Long Thành công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú (1759 – 1823)

Long Thành công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú (1759 – 1823)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Nguyễn Phúc Ngọc Tú (chữ Hán: 阮福玉琇; 1759 – 1823) là một công nữ thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Bà được phong hiệu Long Thành Công chúa (隆城公主) và là một trưởng công chúa của triều Nguyễn. Với xuất thân cao quý trong dòng dõi chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Ngọc Tú là một trong những nữ nhân tiêu biểu của hoàng tộc ở giai đoạn giao thời giữa thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn thống nhất đất nước.

Xuất thân

Long Thành Công chúa Ngọc Tú (1759 – 1823) sinh ngày mồng 3 tháng Chạp năm Kỷ Mão (1759). Bà là trưởng nữ của Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế Nguyễn Phước Côn và bà nguyên phối Nguyễn Thị Hoàn.

Bối cảnh lịch sử thời ấy đầy biến động: chúa Nguyễn suy yếu do quyền thần Trương Phúc Loan thao túng triều chính, lại thêm quân Trịnh ở Đàng Ngoài đánh vào Phú Xuân (Thuận Hóa). Chính sự rối ren, tình cảnh nội bộ họ Nguyễn bất ổn khiến cha bà qua đời sớm, để lại mẹ con bà trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn. Bốn người con phải nương nhờ quê ngoại ở làng An Do (Quảng Trị), sống cảnh cơ hàn, lưu lạc giữa nhân dân.

Cuộc đời

Tuổi thơ và những năm lưu lạc trong biến loạn (1759–1779)

Nguyễn Phúc Ngọc Tú chào đời trong bối cảnh chính quyền chúa Nguyễn bước vào giai đoạn suy yếu nghiêm trọng, quyền thần Trương Phúc Loan thao túng triều chính, xã hội rối ren, chiến tranh liên miên.

Sau khi Nguyễn Phúc Luân bị hãm hại và mất sớm, bà cùng mẹ và các em rơi vào cảnh cơ hàn, long đong. Năm Giáp Ngọ (1774), khi quân Trịnh từ Đàng Ngoài tiến đánh Phú Xuân, Tây Sơn thừa cơ truy kích, gia đình bà buộc phải rời kinh thành. Công nữ Ngọc Tú theo mẹ là Gia Dụ Hoàng hậu về quê ngoại ẩn náu tại làng An Dụ (Quảng Trị), sống những năm tháng lưu lạc trong dân gian, nếm trải đủ mọi gian nan của thời loạn lạc.

Mùa xuân năm Kỷ Hợi (1779), khi Nguyễn Phúc Ánh được tôn làm Đại nguyên soái tại Gia Định và bắt đầu khôi phục lực lượng, ông sai cai cơ Lê Phúc Điển bí mật vượt biển ra Quảng Trị đón các cung quyến vào Nam. Tại Gia Định, để ghi nhận công lao và tạo mối gắn kết thân tín, Nguyễn Phúc Ánh đã gả chị ruột mình là Công nữ Ngọc Tú cho Cai cơ Lê Phúc Điển.

Bi kịch góa bụa và tiết liệt son sắt

Cuộc hôn nhân chưa được bao lâu thì biến cố lớn xảy ra. Năm Quý Mão (1783), Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh đóng quân tại đảo Điệp Thạch (hòn Đá Chồng) thì bị quân Tây Sơn do Phan Tiến Thận chỉ huy bất ngờ tập kích trong đêm. Trước tình thế cực kỳ nguy cấp, Cai cơ Lê Phúc Điển đã xin khoác áo ngự, đứng đầu chiến thuyền làm nghi binh, để Nguyễn Phúc Ánh kịp thời xuống thuyền nhỏ thoát ra đảo Côn Lôn.

Quân Tây Sơn tranh nhau bắt Lê Phúc Điển. Ông nhất quyết không hàng, lớn tiếng chửi giặc cho đến khi bị giết chết. Hành động ấy được xem là biểu hiện cao độ của trung nghĩa, xả thân vì chủ.

Trước cái chết oanh liệt của chồng, công chúa Ngọc Tú tuy tuổi còn rất trẻ nhưng quyết giữ trọn tiết nghĩa, thề không tái giá. Bà từng nói:

“Điển làm bề tôi biết chịu chết vì tiết nghĩa, ta là người vợ há đổi tiết sao. Khi nào lấy lại được kinh thành cũ, ta lập tức xuất gia để thờ Phật mà thôi.”

Nguyễn Phúc Ánh nghe việc này rất cảm kích, khen ngợi chí tiết liệt của chị mình, xem đó là tấm gương hiếm có trong cảnh binh lửa rối ren.

Những năm đầu triều Gia Long và chí nguyện xuất gia không thành

Sau khi đánh bại Tây Sơn, năm 1802 Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi, lấy niên hiệu Gia Long. Những năm đầu triều đại, vua cho dựng phủ đệ tại xã Dương Xuân (có nguồn ghi phường Cam Thụy) để Công chúa Ngọc Tú cư ngụ. Tuy sống trong cảnh vinh hiển trở lại, nhưng bà vẫn giữ nếp sống thanh đạm, một lòng hướng Phật.

Công chúa nhiều lần xin được cắt tóc xuất gia, thực hiện chí nguyện từ thuở góa bụa, song vua Gia Long không cho phép, vì cho rằng bà là trưởng công chúa, cần giữ vị trí khuôn mẫu cho hoàng tộc.

Những lời trăn trối cuối đời và lễ tang đặc biệt 

Đến cuối đời, khi bệnh nặng, vua Minh Mạng thường xuyên đến thăm hỏi. Trong một lần, Công chúa Ngọc Tú đã khóc và thổ lộ tâm nguyện cuối cùng:

Cắt tóc thờ Phật, đấy là ý muốn lúc bình sinh của vị vong nhân này, có chí muốn mà chưa làm được. Xin bệ hạ làm cho trọn vẹn ý muốn ấy. Sau khi chết rồi, chớ có để tóc, liệm bằng áo cà sa, thế là hồn ở dưới chín suối, xong được ý muốn ấy rồi

Vua Minh Mạng vô cùng cảm động, nhưng khi đem việc này hỏi Kiến An công Nguyễn Phúc Đài, thì được tâu rằng:

Thân thể tóc da là của cha mẹ để cho, lúc mới sinh ra trọn vẹn, lúc chết vẫn giữ được trọn vẹn là lễ đấy. Nhà vua trị thiên hạ nên chuộng đạo chính, truất bỏ dị đoan, lời Công chúa xin không thể theo được

Vua cho là phải, bèn giao cho Kiến An công Đài và Diên Khánh công Tấn cùng Bộ Lễ lo liệu tang sự theo đúng điển chế.

Công chúa Ngọc Tú mất vào tháng 11 (âm lịch) năm Quý Mùi (1823). Ngày phát tang, vua Minh Mạng cho nghỉ chầu 5 ngày, sai quan đến phủ lập đàn tế. Bà được truy tặng tước hiệu Long Thành Thái trưởng công chúa (隆城太长公主), ban thụy hiệu Trinh Tĩnh (貞靜). Ngày an táng, vua lại nghỉ chầu một ngày, mặc áo trắng tiễn đưa.

