Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực (1417 – 1474)

Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực (1417 – 1474)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Nguyễn Trực sinh ngày 31 tháng 5 năm Đinh Dậu (tức ngày 31 tháng 5 năm 1417). Ông có hiệu là Hu Liêu, tự là Công Dĩnh. Ông sinh ra và lớn lên tại quê mẹ là thôn Đĩnh Tú, xã Cấn Hữu (nay thuộc huyện Quốc Oai, Hà Nội), trong khi quê gốc của gia đình ở Bối Khê, xã Tam Hưng (huyện Thanh Oai, Hà Nội).

Nguyễn Trực xuất thân trong một gia đình Nho học danh giá. Theo gia phả, đến đời ông, dòng họ đã có bốn thế hệ liên tiếp đỗ đại khoa. Cụ nội, ông nội và cha ông đều là những tiến sĩ nổi tiếng đương thời. Trong đó, ông nội là tiến sĩ Nguyễn Bính, từng giữ chức Nho học huấn đạo, giáo quan tại Quốc Tử Giám dưới thời vua Trần Hiến Tông. Cha của ông là tiến sĩ Nguyễn Thời Trung.

Thi cử và làm quan

Nguyễn Trực từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Khi mới 12 tuổi, ông đã giỏi văn chương, thể hiện tư chất vượt trội so với bạn bè cùng trang lứa.

Đến năm 1434, ông tham dự kỳ thi Hương và xuất sắc đỗ đầu, khẳng định tài năng học vấn ngay từ những bước đầu trên con đường khoa cử.

Năm Nhâm Tuất (1442), Nguyễn Trực tiếp tục dự kỳ thi Đình – kỳ thi cao nhất trong hệ thống khoa cử phong kiến – và đỗ Trạng nguyên. Ông trở thành vị Trạng nguyên đầu tiên của triều Hậu Lê. Sau khi đỗ đạt, ông được vua Lê Thái Tông ban sắc phong, trao hàm Á Liệt khanh tại Quốc Tử Giám, đồng thời đứng đầu trong danh sách 33 tiến sĩ cùng khoa được khắc tên trên bia đá tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Đáng chú ý, đây cũng là khoa thi Nho học đầu tiên được ghi danh vào văn bia, do Nguyễn Trãi làm chủ khảo.

Bước vào con đường làm quan, năm 1444, dưới triều vua Lê Nhân Tông, ông được bổ nhiệm làm Trực học sĩ Viện Hàn lâm, đồng thời giữ chức Vũ kỵ úy. Không lâu sau, ông được thăng làm An phủ sứ Nam Sách – một chức vụ quan trọng ở địa phương. Khi trở về triều đình, ông tiếp tục được giao giữ chức Thị giảng, kiêm chức tại Viện Hàn lâm, rồi dần thăng tiến đến chức Trung thư thị lang ở sảnh Trung thư.

Năm 1445, triều đình phong ông chức Thiếu trung khanh đại phu, giữ vai trò Ngự sử tại Ngự sử đài. Tuy nhiên, ông đã nhiều lần từ chối, phải đến khi triều đình ban sắc dụ đến ba lần, ông mới nhận chức. Điều này cho thấy tính cách cẩn trọng và khiêm nhường của ông trong việc nhận trọng trách.

Vào năm Hồng Đức thứ 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, ông được thăng làm Hàn lâm thừa chỉ Tế tửu Quốc Tử Giám. Ông được vua Lê Thánh Tông rất kính trọng, thơ văn do vua sáng tác phần nhiều đều đưa để Nguyễn Trực nhận xét, bình luận. Ông mất tại nhiệm sở hưởng thọ 57 tuổi. Vua thương tiếc vô hạn, truy tặng hàm Thái bảo và còn gửi tiền bạc đến viếng, lệnh cho các đại thần hộ tống linh cữu về Quốc Oai và dựng từ đường ông Trạng nguyên ở Khê Thượng, xã Nghĩa Hương.

