Nguyễn Lộc (1912 – 1960)

Nguyễn Lộc (1912 – 1960)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Trời sẩm tối. Một trai tráng băng qua đám ruộng, bước lên đường làng, chân rảo nhanh. Gương mặt chàng rắn rỏi, tay cầm cây gậy nhỏ. Vừa đi đến khu mộ cổ, nơi ấy cây cối um tùm, bỗng chàng nghe có tiếng hét lớn:

– Vây bắt lấy nó!

Lập tức từ phía sau cây cổ thụ, có dăm bảy người đàn ông lực lưỡng xông ra. Trên tay lăm lăm gậy gộc, nét mặt đằng đằng sát khí tưởng chừng như sẽ ăn tươi nuốt sống được ngay. Một cuộc quyết đấu đã diễn ra dữ dội. Không một chút nao núng, chàng trai tung ra những thế võ chống đỡ. Chỉ với cây gậy trên tay, nhưng bằng những động tác nhanh nhẹn chàng đã thoát khỏi vòng vây của đối phương. Trong nháy mắt, sau vài đường quyền né đòn lợi hại, chàng đã mất hút vào bóng đêm. Tiếng chân người huỳnh huîch đuổi theo. Tiếng chó sủa vang. Thế là tay cộng sản ấy đã trốn thoát rồi! Những tên hương lý trong làng hậm hực lắm. Chúng lại càng điên tiết khi rạng sáng ngày hôm sau đã thấy truyền đơn rải đầy làng!

Hình ảnh người cách mạng thoắt ẩn thoắt hiện đã được mọi người trong làng thì thào kể với nhau bằng sự khâm phục. Nhất là đám thiếu niên, khi nghe kể lại những mẩu chuyện tương tự như thế này, trong trí tưởng tượng cứ hình dung ra hình ảnh hiệp khách văn võ song toàn từng được đọc trong truyện kiếm hiệp! Trong số những thiếu niên ấy có Nguyễn Lộc, sau này sẽ là người tiên phong sáng lập ra môn phái VoViNam – Việt võ đạo được các môn sinh xưng là Võ sư Sáng tổ.

Sự thoát thân của người cách mạng trong đường tơ kẽ tóc, dần dần đã giúp cho Nguyễn Lộc hiểu ra rằng: muốn đưa cuộc cách mạng dân tộc đến chỗ thành công, không chỉ tạo cho thanh niên một ý thức cách mạng, một tinh thần quật cường, một nghị lực quả cảm mà còn phải rèn luyện một thân thể cường tráng, sức khỏe dẻo dai có khả năng tự vệ trong mọi tình huống.

Thân thế

Nguyễn Lộc sinh ngày 4 tháng 8 năm Nhâm Tý (1912) tại làng Hữu Bằng, huyện Thạch Thất (Sơn Tây) – con trai trưởng của ông bà cụ Nguyễn Đình Xuyến và Nguyễn Thị Hòa. Lúc Nguyễn Lộc lớn lên, đất nước đã mất vào tay giặc Pháp. Để mê hoặc thanh niên, chúng cho người dân bản xứ đang bị nô lệ được phép tự do… buôn bán thuốc phiện, rượu và ăn chơi trác táng! Không những thế, chúng còn lừa mị bằng cách tổ chức phong trào thể dục thể thao “vui vẻ trẻ trung” để đánh lạc hướng tuổi trẻ.

Sự nghiệp

Sống trong hoàn cảnh như thế, cũng như nhiều thanh niên yêu nước khác tất nhiên Nguyễn Lộc rất ưu tư. Ngày đêm ông trau giồi học vấn và miệt mài nghiên cứu, luyện tập hầu hết các môn võ thuật. “Qua một thời gian, ông nhận thấy môn võ nào cũng có những ưu điểm của nó, nhưng nếu chỉ phổ biến riêng lẻ một phương pháp nào đó vào đại chúng Việt Nam – một dân tộc phần đông đều có thân hình nhỏ yếu, đang bị kìm hãm bởi đế quốc thực dân – thì khó mà đạt kết quả như ý. Hơn nữa trong mọi cuộc chiến đấu, vấn đề tinh thần và danh dự vẫn là hai yếu tố quan trọng để quyết định sự thành bại. Bởi vậy ngoài phần võ thuật và tinh thần võ đạo, ông còn muốn giáo dục các môn sinh sau này của ông về danh dự của Tổ quốc. Nghĩa là thanh niên Việt Nam phải có phương pháp tự vệ mang danh dân tộc Việt Nam, tiêu biểu cho tinh thần tự chủ bất khuất của tiền nhân, để khi chiến đấu có được hùng khí, quyết đem vinh quang về cho Tổ quốc, cho môn phái.