Truyền thuyết mối tình công chúa nhà Nguyễn với một thiền sư

Theo sách Thiền sư Việt Nam (Hòa thượng Thích Thanh Từ, Thành hội Phật giáo TP HCM xuất bản, 1991) viết: Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt (không rõ năm sinh) có kiến thức Phật học uyên bác, ông được vua Gia Long triệu từ chùa Từ Ân (Gia Định) ra Huế phong quốc sư để giảng kinh cho hoàng tộc. Sau này, vua Minh Mạng mến phục tài đức nên đặt danh hiệu Hòa thượng Liên Hoa.

Trong những ngày theo học đạo, Thái trưởng công chúa Long Thành (tức Nguyễn Phúc Ngọc Tú, là chị vua Gia Long và là cô của vua Minh Mạng) đã công khai tình cảm với quốc sư Liên Hoa.

Năm 1821, nhân cơ hội Hòa thượng Phật Ý Linh Nhạc viên tịch, quốc sư Liên Hoa trở về chùa Từ Ân (Gia Định) chịu tang sư phụ rồi tìm cách ở lại chùa luôn nhằm tránh mặt công chúa Long Thành. Tưởng thoát khỏi nghiệp duyên, nào ngờ vị công chúa cũng tìm đến tận nơi. Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt lại tìm cách “trốn chạy” nên quyết định âm thầm bí mật đến nhập thất hai năm tại chùa Đại Giác xứ Cù Lao Phố Biên Hòa.

Ở chùa Từ Ân mà vắng mặt thiền sư nên công chúa rất buồn bã, không muốn ăn uống. Thấy sức khỏe của bà ngày một sa sút, nếu có mệnh hệ nào sẽ có bất lợi cho nhà chùa, nên một người trong chùa đành phải tiết lộ nơi ở của quốc sư Liên Hoa. Ngay hôm sau, công chúa Long Thành lập tức lên chùa Đại Giác tìm gặp người mình thầm yêu trộm nhớ.

Theo tư liệu trong cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (Nguyễn Hiền Đức, NXB TP HCM, 1995) ghi lại, Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt đã đóng kín cửa thất không chịu gặp mặt công chúa, mà chỉ đưa ra một bàn tay cho công chúa nhìn lần cuối vì nghe bà nài nỉ quá. Trong đêm đó, thiền sư tự thiêu để biểu thị tấm thân mình trong sạch, một lòng với Phật pháp không màng dính dáng chuyện luyến ái trần gian, thể hiện qua 4 câu kệ bằng mực đen mà thiền sư viết trên vách tường trước khi viên tịch:

Thiệt đức rèn kinh vẹn kiếp trần
Thành không vẩn đục vẫn trong ngần
Liễu tri mộng huyễn chân như huyễn
Đạt đạo mình vui đạo mấy lần

Vài ngày sau, công chúa Long Thành cũng quyên sinh bằng liều độc dược để mong hóa giải và gột rửa duyên nghiệp mà bà đeo mang…

Ngày nay, bài vị quốc sư Liên Hoa và công chúa Long Thành được đặt gần nhau, hương khói quanh năm tại hậu chùa Đại Giác và ở chùa Từ Ân như là để cho người đời sau đúc kết, chiêm nghiệm và phân xử đúng sai về một mối tình ngang trái nơi cửa Phật.

Tranh cãi quanh giai thoại tình ái của Long Thành Công chúa Ngọc Tú

Mặc dù các nguồn chính sử triều Nguyễn ghi chép khá rõ ràng về thân thế, cuộc đời và lễ nghi hậu sự của Long Thành Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú, song trong hậu thế lại xuất hiện nhiều tác phẩm và thông tin sai lệch, thậm chí mang tính hư cấu, làm nảy sinh những tranh cãi không đáng có xoay quanh nhân vật này.

Tiêu biểu nhất là cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của tác giả Nguyễn Hiền Đức, xuất bản năm 1995. Ở chương XI, tiết 2 (trang 231–235), tác giả đã dựng nên toàn bộ một câu chuyện liên quan đến Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt và mối quan hệ tình cảm giữa vị thiền sư này với Long Thành Công chúa. Theo đó, Công chúa được mô tả là si mê Thiền sư đến mức “ôm tay ngài hôn một cách trìu mến”, rồi kết cục cả hai đều tự vẫn: Thiền sư Liễu Đạt tự thiêu, còn Công chúa uống thuốc độc. Sau đó, long vị của bà được cho là thờ chung với long vị Hòa thượng Liên Hoa (tức Liễu Đạt) tại chùa Từ Ân, từ đó làm nảy sinh nhiều lời đồn đại mang màu sắc luyến ái.

Những nội dung này hoàn toàn không có cơ sở lịch sử và bộc lộ nhiều điểm phi lý nghiêm trọng. Trước hết, Công chúa Ngọc Tú mất năm 1823 tại Phú Xuân, được triều đình nhà Nguyễn tổ chức tang lễ trọng thể, an táng theo đúng điển chế hoàng gia, điều này cho thấy bà không thể qua đời tại Gia Định như câu chuyện hư cấu kể lại. Thứ hai, không hề có bất kỳ ghi chép nào trong chính sử, tư liệu cận sử hay văn bản đương thời xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ tình ái giữa Công chúa và Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt. Thứ ba, việc thờ chung long vị của những cá nhân “hữu công” tại các ngôi chùa xưa là hiện tượng phổ biến, không thể lấy đó làm căn cứ để suy diễn thành một câu chuyện tình cảm mang tính bi kịch.

Do quá tin tưởng vào những ghi chép tùy tiện này, nhiều tác giả về sau đã sao chép, thậm chí “sáng tác” thêm, khiến câu chuyện ngày càng bị đẩy theo mô-típ lâm ly, bi lụy, gây ra không ít ngộ nhận trong công chúng.

Hệ lụy rõ rệt nhất của sự hư cấu ấy là cuốn tiểu thuyết Chuyện tình của Liên Hoa Hòa thượng của tác giả Thích Như Điển, ấn hành năm 2010. Tác phẩm dài 632 trang, chia làm 12 chương, được xây dựng gần như hoàn toàn dựa trên giả định về hai bài vị thờ tại chùa Từ Ân. Trong tiểu thuyết này, tác giả đã mặc sức hư cấu thư tình, chiếu chỉ triều đình và hàng loạt tình tiết không có thật, mô tả Công chúa Ngọc Tú ở tuổi 65 vẫn bôn ba vào Gia Định tìm Hòa thượng, quỳ lạy trước phòng ngài ở chùa Đại Giác, rồi cả hai cùng qua đời trong bi kịch đẫm nước mắt. Dù tác giả khẳng định đây là “câu chuyện có thật đến 98%”, nhưng hoàn toàn không đưa ra được bất kỳ khảo chứng lịch sử khách quan nào.

Từ đó, nhiều bài viết, bình luận trên internet tiếp tục dựa vào tiểu thuyết này để lan truyền câu chuyện “luyến ái ngang trái”, vô hình trung làm hoen ố danh dự của hai nhân vật lịch sử đáng kính: một bên là Long Thành Công chúa, bậc trưởng công chúa cùng mẹ với vua Gia Long, có công lao và đạo hạnh được triều đình tôn vinh; bên kia là Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 35, có đóng góp trong việc hoằng hóa Phật giáo ở Đàng Trong. Việc hư cấu sai sự thật không chỉ gây nhầm lẫn cho người đọc, mà còn làm lệch lạc nhận thức xã hội về các giá trị cốt lõi của Phật giáo cũng như truyền thống hiếu đạo, trinh liệt của hoàng tộc Nguyễn.