Giai thoại Lưỡng quốc trạng nguyên

Theo dân gian truyền khẩu, năm 1457, vua Lê Nhân Tông triệu ông vào triều để tiếp sứ thần nhà Minh là Hoàng Gián. Nhờ đối đáp tài tình ông khiến sứ giả nhà Minh khâm phục. Sau đó ông được cử đi sứ sang nhà Minh, đi cùng ông là phó sứ Trịnh Khiết Tường sang kinh đô nhà Minh. Sang tới Bắc Kinh, gặp kỳ thi Đình, vì muốn cho nhà Minh biết tài học của người Việt, ông đã ứng thi và đỗ Trạng nguyên nhà Minh, trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên. Trịnh Khiết Tường (hay Thiết Trường) đỗ Bảng nhãn triều Minh. Trở về nước cả ông và phó sứ Tường (hay Trường) đều được phong chức Thượng thư.

Tuy nhiên theo Kiến văn tiểu lục, quyển XII-Tùng Đàm (Truyện góp), của Lê Quý Đôn lại cho rằng toàn bộ câu truyện này là một câu truyện dân gian truyền miệng, mà nguồn gốc là do vua Lê Thánh Tông vì yêu quý Nguyễn Trực, khi ban mũ áo cho ông, đã ra bỡn đầu đề đùa trêu để Nguyễn Trực nghĩ soạn ra câu chuyện, chứ không có thật. Lê Quý Đôn viết: “Tục truyền rằng Bảng nhãn Trịnh Thiết Trường và Trạng nguyên Nguyễn Trực phụng mệnh sang Trung Quốc. Lúc ấy Trung Quốc đương mở khoa thi, liền hạ lệnh cho bồi thần các nước cùng dự thi; Thiết Trường bảo Nguyễn Trực rằng: Người đỗ khoa này chỉ có tôi và anh, văn của tôi nhiều chỗ đắc ý, văn anh không thể sánh kịp. Nhưng anh đỗ Trạng nguyên ở nhà, tôi đỗ Bảng nhãn, nay tôi hơn anh thì không hợp lý. Vì vậy Thiết Trường cố tình làm bài cho hỏng đi, viết chữ mã chỉ có 3 nét chấm. Đến khi duyệt chấm, Thiết Trường đáng đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Trực đáng đỗ Bảng nhãn. Chủ khảo cho rằng Thiết Tường cố ý cho rằng ngựa phương Bắc chỉ có 3 chân, ngựa què, có ý khinh nhờn, liền thay đổi thứ tự, cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Thiết Tường đỗ Bảng nhãn”.

Thờ tự

Ngay sua khi ông mất, gia quyến đã dựng từ đường cho ông tại làng Khê Thượng, xã Nghĩa Hương. Năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) vua Lê Thánh Tông ban sắc chỉ cho cải táng ông, đem về chôn tại chân núi Đại Lại, xã Bạch Thạch, phủ Quốc Oai. Ngày nay lăng mộ của ông vẫn ở chỗ cũ.

Từ đường làng qua một Nghi môn nhỏ vào sân nhà thờ. Nghi môn là một cổng cuốn vòm với các cột trụ và bức tường lửng hai bên đỡ trần. Bên trên là hai tầng mái giả xây chồng diêm 8 lá mái có đao cong, giả ngói ống. Nóc Nghi môn đắp 2 rồng lá ngậm bờ nóc chầu hổ phù đội mặt trời. Hai bên Nghi môn có hai bức tường lửng thấp nối cổng với hai cột trụ biểu. Cột trụ biểu có mặt cắt ngang thân hình vuông, đầu trên có ô đèn lồng, trang trí mặt sập và trên cùng là hoa văn tứ phượng chầu ép thân cách điệu thành bông hoa dành. Hai bên thân trụ là tường rào vây quanh khu di tích. Cổng Nghi môn có hai cánh cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản, chạm tứ quý hoá long. Nhà thờ nằm trên một khoảnh đất cao hơn sân 30cm so với mặt bằng nền chữ “đinh”. Tiền tế là nếp nhà ngang 3 gian 2 dĩ nhỏ, tường hồi bít đốc tay ngai. Bộ vì làm theo kiểu thức “Kèo kẻ giá chiêng trên quá giang trốn cột gối tường”. Mái trước Tiền bái làm hai tầng mái. Phía trước nhà làm cửa bức bàn 3 gian. Bộ khung vì mái trên được đặt trên thanh quá giang gối lên tường tiền và hậu. Từ lưng chừng tường tiền có kẻ cổ ngỗng vươn ra hàng cột hiên đỡ các hoành mái hạ. Mặt ngoài phần cổ diêm giữa hai tầng mái đắp nổi bốn chữ “Nguyễn thị từ đường”. Nóc mái, hai đầu đều có rồng lá ngậm, giữa nóc có mặt trời lửa trên hổ phù. Hai tường hồi xây dốc thẳng ăn ra phía trước, nối liền với hai cột trụ tay ngại bề thế. Thân trụ tay ngai có nhấn các câu đối, trên cột trụ có bổ ô lồng đèn trang trí tứ linh, trên cùng là tứ phượng chầu cách điệu hoa dành. Hậu cung nhà thờ là một gian nhà dọc nối với gian giữa Tiền bái. Gian này được xây gạch theo lối cuốn vòm tổ tò vò, bên ngoài làm khung mái lợp ngói ri. Hiện trạng kiến trúc hiện nay là kết quả lần trùng tu thời Nguyễn với các đặc trưng bộ khung nhà được làm từ gỗ tứ thiết, xẻ vuông, bào soi gờ chỉ thanh thoát, chỉ có phần kẻ hiên, câu đầu là được chạm hoa lá cách điệu mềm mại giản dị.

