日(或初九),西山军追至,众人被迫夜渡佛迷江,冒雨涉水,始得入清境。
此行原二百余人,最终仅存六十二人,堪称生死绝境。
值得注意的是,越南史籍多强调太后“哭求清援”,而几乎未提皇妃与皇子同行避难之事实。
求援
清两广总督孙士毅上奏乾隆帝,以“扶弱存亡、兴灭继绝”为名,派兵入越。清军迅速占据升龙。
戊申年十一月二十二日(1788年12月19日),孙士毅入城,宣诏封黎维祁为安南国王。昭统帝遣阮国栋赴清迎回家眷。
据《钦定安南纪略》,太后、皇妃与原子于除夕夜返抵升龙(1789年1月25日)。旋即,光中帝北伐,大破清军。
清朝流放
清承认阮惠后,黎昭统帝与随从被迫留居中国,削发易服,分置各地安插。
其中,黎维祁、太后及原子等五十四人安置桂林;其余分散于谭州、郁林、全州等地。
因黎维祉仍在边地抗西山,乾隆帝命福康安将昭统帝等迁至北京,编入汉军旗籍,授世袭三品。
黎贵胤等拒绝剃发者,则被长期监禁。
流亡期间,昭统帝屡求清廷或割地安置,或准其赴嘉定(同奈)依附阮福映,皆未获准。
壬子年(1792),原子病卒;癸丑年(1793),昭统帝郁郁而终;己未年(1799),太后亦卒。
四、贞节殉义
阮氏金于兵乱中失散,隐居乡野,织布度日。据载曾居山西省望罗社,或出家为尼。
十四年间(1789—1802),其生活清苦。闻昭统帝与原子客死异乡,曾欲赴清寻夫,又多次欲自尽。
迎灵柩返国后,阮氏金绝食,仅饮米水。甲子年九月二十三日(1804),灵柩抵升龙,她服毒殉节。
外史记载,改殓时昭统帝之心脏仍鲜红如生。
北城官员挽以联曰:
五八旬祝地损身,千古伦常照宇宙
十六载移夫没子,一腔义烈答君王
译意:
四十而死,纲常万古昭明;
十六年离夫丧子,一腔烈义以报君王。
阮辉肃作《椒宫殉节行》,详述其一生节义。
五、祭祀与纪念
阮氏金之节烈,自嘉隆朝起即受官方表彰。嘉隆帝下诏,于其乡立碑,题曰:
安贞殉义阮氏之门
并赐祭田二十亩,役夫二人,免其乡里赋役。
其墓葬于清化省寿春县板石山,与昭统帝及太后相邻。
主要祭祀地点
北宁省良才县贞义庵:存嘉隆朝碑刻。
海防市灵光寺(阳岩寺):相传阮氏金曾在此修行,被奉为村神。
六、文化记忆与评价
阮氏金虽史料有限,然其节义事迹经由官方褒奖、祠庙祭祀与文学书写而流传不绝。她被视为越南历史中“女中英杰”,是黎末乱世中儒家女性贞烈精神的典型象征。
参考文献
- Trần Đình Ba, Hé lộ mỹ nhân quyên sinh vì Lê Chiêu Thống, Báo Dân Việt, ngày 16/10/2028.
- Nguyễn Duy Chính, Liệt Phi Nguyễn Thị Kim (1765-1804), Người đàn bà bất hạnh, Nghiên cứu và phát triển, số 5 (88), 2011.
- Ngô gia văn phái (2001), Hoàng Lê nhất thống chí, Quyển 2, Nxb Văn học.
- Hồ Bạch Thảo, Tình nghĩa vợ chồng giữa vua Lê Chiêu Thống và hoàng-phi Nguyễn Thị Kim, Nghiên cứu Lịch sử, ngày 13/12/2005.
- Viện Sử học dịch (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên quyển thứ 47, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations generales
La princesse Ngoc Son (玉山公主), de son nom personnel Nguyen Phuc Di Hy (阮福以嬉; vers 1887–1907), etait une princesse de la dynastie Nguyen, fille du roi Dong Khanh. Elle fut investie du titre de princesse Ngoc Son et compte parmi les princesses remarquables de la fin du XIXe et du debut du XXe siecle, etroitement liee a la lignee imperiale et aux bouleversements historiques de cette periode.
Origines
La princesse Nguyen Phuc Di Hy etait la fille du roi Dong Khanh (Nguyen Canh Tong), huitieme souverain de la dynastie Nguyen, qui regna de 1885 a 1889. Sa mere etait Ho Thi Quy, portant le rang de Luc giai Tiep du. Elle donna naissance a trois filles : Hy Duyet, Di Hy et Nhu Hy, mais seule la princesse Di Hy atteignit l’age adulte.
Vie
La princesse Nguyen Phuc Di Hy se maria au onzieme mois lunaire de la quinzieme annee du regne de Thanh Thai (1903) avec Nguyen Huu Tien, commandant de la Garde centrale, fils cadet de Nguyen Huu Thang, Dong Cac Dai hoc si. Conformement au decret royal, elle recut des bijoux et une residence pour une valeur totale de 2 500 dong. Le prince Bu Tan, Tuyen Hoa Quan cong (frere cadet du roi Thanh Thai), assuma le role de maitre de ceremonie du mariage, tandis que le marechal Ton That Phuong fut charge de l’organisation des rites.