Thực chất, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy diễn sai lệch nói trên là hiện tượng thờ chung long vị tại các quốc tự và tổ đình sắc tứ. Trước năm 1945, nhiều chùa do triều đình ban sắc thường thờ long vị của các bậc đế vương, công thần, hoàng thân quốc thích ngay trong chính điện hoặc chánh tẩm, thể hiện quan niệm “Phật – Vương bất nhị” của Phật giáo Việt Nam thời quân chủ. Ở chùa Từ Ân (Gia Định), việc long vị của Công chúa Long Thành và Thiền sư Liễu Đạt cùng được thờ có thể xuất phát từ những lần trùng tu, di dời, gom thờ các di vật của những người có công hộ pháp, hoàn toàn không phải bằng chứng cho bất kỳ mối quan hệ tình cảm nào.

Những chi tiết mang màu sắc bi kịch như “ôm tay, hôn tay, khóc lóc, tự thiêu, uống thuốc độc…” vì vậy chỉ là sản phẩm ngụy tạo, thiếu cơ sở, càng trở nên lạc lõng khi đặt cạnh các ghi chép chặt chẽ của chính sử triều Nguyễn.

Từ khi xuất bản, Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức đã vấp phải không ít phê bình về độ xác thực. Đã có ý kiến yêu cầu tác giả hiệu đính hoặc ít nhất cần có lời giải thích rõ ràng về những nội dung bất nhất, song cho đến nay không ghi nhận được phản hồi chính thức nào. Hệ quả là các sai lệch tiếp tục bị lặp lại và lan rộng trong các công trình thứ cấp.

Trường hợp Long Thành Công chúa Ngọc Tú cho thấy một bài học quan trọng đối với người viết sử và nghiên cứu văn hóa: mọi nhận định, đặc biệt liên quan đến nhân vật lịch sử có thật, cần được kiểm chứng cẩn trọng, đối chiếu với chính sử và tư liệu đáng tin cậy. Lịch sử không chỉ là câu chuyện của quá khứ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức và thái độ của hậu thế; nếu sai lệch, hậu quả không chỉ là hiểu lầm mà còn là sự tổn thương đối với danh dự người xưa.

Thực tế, Long Thành Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú là nhân vật xứng đáng được tôn kính. Bà từng trải qua nhiều gian khổ, góp phần ủng hộ em trai là Nguyễn Phúc Ánh trong công cuộc phục hưng cơ nghiệp họ Nguyễn; giữ trọn tiết nghĩa, không tái giá sau khi chồng tử tiết; một lòng hướng Phật và có nhiều đóng góp thiết thực cho việc trùng tu, hộ trì các ngôi chùa lớn từ Gia Định đến Thừa Thiên Huế. Cuộc đời và đạo hạnh của bà là tấm gương tiêu biểu cho tầng lớp phụ nữ hoàng tộc nhà Nguyễn, chứ không phải một bi kịch tình ái hư cấu như một số tác phẩm đã thêu dệt.

Qua các sử liệu khả tín và nghiên cứu học thuật (trong đó có khảo cứu của L. Cadière), có thể khẳng định: Long Thành Công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Tú là một nhân vật hoàng tộc có địa vị đặc biệt quan trọng đầu triều Nguyễn. Bà là một Phật tử thuần thành, có công hộ trì, trùng tu nhiều tổ đình lớn, như chùa Từ Ân (Gia Định), chùa Quốc Ân (Huế), từng cúng dường 300 quan tiền, tên được ghi trang trọng trong sổ công đức.

Tuy nhiên, các câu chuyện tình ái giữa Công chúa Long Thành và Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt, bao gồm tự thiêu, uống thuốc độc, yêu đương nơi cửa Phật… đều không có căn cứ trong chính sử, được xác định là sản phẩm hư cấu, truyền thuyết dân gian hoặc sự sáng tác chủ quan của một số tác giả hiện đại, đặc biệt bắt nguồn từ cuốn Lịch sử Phật giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức (1995) và các tác phẩm phóng tác sau này.

Những chi tiết này đã bị giới nghiên cứu phê phán mạnh mẽ là phản lịch sử, phản khoa học, xúc phạm các nhân vật lịch sử đáng kính, và cần được phân biệt rõ ràng với tư liệu chính thống.

Đánh giá chung

Công chúa Long Thành Nguyễn Phúc Ngọc Tú là hình mẫu tiêu biểu của người phụ nữ hoàng tộc sống trọn chữ hiếu, chữ tiết và chữ nghĩa trong thời đại loạn lạc. Cuộc đời bà gắn liền với những biến cố lớn của lịch sử cuối chúa Nguyễn – đầu triều Nguyễn, từ lưu lạc, góa bụa, đến vinh hiển rồi tịch diệt trong thanh tịnh. Hai vị hoàng đế đầu triều Nguyễn đều dành cho bà sự kính trọng đặc biệt, xem bà là chuẩn mực đạo hạnh của hoàng gia.

Thờ phụng

Theo di huấn của vua Gia Long:

Trưởng công chúa thờ mẹ có hiếu, kính giữ đạo làm con trong lúc gian nan, để tiếng thơm như ngọc uyển ngọc diễm, đặc biệt chuẩn cho dựng sinh phần ở bên lăng Thụy Thánh

Việc thờ phụng Công chúa Long Thành (Nguyễn Phúc Ngọc Tú) được thực hiện tại nhiều địa điểm khác nhau, từ các ngôi chùa cổ ở Gia Định – Biên Hòa cho đến hệ thống thờ tự hoàng tộc tại Huế. Các hình thức thờ phụng này phản ánh rõ công lao hộ trì Phật pháp, đời sống tu tập cũng như đức hạnh hiếu đạo, tiết nghĩa của bà trong lịch sử triều Nguyễn.

Tại phương Nam, nơi gắn bó với quãng đời lưu lạc và hộ trì Phật giáo của Công chúa, việc thờ phụng bà chủ yếu diễn ra trong không gian chùa chiền. Ở chùa Từ Ân (quận 6, TP. Hồ Chí Minh), tại bàn thờ Tổ hiện còn đặt long vị của Hòa thượng Liên Hoa (Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt) và thần vị của Công chúa Long Thành. Thần vị ghi rõ:

Thích môn hộ giáo, Hoàng Cô thọ Bồ-tát giới, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt, chi vị

Việc thần vị của một vị công chúa được an trí tại bàn thờ Tổ là một biệt lệ hiếm thấy, cho thấy bà không chỉ là bậc hoàng thân mà còn là một Phật tử thuần thành, từng quy y, thọ giới và có công lớn trong việc hộ trì, cúng dường cho chùa.