Chú thích

  1. Kiến văn tiểu lục, soạn giả Lê Quý Đôn, phiên dịch và chú thích Phạm Trọng Điềm; Nhà xuất bản văn hóa thông tin, 2007.

Tài liệu tham khảo

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Nguyen Truc (1417–1474) – Laureate (Zhuangyuan) of Two Countries

Background

Nguyen Truc was born on May 31, 1417 (the year of Dinh Dau). He bore the sobriquet Hu Lieu and the courtesy name Cong Dinh. He was born and raised in his maternal hometown, Dinh Tu hamlet, Can Huu commune (now in Quoc Oai district, Hanoi), while his ancestral roots were in Boi Khe, Tam Hung commune (Thanh Oai district, Hanoi).

He came from a prestigious Confucian scholarly family. According to the genealogy, by his generation the lineage had produced four consecutive generations of high-degree laureates. His great-grandfather, grandfather, and father were all renowned doctors (tien si) of their time. Notably, his grandfather Nguyen Binh served as a Confucian instructor and official at the Imperial Academy under King Tran Hien Tong, while his father was the doctor Nguyen Thoi Trung.

Examinations and Official Career

From a young age, Nguyen Truc was known for his intelligence and academic excellence. By the age of 12, he had already demonstrated outstanding literary talent beyond his peers.

In 1434, he took the regional Huong examination and ranked first, affirming his scholarly ability at an early stage.

In 1442 (the year of Nham Tuat), he sat for the highest-level court examination (Dinh examination) and achieved the title of Zhuangyuan (Trang Nguyen), becoming the first Zhuangyuan of the Later Le dynasty. After his success, King Le Thai Tong conferred upon him the rank of A Liet Khanh at the Imperial Academy. He also ranked first among the 33 doctoral laureates of that examination, whose names were engraved on stone stelae at the Temple of Literature (Van Mieu – Quoc Tu Giam). Notably, this was the first Confucian examination recorded on such stelae, with Nguyen Trai serving as chief examiner.

Entering official service, in 1444 under King Le Nhan Tong, he was appointed Academician (Truc Hoc Si) at the Hanlin Academy and concurrently held the position of Vu Ky Uy. Soon after, he was promoted to An Phu Su of Nam Sach, an important regional administrative post. Upon returning to court, he served as Lecturer (Thi Giang) at the Hanlin Academy and was later promoted to Vice Minister (Thi Lang) in the Secretariat.

In 1445, he was appointed Thieu Trung Khanh Dai Phu and assigned as a censor at the Censorate. However, he declined the position multiple times and only accepted it after the court issued the appointment three times, reflecting his cautious and humble character.

In 1463, during the reign of King Le Thanh Tong (Hong Duc era, year 4), he was promoted to Hanlin Chancellor and Rector (Te Tuu) of the Imperial Academy. He was highly respected by the king, who often sought his opinions and critiques on royal literary works. Nguyen Truc died in office at the age of 57. The king deeply mourned his passing, posthumously granted him the title Thai Bao, and sent funds for his funeral. High-ranking officials were ordered to escort his coffin back to Quoc Oai and to establish a shrine in his honor at Khe Thuong, Nghia Huong commune.