Elle donna naissance a une fille, mais peu apres fut atteinte d’une grave maladie et mourut a l’age de vingt ans. D’apres l’annee de son mariage, on peut estimer qu’elle naquit vers 1887 et mourut vers 1906–1907.
Conformement a son dernier voeu, son epoux Nguyen Huu Tien epousa ensuite Cong ton nu Thi Tran, fille de Kien Quan cong Ung Quyen (frere du roi Dong Khanh), avec laquelle il eut sept enfants.
Au douzieme mois lunaire de la deuxieme annee du regne de Khai Dinh (1917), un edit imperial confera a titre posthume a la princesse Di Hy le titre de princesse Ngoc Son (玉山公主), avec le nom posthume Trang Nha (莊雅). Le texte de l’edit disait notamment :
Ma jeune soeur Di Hy, a peine adulte, s’est mariee mais n’a pu jouir longtemps de la vie conjugale avant de s’eteindre. La douleur est immense. Depuis longtemps, les voix fraternelles se sont tues ; les anciens soupirs de Tu Ma reviennent a la memoire. L’affection pour les proches ne distingue point entre les vivants et les morts.
Malgre la brievete de son existence, la princesse Ngoc Son est demeuree dans la memoire par son rang imperial, son mariage avec un haut dignitaire de la cour Nguyen, son attachement a la famille, ainsi que par la haute distinction posthume qui lui fut accordee, temoignant du respect de la cour.
Culte et veneration
L’honneur et le culte rendus a la princesse Ngoc Son se manifestent clairement a travers le titre posthume officiellement confere par la dynastie Nguyen et par l’heritage architectural et culturel que constitue le temple familial ancien a Hue, lieu de preservation de la memoire et du respect des descendants. Bien que sa vie ait ete courte, elle fut honoree par le roi Khai Dinh au douzieme mois lunaire de la deuxieme annee de son regne (1917), avec le titre de princesse Ngoc Son (玉山公主) et le nom posthume Trang Nha (莊雅).
Le principal temoignage de cette commemoration est le temple familial edifie en 1921 par son epoux Nguyen Huu Tien sur un terrain d’environ 2 400 m², situe aujourd’hui au numero 31 de la rue Nguyen Chi Thanh, quartier Phu Hiep, ville de Hue. Ce temple sert a la fois de lieu de culte pour l’ame de la princesse Ngoc Son et de l’epouse legitime de son epoux, et de depot de precieux objets : medailles offertes par le roi Khai Dinh, jeu de xam huong en os, porcelaines chinoises de commande imperiale, plateau a the incruste finement travaille, ainsi qu’une bibliotheque familiale conservant des milliers d’ouvrages rares.
L’espace cultuel est organise selon le principe « tien Phat hau linh » : a l’avant, le culte du Bouddha ; a l’arriere, celui des ames de Nguyen Huu Thang (Dong Cac Dai hoc si), de l’epoux Nguyen Huu Tien, de la princesse Ngoc Son, de deux autres princesses, de princesses de rang inferieur et des generations defuntes de la lignee. La salle principale porte une grande tablette inscrite « Ngoc Son cong chua tu » et conserve les portraits de l’epoux, de la princesse Ngoc Son et de Cong ton nu Thi Tran, seconde epouse de l’epoux.
Grace a la preservation attentive des descendants, en particulier de Mme Nguyen Thi Suong et de l’historien Phan Thuan An, le temple est demeure presque intact et est considere comme un « musee vivant » de la culture de Hue. Il a fait l’objet de travaux de restauration en 2017 afin de prevenir sa degradation et de preserver la valeur du jardin traditionnel de l’ancienne capitale. Le tombeau de la princesse Ngoc Son se trouve actuellement sur la route Minh Mang, quartier Thuy Xuan, a Hue ; celui de son epoux Nguyen Huu Tien est inhume a sa droite, plus modeste mais conserve dans une grande dignite. L’ensemble de ces pratiques temoigne d’un profond devoir de memoire et reconnait la position, la dignite morale et le coeur de la princesse Ngoc Son dans l’histoire de la dynastie Nguyen.
Bibliographiques
- Trần Đình Ba, Hé lộ mỹ nhân quyên sinh vì Lê Chiêu Thống, Báo Dân Việt, ngày 16/10/2028.
- Nguyễn Duy Chính, Liệt Phi Nguyễn Thị Kim (1765-1804), Người đàn bà bất hạnh, Nghiên cứu và phát triển, số 5 (88), 2011.
- Ngô gia văn phái (2001), Hoàng Lê nhất thống chí, Quyển 2, Nxb Văn học.
- Hồ Bạch Thảo, Tình nghĩa vợ chồng giữa vua Lê Chiêu Thống và hoàng-phi Nguyễn Thị Kim, Nghiên cứu Lịch sử, ngày 13/12/2005.
- Viện Sử học dịch (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Chính biên quyển thứ 47, Nxb Giáo dục.