Tại chùa Đại Giác (Biên Hòa, Đồng Nai), Công chúa Long Thành cũng được thờ phụng ở hậu chùa. Đây là nơi bà từng lánh nạn trong thời kỳ loạn lạc và gắn với nhiều dấu tích sinh hoạt Phật sự của bà. Việc thờ bà tại đây mang ý nghĩa tưởng niệm một bậc hoàng nữ đã nương nhờ cửa Phật, lấy việc tu tập và hộ pháp làm chỗ nương tựa tinh thần trong những năm tháng biến động.

Ở miền Trung, tên tuổi của Công chúa Long Thành gắn liền với các ngôi quốc tự. Tại chùa Quốc Ân (Huế), sổ công đức còn ghi chép rõ bà là một trong những vị ân nhân lớn, từng cúng dường 300 quan tiền để trùng tu và phục hồi ngôi chùa do Tổ Nguyên Thiều khai sơn. Sự ghi nhận này phản ánh vai trò tích cực của bà trong việc duy trì và chấn hưng Phật giáo triều Nguyễn.

Trong hệ thống thờ tự của hoàng tộc tại Huế, Công chúa Long Thành được triều đình tôn vinh với tư cách là người con hiếu thảo và người phụ nữ tiết hạnh. Theo chỉ dụ của vua Gia Long và tiếp nối dưới triều vua Minh Mạng, bà được phụ thờ tại gian bên tả trong tẩm điện lăng Thụy Thánh (lăng của Hiếu Khang Hoàng hậu, thân mẫu của bà). Việc phụ thờ này là sự ghi nhận chính thức của triều đình đối với đạo hiếu của bà, người suốt đời tận tâm phụng dưỡng mẹ già.

Mộ phần của Công chúa nằm trong khu vực lăng Gia Long (Thiên Thụ lăng), thường được dân gian gọi là Lăng Hoàng Cô. Lăng mộ được xây dựng theo hình thức một tháp Phật giáo bốn tầng, có vòng thành bảo vệ, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nghi lễ hoàng gia và tư tưởng Phật giáo. Đây là nơi người dân địa phương và hậu thế đến dâng hương tưởng niệm một bậc hoàng nữ có đời sống thanh khiết, hướng thiện.

Do Công chúa không có con thừa tự, vua Minh Mạng đã chỉ định Thường Tín Công Nguyễn Phúc Cự (con trai thứ 11 của vua Gia Long) đảm trách việc trông nom thờ tự. Thần chủ chính của bà được an trí tại phủ Thường Tín Quận Vương, bảo đảm việc hương khói được duy trì theo đúng lễ nghi hoàng tộc.

Tổng thể các hình thức thờ phụng Công chúa Long Thành cho thấy hình ảnh một nhân vật lịch sử được tưởng niệm không chỉ với tư cách hoàng thân quốc thích, mà còn như một Phật tử mẫu mực, có công lao hộ trì Tam bảo và để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống tôn giáo – văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Tài liệu tham khảo

  1. Ngôi chùa trong chuyện tình ngang trái của công chúa và quốc sư, VNExpress, ngày 13/2/2016.
  2. Nghi Thủy, Long Thành công chúa Ngọc Tú, Lịch sử Blog.
  3. Nghi Thủy, Công chúa Long Thành – Từ chính sử đến giai thoại, Giác Ngộ Online, ngày 28/06/2012.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa
__________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English) 

General Information

Nguyen Phuc Ngoc Tu (Han characters: Nguyen Phuc Ngoc Tu; 1759–1823) was a princess of the Nguyen imperial clan in Vietnamese history. She was granted the title Princess Long Thanh (Long Thanh Cong chua) and was a senior princess of the Nguyen dynasty. Born into the prestigious lineage of the Nguyen lords, Nguyen Phuc Ngoc Tu was one of the most representative female members of the royal family during the transitional period between the era of the Nguyen lords and the unified Nguyen dynasty.

Origin

Princess Long Thanh Ngoc Tu (1759–1823) was born on the third day of the twelfth lunar month in the Ky Mao year (1759). She was the eldest daughter of Hung To Hieu Khuong Emperor Nguyen Phuc Con and his principal consort Nguyen Thi Hoan.

The historical context of her birth was marked by extreme political turmoil. The Nguyen lordship was in decline due to the domination of court politics by the powerful minister Truong Phuc Loan, compounded by military pressure from the Trinh forces in Dang Ngoai advancing toward Phu Xuan (Thuan Hoa). Internal instability within the Nguyen clan led to the early death of her father, leaving her mother and children in severe hardship. The four siblings had to seek refuge in their maternal homeland at An Du village (Quang Tri), living in poverty and displacement among the common people.

Life

Childhood and years of displacement amid turmoil (1759–1779)

Nguyen Phuc Ngoc Tu was born at a time when the Nguyen lordly government was entering a period of severe decline. Truong Phuc Loan wielded unchecked power, society was in chaos, and warfare was continuous.

After Nguyen Phuc Luan was assassinated and died prematurely, Ngoc Tu, her mother, and her siblings fell into destitution. In the Giap Ngo year (1774), when Trinh forces from Dang Ngoai attacked Phu Xuan and the Tay Son took advantage to pursue them, the family was forced to flee the capital. Princess Ngoc Tu followed her mother, Gia Du Empress Dowager, to take refuge in their maternal village of An Du (Quang Tri), living for years among the populace and enduring the full hardships of an age of disorder.

In the spring of the Ky Hoi year (1779), when Nguyen Phuc Anh was proclaimed Grand Marshal in Gia Dinh and began rebuilding his forces, he secretly dispatched the military officer Le Phuc Dien across the sea to Quang Tri to escort the imperial women to the South. In Gia Dinh, to acknowledge merit and cement personal loyalty, Nguyen Phuc Anh arranged the marriage of his elder sister, Princess Ngoc Tu, to Cai Co Le Phuc Dien.

Tragic widowhood and unwavering chastity

The marriage was short lived before a major calamity occurred. In the Quy Mao year (1783), when Nguyen Phuc Anh was stationed on Diep Thach Island (also known as Hon Da Chong), Tay Son forces under the command of Phan Tien Than launched a surprise night attack. In an extremely critical situation, Cai Co Le Phuc Dien requested to don the royal robe and lead the main warship as a decoy, allowing Nguyen Phuc Anh to escape in a small boat to Con Lon Island.

The Tay Son troops captured Le Phuc Dien. He steadfastly refused to surrender and shouted curses at the enemy until he was executed. His action was regarded as a supreme example of loyalty and self sacrifice for his lord.

Upon the heroic death of her husband, Princess Ngoc Tu, though still very young, resolved to preserve her chastity and vowed never to remarry. She once declared:

Dien, as a minister, knew how to die for righteousness. How could I, as his wife, abandon my fidelity? When the former capital is recovered, I shall immediately renounce the world and devote myself to serving the Buddha.

Nguyen Phuc Anh was deeply moved by this and praised the steadfast virtue of his sister, regarding her as a rare moral exemplar amid the chaos of war.

Early Gia Long reign and the unfulfilled aspiration for monastic life

After defeating the Tay Son, Nguyen Phuc Anh ascended the throne in 1802, adopting the reign title Gia Long. In the early years of the dynasty, the emperor ordered a residence to be built at Duong Xuan commune (some sources record Cam Thuy ward) for Princess Ngoc Tu. Although she returned to a life of honor and prestige, she maintained a frugal lifestyle and remained wholeheartedly devoted to Buddhism.