The “Zhuangyuan of Two Countries” Anecdote

According to folklore, in 1457 King Le Nhan Tong summoned Nguyen Truc to receive a Ming envoy named Huang Jian. Through his eloquence, Nguyen Truc impressed the envoy. He was later sent as an envoy to the Ming court, accompanied by deputy envoy Trinh Khiet Tuong.

Upon arriving in Beijing during an ongoing court examination, Nguyen Truc reportedly took part to demonstrate the scholarly talent of Dai Viet and succeeded in obtaining the title of Zhuangyuan in the Ming court, thereby becoming the “Zhuangyuan of Two Countries.” Trinh Khiet Tuong was said to have ranked second (Bang Nhan). Upon returning, both were appointed as Ministers (Thuong Thu).

However, according to Kien Van Tieu Luc (Book XII, “Miscellaneous Tales”) by Le Quy Don, this entire story is likely a piece of folklore. He suggested that King Le Thanh Tong, out of affection for Nguyen Truc, jokingly prompted him to compose such a story, and it was not historically factual. Le Quy Don recorded a popular tale explaining how examination rankings were allegedly altered due to perceived disrespect in an essay, resulting in Nguyen Truc being placed first.

Worship and Memorial Site

Immediately after his death, his family built a shrine in Khe Thuong village, Nghia Huong commune. In 1484 (Hong Duc year 15), King Le Thanh Tong ordered his remains to be reinterred at the foot of Dai Lai Mountain in Bach Thach commune, Quoc Oai prefecture, where his tomb remains today.

The ancestral shrine features traditional Vietnamese architecture. Passing through a small ceremonial gate (nghi mon), one enters the courtyard. The gate has an arched structure with pillars and flanking low walls, topped with a double-tiered roof adorned with stylized curved tiles and dragon motifs. Decorative elements include paired dragons flanking the roof ridge and symbolic motifs such as the sun and ho phu (mythical face).

The worship hall stands on slightly elevated ground in a “dinh”-shaped layout. The front hall consists of three bays with traditional wooden framing. Architectural features include layered roofs, elaborately carved beams, and stylized motifs such as the “four sacred creatures.” The inscription “Nguyen Thi Tu Duong” is displayed prominently.

The rear sanctuary (hau cung) connects to the main hall and is constructed with brick vaulting. The current structure largely reflects renovations from the Nguyen dynasty, featuring wooden frames made from high-quality hardwood and refined decorative carvings.

References

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Nguyen Truc (1417–1474) – Lauréat (Zhuangyuan) de deux pays

Origines

Nguyen Truc naquit le 31 mai 1417 (année Dinh Dau). Il portait le surnom Hu Lieu et le nom de courtoisie Cong Dinh. Il naquit et grandit dans le village natal de sa mère, Dinh Tu, commune de Can Huu (aujourd’hui district de Quoc Oai, Hanoi), tandis que ses origines familiales se trouvent à Boi Khe, commune de Tam Hung (district de Thanh Oai, Hanoi).

Il était issu d’une prestigieuse famille confucéenne. Selon la généalogie, jusqu’à sa génération, la lignée comptait quatre générations consécutives de lauréats des plus hauts examens impériaux. Son arrière-grand-père, son grand-père et son père étaient tous des docteurs (tien si) renommés de leur époque. Notamment, son grand-père Nguyen Binh fut instructeur confucéen et fonctionnaire à l’Académie impériale sous le règne du roi Tran Hien Tong. Son père était le docteur Nguyen Thoi Trung.

Examens et carrière administrative

Dès son plus jeune âge, Nguyen Truc se distingua par son intelligence et ses excellentes capacités d’apprentissage. À seulement 12 ans, il maîtrisait déjà la littérature, montrant un talent supérieur à celui de ses pairs.

En 1434, il participa à l’examen régional Huong et obtint la première place, affirmant son talent académique dès les débuts de sa carrière.

En 1442 (année Nham Tuat), il se présenta à l’examen de cour (examen Dinh), le plus élevé du système mandarinal, et obtint le titre de Zhuangyuan (Trang Nguyen), devenant ainsi le premier Zhuangyuan de la dynastie des Le postérieurs. Après son succès, le roi Le Thai Tong lui conféra le rang de A Liet Khanh à l’Académie impériale. Il se classa également premier parmi les 33 docteurs de cette promotion, dont les noms furent gravés sur des stèles de pierre au Temple de la Littérature (Van Mieu – Quoc Tu Giam). Il s’agit du premier concours confucéen à être ainsi inscrit, avec Nguyen Trai comme examinateur principal.

Entré dans la carrière mandarinale, en 1444 sous le règne du roi Le Nhan Tong, il fut nommé académicien (Truc Hoc Si) à l’Académie Hanlin et occupa simultanément le poste de Vu Ky Uy. Peu après, il fut promu An Phu Su de Nam Sach, une fonction administrative importante. De retour à la cour, il devint maître de conférences (Thi Giang) à l’Académie Hanlin, puis fut progressivement promu jusqu’au poste de vice-ministre (Thi Lang) au Secrétariat.

En 1445, il fut nommé Thieu Trung Khanh Dai Phu et chargé du rôle de censeur au Censorat. Toutefois, il refusa à plusieurs reprises avant d’accepter après trois édits impériaux, ce qui témoigne de sa prudence et de son humilité.

En 1463, sous le règne de Le Thanh Tong (4e année de l’ère Hong Duc), il fut promu chancelier de l’Académie Hanlin et recteur (Te Tuu) de l’Académie impériale. Il jouissait d’un grand respect de la part du roi, qui lui soumettait fréquemment ses œuvres littéraires pour en obtenir des commentaires. Nguyen Truc mourut en fonction à l’âge de 57 ans. Le roi, profondément attristé, lui conféra à titre posthume le titre de Thai Bao et envoya des fonds pour ses funérailles. De hauts dignitaires escortèrent sa dépouille jusqu’à Quoc Oai, où un sanctuaire fut érigé en son honneur à Khe Thuong, commune de Nghia Huong.

L’anecdote du « Zhuangyuan de deux pays »

Selon la tradition orale, en 1457, le roi Le Nhan Tong le convoqua pour recevoir un émissaire de la dynastie Ming nommé Huang Jian. Grâce à son éloquence, Nguyen Truc impressionna profondément l’envoyé. Il fut ensuite envoyé en mission diplomatique à la cour des Ming, accompagné du vice-émissaire Trinh Khiet Tuong.

Arrivé à Pékin lors d’un concours impérial, Nguyen Truc aurait participé à l’examen afin de démontrer le talent des lettrés de Dai Viet et aurait obtenu le titre de Zhuangyuan à la cour des Ming, devenant ainsi « Zhuangyuan de deux pays ». Trinh Khiet Tuong aurait obtenu le deuxième rang (Bang Nhan). À leur retour, tous deux furent nommés ministres (Thuong Thu).

Cependant, selon Kien Van Tieu Luc (Livre XII, « Récits divers ») de Le Quy Don, cette histoire relève probablement du folklore. Il estime qu’elle fut inspirée par une plaisanterie du roi Le Thanh Tong envers Nguyen Truc et qu’elle n’a pas de fondement historique. Le Quy Don rapporte également une version populaire expliquant une modification des classements lors de l’examen.

Culte et site commémoratif

Immédiatement après sa mort, sa famille érigea un sanctuaire dans le village de Khe Thuong, commune de Nghia Huong. En 1484 (15e année de l’ère Hong Duc), le roi Le Thanh Tong ordonna le transfert de sa sépulture au pied du mont Dai Lai, commune de Bach Thach, préfecture de Quoc Oai, où elle se trouve encore aujourd’hui.

Le sanctuaire présente une architecture traditionnelle vietnamienne. On y accède par un petit portail cérémoniel (nghi mon) à voûte, orné de piliers et de murs latéraux bas, surmonté d’un toit à deux niveaux décoré de dragons stylisés.

Le bâtiment principal, construit sur un terrain légèrement surélevé, adopte un plan en forme de « dinh ». Il comprend une salle frontale à trois travées avec charpente en bois traditionnelle, toitures superposées et motifs décoratifs tels que les « quatre animaux sacrés ». L’inscription « Nguyen Thi Tu Duong » y est visible.

Le sanctuaire arrière (hau cung), relié au bâtiment principal, est construit en briques voûtées et recouvert d’un toit en tuiles. L’état actuel reflète en grande partie une restauration sous la dynastie Nguyen, avec une charpente en bois précieux finement travaillée et des décorations sobres mais élégantes.