The princess repeatedly petitioned to shave her head and enter monastic life, fulfilling the vow she had made during her widowhood. However, Emperor Gia Long did not permit it, reasoning that as the senior princess she needed to maintain her position as a moral model for the imperial clan.

Final wishes and a distinctive funeral

In her final years, when gravely ill, Emperor Minh Mang frequently visited her. On one occasion, Princess Ngoc Tu wept and expressed her last wish:

To shave my head and serve the Buddha has been the lifelong wish of this departed one, a resolve I held but could not fulfill. I beg Your Majesty to grant this wish. After my death, do not leave my hair; wrap me in a kasaya robe. Only then will my soul in the underworld be satisfied.

Emperor Minh Mang was deeply moved. However, upon consulting Prince Kien An Nguyen Phuc Dai, he was advised:

The body, hair, and skin are gifts from one’s parents. To be whole at birth and remain whole at death is propriety. The ruler of the realm should uphold orthodox principles and reject heterodoxy; the Princess’s request cannot be granted.

The emperor accepted this counsel and entrusted Prince Kien An Dai, together with Prince Dien Khanh Tan and the Ministry of Rites, to conduct the funeral strictly according to imperial regulations.

Princess Ngoc Tu passed away in the eleventh lunar month of the Quy Mui year (1823). On the day of mourning, Emperor Minh Mang suspended court for five days and dispatched officials to set up an altar at her residence. She was posthumously granted the title Princess Dowager Long Thanh Thai Truong Cong Chua and the posthumous name Trinh Tinh. On the day of burial, the emperor again suspended court for one day and wore white mourning garments to see her off.

The legend of a romantic attachment with a Zen monk

According to Thien su Viet Nam by Thich Thanh Tu (Ho Chi Minh City Buddhist Association, 1991), the Zen monk Thiet Thanh Lieu Dat, renowned for his profound Buddhist learning, was summoned by Emperor Gia Long from Tu An Pagoda (Gia Dinh) to Hue and appointed National Preceptor to lecture on the sutras for the imperial family. Later, Emperor Minh Mang, admiring his virtue, bestowed upon him the title Hoa thuong Lien Hoa.

During her studies of the Dharma, Princess Dowager Long Thanh (Nguyen Phuc Ngoc Tu, elder sister of Emperor Gia Long and aunt of Emperor Minh Mang) is said to have openly expressed affection toward National Preceptor Lien Hoa.

In 1821, following the passing of Hoa thuong Phat Y Linh Nhac, National Preceptor Lien Hoa returned to Tu An Pagoda to observe mourning and attempted to remain there permanently to avoid the princess. Believing himself freed from karmic ties, he was nonetheless pursued by the princess. The monk then secretly entered a two year retreat at Dai Giac Pagoda in Cu Lao Pho, Bien Hoa.

When the princess could not find the monk at Tu An Pagoda, she became despondent and refused food. Fearing for her health and the consequences for the monastery, a monk disclosed the location of National Preceptor Lien Hoa. The next day, Princess Long Thanh traveled to Dai Giac Pagoda to seek the man she secretly loved.

According to Lich su Phat giao Dang Trong by Nguyen Hien Duc (Ho Chi Minh City Publishing House, 1995), Thiet Thanh Lieu Dat refused to meet her, extending only one hand for her to see for the last time. That very night, the monk allegedly self immolated to demonstrate his purity and exclusive devotion to the Dharma, leaving behind four verses written in black ink on the wall before his death:

Thiet duc ren kinh ven kiep tran
Thanh khong van duc van trong ngan
Lieu tri mong huyen chan nhu huyen
Dat dao minh vui dao may lan

A few days later, the princess is said to have committed suicide by poison in an attempt to resolve her karmic attachment.

Today, the spirit tablets of National Preceptor Lien Hoa and Princess Long Thanh are placed near each other at the rear of Dai Giac Pagoda and at Tu An Pagoda, with incense offered year round, inviting later generations to contemplate and judge the story.

Scholarly critique and rejection of the legend

Despite clear records in Nguyen dynasty official histories regarding the lineage, life, and funeral rites of Princess Long Thanh Nguyen Phuc Ngoc Tu, later generations produced numerous erroneous and fictionalized accounts, giving rise to unnecessary controversies.

The most prominent is Lich su Phat giao Dang Trong by Nguyen Hien Duc (1995). In Chapter XI, Section 2 (pages 231–235), the author fabricated an entire narrative concerning Zen monk Thiet Thanh Lieu Dat and a romantic relationship with Princess Long Thanh. The princess is depicted as passionately infatuated, embracing and kissing the monk’s hand, followed by a double suicide: the monk by self immolation and the princess by poison. Their spirit tablets are claimed to be jointly worshipped at Tu An Pagoda, fueling romantic speculation.

These accounts lack any historical basis and contain serious inconsistencies. First, Princess Ngoc Tu died in 1823 at Phu Xuan and received a full state funeral conducted by the Nguyen court, making it impossible for her to have died in Gia Dinh as alleged. Second, no official histories, near contemporary sources, or period documents confirm any romantic relationship between the princess and the monk. Third, the joint worship of spirit tablets for meritorious individuals in temples was a common practice and cannot be construed as evidence of a romantic relationship.

Because of undue reliance on such arbitrary narratives, later authors copied and embellished them, transforming the story into an increasingly melodramatic tragedy and causing widespread misunderstanding.

The most serious consequence of this fabrication is the novel Chuyen tinh cua Lien Hoa Hoa thuong by Thich Nhu Dien (2010), a 632 page work in twelve chapters built almost entirely on the assumption of two spirit tablets at Tu An Pagoda. The novel invents love letters, imperial edicts, and numerous fictional episodes, portraying the 65 year old princess traveling to Gia Dinh, kneeling before the monk’s chamber at Dai Giac Pagoda, and both dying in tearful tragedy. Despite the author’s claim that the story is “98 percent true,” no objective historical evidence is provided.

As a result, many internet articles and commentaries continue to disseminate the tale of a “forbidden romance,” inadvertently tarnishing the reputations of two venerable historical figures: Princess Long Thanh, a senior princess of the Nguyen dynasty renowned for virtue and merit, and Zen monk Thiet Thanh Lieu Dat, a 35th generation master of the Lam Te lineage who contributed to the propagation of Buddhism in Dang Trong.

In reality, the shared worship of spirit tablets at royal temples and state sponsored monasteries before 1945 reflected the Vietnamese Buddhist concept of “Buddha and King as one.” At Tu An Pagoda (Gia Dinh), the presence of spirit tablets for Princess Long Thanh and Zen monk Lieu Dat likely resulted from restorations and the collective enshrinement of protectors of the Dharma, not from any personal relationship.

Thus, dramatic details such as embracing, kissing, self immolation, and suicide are fabrications lacking evidence and stand in stark contrast to the rigorous records of Nguyen dynasty official histories.

Veneration

According to the testament of Emperor Gia Long:

The senior princess served her mother with filial devotion, upheld the Way of daughterly duty in times of hardship, and left a reputation as pure as jade. She is specially authorized to have her burial site established beside the mausoleum of Thuy Thanh.