Références

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

两国状元阮直(Nguyen Truc,1417–1474)

身世

阮直(Nguyen Truc)生于丁酉年五月三十一日(即公元1417年5月31日),号湖寥(Hu Lieu),字公颖(Cong Dinh)。他出生并成长于外祖家乡——定秀村(Dinh Tu),属干有社(Can Huu,今河内国威县 Quoc Oai),而其本贯在倍溪(Boi Khe),属三兴社(Tam Hung,清威县 Thanh Oai)。

阮直出身于一个显赫的儒学世家。据家谱记载,至其一代,家族已连续四代有人高中大科。其曾祖、祖父与父亲皆为当时著名的进士。其中祖父阮秉(Nguyen Binh)曾任国子监儒学训导,仕于陈宪宗(Tran Hien Tong)朝;其父为进士阮时中(Nguyen Thoi Trung)。

科举与仕途

阮直自幼聪颖好学。年仅十二岁,便精于文辞,才华出众,远超同辈。

1434年,他参加乡试并高中榜首,初露锋芒。

1442年(壬戌年),他参加殿试——封建科举最高级别考试——荣登状元,成为后黎朝首位状元。登科后,黎太宗(Le Thai Tong)赐其亚列卿之职,任于国子监。同时,他在该科33名进士中名列第一,其姓名被镌刻于文庙—国子监石碑之上。值得注意的是,此为儒学科举首次立碑记名,由阮廌(Nguyen Trai)担任主考官。

入仕之后,1444年,在黎仁宗(Le Nhan Tong)朝,他被任命为翰林院直学士,并兼任武骑尉。不久升任南策安抚使,为地方要职。返京后,历任侍讲、翰林院官,逐步升至中书省侍郎。

1445年,朝廷授其少中卿大夫,并任御史台御史。但他多次辞让,直至朝廷三次下诏方才接受,足见其谨慎谦逊之风。

1463年(洪德四年),在黎圣宗(Le Thanh Tong)朝,他升任翰林承旨、国子监祭酒。深受皇帝器重,帝所作诗文多交其评议。阮直卒于任上,享年57岁。皇帝哀悼不已,追赠太保,并赐金帛致祭,命大臣护送灵柩归葬国威,并在义香社(Nghia Huong)溪上村(Khe Thuong)建祠祀之。

“两国状元”轶事

据民间传说,1457年,黎仁宗召阮直入朝接待明朝使臣黄谏(Huang Jian)。他以卓越的应对才能折服使者。其后奉命出使明朝,与副使郑洁祥(Trinh Khiet Tuong)同行。

抵达北京时,适逢明廷举行殿试。为展示大越学人之才,他参加考试并高中状元,遂有“两国状元”之称。郑洁祥则中榜眼。归国后,二人皆被授予尚书之职。

然而,据黎贵惇《见闻小录》(卷十二·丛谈)记载,此事实为民间传说,并无史实依据。其源或为黎圣宗因宠爱阮直,赐冠服时戏谑命题,令其构思成说。书中还记载一则传闻:郑洁祥故意作答失误,致使名次互换,遂有阮直为状元之说。

祠祀与遗迹

阮直去世后,其家人即于义香社溪上村建祠奉祀。1484年(洪德十五年),黎圣宗下诏迁葬于白石社(Bach Thach)大赖山(Dai Lai)山麓,墓址至今犹存。

其祠堂为典型越南传统建筑。经小型仪门入院,门为拱券式结构,两侧设矮墙与立柱,上覆重檐屋顶,饰以龙形纹样。

正殿建于高出地面约30厘米的台基上,呈“丁”字形布局。前殿为三间结构,木构梁架,屋顶层叠,并饰以“四灵”等传统图案。中部题额“阮氏祠堂”。

后宫与前殿相连,为砖砌拱券结构,外覆瓦顶。现存建筑多为阮朝时期重修遗存,采用优质木材,结构严谨,雕饰简洁而典雅。

参考

  1. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  3. Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp. 
  4. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  5. Lê Tung, Đại Việt thông giám tổng luận, Hội Bảo tồn di sản chữ Nôm
  6. Lê triều ngọc phả
  7. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  8. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.

Bottom of Form

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)