The veneration of Princess Long Thanh Nguyen Phuc Ngoc Tu has been carried out at multiple locations, from ancient temples in Gia Dinh and Bien Hoa to the imperial ancestral worship system in Hue. These practices reflect her role as a protector of Buddhism and her exemplary filial piety and chastity.

In the South, where her years of displacement and Buddhist patronage took place, veneration occurs primarily in temples. At Tu An Pagoda (District 6, Ho Chi Minh City), the ancestral altar still houses the spirit tablet of Hoa thuong Lien Hoa and the spirit tablet of Princess Long Thanh, inscribed:

Thich mon ho giao, Hoang Co tho Bo Tat gioi, phap danh Te Minh, tu Thien Nhut, chi vi

The placement of a princess’s spirit tablet on the ancestral altar is an exceptional case, underscoring her status not only as a royal figure but also as a devout Buddhist who took refuge, received precepts, and made substantial offerings.

At Dai Giac Pagoda (Bien Hoa, Dong Nai), Princess Long Thanh is also venerated at the rear sanctuary. This site is associated with her refuge during turbulent times and her Buddhist activities, commemorating a royal woman who sought spiritual solace in the Dharma.

In central Vietnam, her name is closely associated with state temples. At Quoc An Pagoda (Hue), merit registers record her donation of 300 quan of cash for restoration works initiated by Patriarch Nguyen Thieu, attesting to her significant role in sustaining Nguyen dynasty Buddhism.

Within the imperial worship system in Hue, Princess Long Thanh was honored as a paragon of filial devotion and female virtue. By decree of Emperor Gia Long and continued under Emperor Minh Mang, she was enshrined in the left chamber of the mausoleum temple of Thuy Thanh (the tomb of Hieu Khang Empress Dowager, her mother).

Her tomb lies within the Gia Long Mausoleum complex (Thien Thu Lang), commonly known as the Tomb of the Royal Princess. Constructed in the form of a four tiered Buddhist stupa with enclosing walls, it harmoniously combines imperial funerary rites with Buddhist symbolism.

As she had no direct heirs, Emperor Minh Mang appointed Prince Thuong Tin Nguyen Phuc Cu, the eleventh son of Emperor Gia Long, to oversee her worship. Her principal spirit tablet was installed at the residence of the Prince of Thuong Tin, ensuring the continuation of proper imperial rites.

Collectively, these forms of veneration portray Princess Long Thanh as a historical figure remembered not only as a royal kinswoman but also as an exemplary Buddhist devotee who protected the Triple Gem and left a profound imprint on Vietnamese religious and cultural life at the turn of the eighteenth and nineteenth centuries.

References

  1. Ngôi chùa trong chuyện tình ngang trái của công chúa và quốc sư, VNExpress, ngày 13/2/2016.
  2. Nghi Thủy, Long Thành công chúa Ngọc Tú, Lịch sử Blog.
  3. Nghi Thủy, Công chúa Long Thành – Từ chính sử đến giai thoại, Giác Ngộ Online, ngày 28/06/2012.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa

Tiếng Trung (中文)

一般信息

阮福玉琇(汉字:阮福玉琇,1759-1823),是越南历史上阮氏皇族的一位公女。她受封为隆城公主(隆城公主),并为阮朝的长公主之一。出身于阮主世系的高贵门第,阮福玉琇是阮主时期向统一王朝过渡阶段中,皇族女性的代表人物之一。

出身

隆城公主玉琇(1759-1823)生于己卯年腊月初三(1759年)。她是兴祖孝康皇帝阮福昆与元配阮氏环所生的长女。

当时的历史背景极为动荡:阮主政权因权臣张福鸾把持朝政而日渐衰弱,又遭到北方郑军南下进攻富春(顺化)。政局紊乱、阮氏内部失序,导致其父早逝,使母女数人陷入极端困顿的处境。四名子女不得不依附外戚,在广治安都村寄居,过着贫困流离、寄身民间的生活。

生平

童年与战乱中的流离岁月(1759-1779)

阮福玉琇出生之时,阮主政权已陷入严重衰败,权臣张福鸾专权乱政,社会动荡,战争频仍。

阮福伦遭陷害早逝后,她随母亲及弟妹陷入贫困流离。甲午年(1774),北方郑军南下攻占富春,西山军乘势追击,阮氏宗族被迫撤离都城。玉琇公女随母嘉裕皇后回到外家安裕村(广治)避难,在民间度过多年颠沛流离、饱经乱世艰辛的生活。

己亥年春(1779),阮福映在嘉定被推举为大元帅,开始重建势力,遂命该机黎福典秘密渡海赴广治迎接宗族南归。为表彰功劳并巩固亲信关系,阮福映将其亲姊——公女玉琇——嫁予该机黎福典。

丧夫之痛与坚守节义

婚后不久,便遭逢巨变。癸卯年(1783),阮王阮福映驻军于叠石岛(又称石堆岛),突遭由潘进慎率领的西山军夜袭。形势万分危急之际,该机黎福典主动披上御服,立于战船之首充作疑兵,使阮福映得以及时乘小舟脱身,逃往昆仑岛。

西山军争相擒获黎福典,他誓死不降,痛骂敌军,最终遇害。其行为被视为忠义至极、以身殉主的典范。

面对丈夫的壮烈牺牲,年纪尚轻的隆城公主玉琇立誓守节,终身不再改嫁。她曾言:

典以臣节而死,我为其妻,岂可改节?待收复旧京之日,即当出家奉佛而已。

阮福映闻之深受感动,盛赞其节烈之志,视为兵荒马乱之际极为罕见的楷模。

嘉隆初年与未能实现的出家夙愿

击败西山后,1802年阮福映即位,建号嘉隆。建朝初年,皇帝在杨春社(亦有说为甘瑞坊)为隆城公主营建府第,使其居住其间。虽重归尊荣之境,她依旧保持清俭生活,一心向佛。

公主多次请求削发出家,以实践守寡之初所立誓愿,然嘉隆帝以其为长公主,须为皇族表率为由,未予允准。

临终遗愿与特殊葬礼

晚年病重之际,明命帝常亲临探视。一次,隆城公主泣而陈述其毕生夙愿:

削发奉佛,乃亡人平生之志,欲行而未果。愿陛下成全。死后勿留发,以袈裟殓之,则九泉之下,夙愿得偿矣。

明命帝深受感动,然征询建安公阮福台之意见,后者奏曰:

身体发肤,受之父母,生时完具,死亦当全,此乃礼也。陛下治天下,当崇正道,去异端,公主之请不可从。

帝以为然,遂命建安公台与延庆公晋会同礼部,依照典制办理丧事。

隆城公主于癸未年(1823)十一月薨逝。发丧之日,明命帝停朝五日,遣官至府设坛祭奠;追封其为隆城太长公主(隆城太长公主),赐谥贞静(贞静)。安葬当日,皇帝再停朝一日,身着素服送行。

关于隆城公主与一位禅师的爱情传说

据《越南禅师》(释清慈和尚,胡志明市佛教协会,1991年)记载:禅师实成了达(生年不详)佛学渊博,嘉隆帝曾自嘉定慈恩寺召其入顺化,封为国师,为皇族讲经。后明命帝仰其德才,赐号莲花和尚。

在随国师修学佛法期间,隆城太长公主(即阮福玉琇,嘉隆帝之姊、明命帝之姑)被传公开流露对莲花国师的情感。

1821年,因佛意灵乐和尚圆寂,莲花国师返回嘉定慈恩寺守师丧,并设法长期留寺以避开公主。不料公主亦追至。禅师遂暗中迁往边和大觉寺闭关两年,以彻底回避。

公主因不见禅师,忧郁成疾。寺中一僧担忧其安危,泄露禅师所在。翌日,公主即前往大觉寺相见。

据《南河佛教史》(阮贤德,1995)所载,禅师闭门不见,仅伸出一只手让公主最后一瞻。是夜,禅师自焚,以示清净之身、一心奉佛,不染尘缘,并于圆寂前以黑墨题四偈于壁:

实德磨经尽此身
成空不染自清真
了知梦幻真如幻
达道唯欢道几分

数日后,隆城公主亦饮鸩自尽,欲以此了断尘缘……

今时,莲花国师与隆城公主之牌位并置于大觉寺后殿及慈恩寺,香火不断,供后人评议省思此一佛门情缘。

关于隆城公主情爱传说的争议

尽管阮朝正史对隆城公主阮福玉琇的身世、生平及丧礼均有明确记载,后世却出现诸多失实乃至虚构的作品,引发不必要的争议。

最具代表性者,为阮贤德于1995年出版的《南河佛教史》。该书第十一章第二节(第231-235页)虚构了实成了达禅师与隆城公主之间的情爱故事,描写公主“抱手亲吻”,最终二人双双殉情。此类内容全无史料依据,且存在严重逻辑矛盾。

事实上,隆城公主卒于1823年,薨于富春,葬礼由阮朝依皇家典制隆重举行,绝不可能如传说所言死于嘉定。正史及同时代文献亦无任何证据证明其与禅师存在情爱关系。寺庙合祀牌位在旧制中极为常见,绝非情爱佐证。

由此可见,所谓“拥抱、自焚、饮毒”等情节,皆属后人杜撰,与史实相悖,亦有损历史人物之清誉。

总评

隆城公主阮福玉琇是阮朝初期地位极为重要的皇族女性。她历经流离、守节不嫁,一心奉佛,护持寺院,德行卓著。嘉隆、明命两帝皆对其极为敬重,视其为皇族道德之楷模。

有关其与实成了达禅师的爱情故事,均被学界认定为缺乏史据的虚构传说,应与正史严格区分。

祭祀与纪念

隆城公主的祭祀遍及嘉定、边和与顺化等地寺院及皇族祭祀系统,体现其护法功德与孝节德行。其陵墓位于嘉隆陵区(天授陵),俗称“皇姑陵”,为四层佛塔式建筑,融合皇家礼制与佛教思想。

由于无嗣,明命帝命常信公阮福巨负责其香火祭祀,神主奉安于常信郡王府,确保祭祀不绝。

参考文献

  1. Ngôi chùa trong chuyện tình ngang trái của công chúa và quốc sư, VNExpress, ngày 13/2/2016.
  2. Nghi Thủy, Long Thành công chúa Ngọc Tú, Lịch sử Blog.
  3. Nghi Thủy, Công chúa Long Thành – Từ chính sử đến giai thoại, Giác Ngộ Online, ngày 28/06/2012.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa

Tiếng Pháp (Français’)

Informations generales

Nguyen Phuc Ngoc Tu (caracteres chinois: 阮福玉琇 ; 1759–1823) etait une cong nu appartenant a la famille imperiale Nguyen dans l’histoire du Viet Nam. Elle porta le titre de Princesse Long Thanh (隆城公主) et fut une thai truong cong chua de la dynastie Nguyen. Issue d’une lignee prestigieuse des seigneurs Nguyen, Nguyen Phuc Ngoc Tu est consideree comme l’une des figures feminines les plus representatives de la famille imperiale durant la periode de transition entre l’epoque des seigneurs Nguyen et la dynastie Nguyen reunifiant le pays.

Origines

La Princesse Long Thanh Ngoc Tu (1759–1823) naquit le troisieme jour du douzieme mois lunaire de l’annee Ky Mao (1759). Elle etait la fille ainee de Hung To Hieu Khuong hoang de Nguyen Phuoc Con et de son epouse legitime Nguyen Thi Hoan.

Le contexte historique de l’epoque etait profondement trouble: le pouvoir des seigneurs Nguyen s’affaiblissait sous la mainmise du favori Truong Phuc Loan, tandis que les armees Trinh du Dang Ngoai attaquaient Phu Xuan (Thuan Hoa). Les troubles politiques et l’instabilite interne du clan Nguyen entrainerent la mort prematuree de son pere, laissant sa mere et ses enfants dans une situation extremement difficile. Les quatre enfants durent se refugier dans la famille maternelle au village d’An Du (Quang Tri), menant une vie de pauvrete et d’errance parmi le peuple.

Vie

Enfance et annees d’errance dans le chaos (1759–1779)

Nguyen Phuc Ngoc Tu naquit a une epoque ou le regime des seigneurs Nguyen entrait dans une phase de grave decadence. Le pouvoir etait confisque par Truong Phuc Loan, la societe etait plongee dans le desordre et les guerres se succedaient.

Apres l’assassinat et la mort precoce de Nguyen Phuc Luan, elle vecut avec sa mere et ses freres et soeurs dans la misere et l’instabilite. En l’annee Giap Ngo (1774), lorsque les troupes Trinh attaquerent Phu Xuan depuis le Dang Ngoai et que les Tay Son en profiterent pour poursuivre leur offensive, la famille dut quitter la capitale. La cong nu Ngoc Tu suivit sa mere, la future Gia Du hoang hau, pour se cacher dans le village maternel d’An Du (Quang Tri), vivant plusieurs annees d’errance et endurant toutes les souffrances de l’epoque troublée.

Au printemps de l’annee Ky Hoi (1779), lorsque Nguyen Phuc Anh fut proclame Dai nguyen soai a Gia Dinh et commenca a reconstituer ses forces, il envoya secretement le cai co Le Phuc Dien traverser la mer pour ramener les femmes de la famille vers le Sud. A Gia Dinh, afin de reconnaitre ses merites et de renforcer les liens de fidelite, Nguyen Phuc Anh maria sa soeur ainee, la cong nu Ngoc Tu, au cai co Le Phuc Dien.

Veuvage tragique et fidelite exemplaire

Peu de temps apres le mariage, un drame majeur survint. En l’annee Quy Mao (1783), lorsque Nguyen vuong Nguyen Phuc Anh etait cantonne sur l’ile Diep Thach (hon Da Chong), les Tay Son, sous le commandement de Phan Tien Than, lancerent une attaque nocturne surprise. Face a la situation critique, Le Phuc Dien demanda a porter la robe imperiale et a se placer a la tete du navire comme leurre, permettant a Nguyen Phuc Anh de s’echapper sur une petite embarcation vers l’ile de Con Lon.

Les Tay Son capturerent Le Phuc Dien. Il refusa de se rendre, injuria l’ennemi a haute voix jusqu’a ce qu’il soit mis a mort. Cet acte fut considere comme l’expression supreme de la loyaute et du sacrifice pour son souverain.

Devant la mort heroique de son epoux, la princesse Ngoc Tu, bien que tres jeune, jura de conserver sa fidelite et de ne jamais se remarier. Elle declarea:

Dien a su mourir pour la loyaute; comment moi, son epouse, pourrais-je trahir ma vertu? Le jour ou l’ancienne capitale sera reprise, j’entrerai immediatement en religion pour servir le Bouddha. 

Nguyen Phuc Anh fut profondement touche et loua la vertu exemplaire de sa soeur, y voyant un modele rare dans ces temps de guerre.

Debut de la dynastie Gia Long et voeux religieux inaboutis

Apres la defaite des Tay Son, en 1802, Nguyen Phuc Anh monta sur le trone sous le regne de Gia Long. Dans les premieres annees du regne, l’empereur fit construire une residence a Duong Xuan (certaines sources mentionnent Cam Thuy) pour la princesse Ngoc Tu. Bien qu’elle retrouva une vie d’honneur, elle conserva un mode de vie frugal et demeura profondement tournee vers le bouddhisme.

A plusieurs reprises, elle demanda a se raser la tete pour entrer en religion, afin d’accomplir le voeu formule durant son veuvage. Toutefois, l’empereur Gia Long s’y opposa, estimant qu’en tant que thai truong cong chua, elle devait demeurer un modele pour la famille imperiale.

Dernieres volontes et funerailles exceptionnelles

Vers la fin de sa vie, gravement malade, l’empereur Minh Mang lui rendait souvent visite. Lors d’un entretien, la princesse Ngoc Tu pleura et exprima son dernier souhait:

Me raser la tete pour servir le Bouddha etait mon voeu le plus cher de mon vivant, mais je n’ai pu l’accomplir. Je supplie Votre Majeste de le realiser pour moi. Apres ma mort, ne conservez pas mes cheveux, enveloppez-moi d’une robe de moine; ainsi, mon ame aux neuf sources pourra enfin etre en paix. 

L’empereur Minh Mang en fut profondement emu, mais apres consultation avec Kien An cong Nguyen Phuc Dai, il fut repondu:

 Le corps, les cheveux et la peau sont un don des parents; naitre et mourir en les conservant intacts est conforme au rite. Un souverain doit privilegier la voie orthodoxe et ecarter les pratiques heterodoxes; la demande de la princesse ne peut etre acceptee. 

L’empereur approuva cet avis et confia a Kien An cong Dai et Dien Khanh cong Tan, avec le Ministere des Rites, l’organisation des funerailles selon le protocole imperial.

La princesse Ngoc Tu mourut au onzieme mois lunaire de l’annee Quy Mui (1823). Le jour du deuil, Minh Mang suspendit les audiences pendant cinq jours et envoya des mandarins eriger un autel sacrificiel a sa residence. Elle fut elevee a titre posthume au rang de Long Thanh Thai truong cong chua (隆城太长公主) et recut le nom posthume Trinh Tinh (貞靜). Le jour de l’inhumation, l’empereur suspendit encore les audiences et porta des vetements blancs pour l’accompagner.

La legende d’une relation amoureuse avec un moine bouddhiste

Selon l’ouvrage Thien su Viet Nam de Thich Thanh Tu (Association bouddhique de Ho Chi Minh-Ville, 1991), le moine Thiet Thanh Lieu Dat etait un grand erudit bouddhique, convoque par Gia Long depuis la pagode Tu An (Gia Dinh) a Hue pour etre nomme maitre national. Plus tard, Minh Mang, admiratif de sa vertu, lui confera le titre de Hoa thuong Lien Hoa.

Durant ses etudes religieuses, la Thai truong cong chua Long Thanh aurait manifeste ouvertement ses sentiments pour ce maitre national. En 1821, apres le deces de Hoa thuong Phat Y Linh Nhac, Lien Hoa retourna a Tu An pour observer le deuil, puis tenta de s’y retirer definitivement afin d’eviter la princesse. Celle-ci le suivit jusqu’a la pagode Dai Giac, a Bien Hoa. Selon certains recits, le moine se serait immole par le feu pour preserver sa purete, et la princesse se serait suicidee par poison.

Controverses autour de cette glose romantique

Malgre des donnees precises des chroniques officielles Nguyen concernant la vie et les funerailles de la princesse Long Thanh, des oeuvres ulterieures ont introduit des recits fictifs et erronees. L’exemple le plus marquant est Lich su Phat giao Dang Trong de Nguyen Hien Duc (1995), qui invente une relation amoureuse entre la princesse et le moine Thiet Thanh Lieu Dat, allant jusqu’a decrire leur mort tragique.

Ces recits sont depourvus de fondement historique. La princesse mourut a Phu Xuan en 1823 et recut des funerailles imperiales conformes aux rites, ce qui exclut toute mort a Gia Dinh. Aucune source officielle ne confirme une relation sentimentale entre elle et le moine. Le fait que leurs tablettes votives soient placees dans un meme temple s’explique par une pratique courante de culte commun des bienfaiteurs, et non par une liaison amoureuse.

Des romans ulterieurs, notamment Chuyen tinh cua Lien Hoa Hoa thuong de Thich Nhu Dien (2010), ont amplifie ces fictions, diffusant une image erronee et portant atteinte a la reputation de deux figures historiques respectees.

Evaluation generale

La Princesse Long Thanh Nguyen Phuc Ngoc Tu est un modele exemplaire de femme de la famille imperiale, incarnant la pieté filiale, la fidelite conjugale et la droiture morale dans une epoque troublee. Elle partagea les epreuves de l’errance, du veuvage et de la reconstruction dynastique, avant de s’eteindre dans la serenite. Les deux premiers empereurs Nguyen lui temoignerent un profond respect, la considerant comme un ideal moral de la famille imperiale.

Culte et venerations

Conformement aux instructions de Gia Long, la princesse Long Thanh est honoree dans de nombreux lieux, des anciennes pagodes de Gia Dinh – Bien Hoa aux espaces cultuels de la famille imperiale a Hue. Sa memoire est preservee tant comme hoang than que comme fidele bouddhiste, ayant soutenu la restauration de nombreuses pagodes, notamment Tu An et Quoc An.

Sa tombe, situee dans l’ensemble du mausolee de Gia Long (Thien Thu lang), est communement appelee Lang Hoang Co. Elle est entretenue selon les rites imperiaux, et son culte est assure par des membres de la famille Nguyen, conformement aux dispositions de Minh Mang.

L’ensemble de ces pratiques de venerations montre que la princesse Long Thanh est commemoree non seulement comme une figure de la famille imperiale, mais aussi comme une bouddhiste exemplaire, ayant laisse une empreinte durable dans la vie religieuse et culturelle du Viet Nam a la fin du XVIIIe et au debut du XIXe siecle.

References

  1. Ngôi chùa trong chuyện tình ngang trái của công chúa và quốc sư, VNExpress, ngày 13/2/2016.
  2. Nghi Thủy, Long Thành công chúa Ngọc Tú, Lịch sử Blog.
  3. Nghi Thủy, Công chúa Long Thành – Từ chính sử đến giai thoại, Giác Ngộ Online, ngày 28/06/2012.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam liệt truyện chính biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hóa

 

Chấm điểm
Chia sẻ
12

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)