Một môn sinh VoViNam với tư cách cá nhân có thể rất hiền lành, nhã nhặn, song khi bắt buộc phải mang danh nghĩa của dân tộc và môn phái đụng độ với một ai, thì chỉ có thể chiến thắng vinh quang hoặc chết vẻ vang, chứ không chịu làm nhục quốc thể và tổn thương đến danh dự môn phái.

Với luận cứ đó, ông đã lấy môn vật cổ truyền của Việt Nam làm nòng cốt, khai thác mọi tinh hoa võ thuật đã có trên thế giới để sáng tạo thành một môn phái riêng, đặt tên VoViNam.

Sự kiện quan trọng này diễn ra vào năm 1938.

Sau một thời gian bí mật luyện tập cho bạn bè cùng trang lứa, mùa thu năm 1939, võ sư Nguyễn Lộc mới đem lớp võ sinh đầu tiên biểu diễn ra mắt quần chúng tại Nhà hát Hà Nội và được hoan nghênh nhiệt liệt. Ba tiếng VoViNam – Võ Việt Nam sáng rực như ngọn đuốc Dân tộc, đã làm lu mờ hẳn ngọn nến ngoại lai tẻ nhạt của phong trào thể dục của tên mật thám cáo già Ducoroy thời bấy giờ. Do đó, bác sĩ Đặng Vũ Hỷ – Hội trưởng Hội Thể dục Thể thao Hà Nội – đã mời ông cộng tác với Hội để tổ chức những lớp dạy võ công khai cho thanh niên. Lớp dạy VoViNam đầu tiên được khai giảng vào đầu xuân năm 1940 tại trường Sư phạm nằm trên đường Đỗ Hữu Vị (nay thuộc phố Cửa Bắc). Thanh niên hào hứng đến học rất đông, họ được huấn luyện trên ba phương diện là võ lực, võ thuật và tinh thần võ đạo.

Theo võ sư Chưởng môn Lê Sáng thì võ sư Sáng tổ Nguyễn Lộc đã để lại di chỉ:

“Di chỉ thứ nhất là Anh Dũng: Mỗi môn sinh VoViNam phải luôn trui luyện cho mình một thân thể cường tráng, một bản lĩnh võ thuật uyên thâm. Đó là giai đoạn mở đầu của người học võ. Tiến lên bậc võ sư là đã có kiến thức về võ đạo và phải sống đời sống theo tinh thần võ đạo: Sống, để người khác sống và sống cho người khác. Đó là phần anh dũng của tâm hồn. Các võ sư phải tự ý thức nắm lấy phần trách nhiệm của mình trước sự tồn vong của môn phái, của dân tộc và của cả nhân loại nữa. Thấy điều phải còn rụt rè, thấy việc khó muốn thoái lui, cầu nhàn hưởng lạc thì quả thật chưa có sự Anh Dũng của tâm hồn.

Di chỉ thứ hai là Hòa Ái: Đố kỵ và tự cao là hai liều thuốc độc giết chết trái tim từ ái. Đó là điều tối kỵ đối với người học võ. Hãy yêu người để được người yêu và nể trọng mình, hãy hòa với mọi người để được người tin và đối xử chân thành với mình. Đó là điều cốt lõi cho một tập thể ổn định, là nền tảng cho cả nhân loại đi đến hòa bình.

Sau đây là 10 điều tâm niệm của Việt võ đạo sinh:

  1. Nguyện đạt tới cao độ của nghệ thuật để phục vụ dân tộc và nhân loại.
  2. Nguyện trung kiên phát huy môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên Việt võ đạo.
  3. Đồng tâm nhất trí, tôn kính người trên, thương mến đồng đạo.
  4. Tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, nêu cao danh dự võ sĩ.
  5. Tôn trọng các võ phái khác, chỉ dùng võ để tự vệ và bênh vực lẽ phải.
  6. Chuyên cần học tập, rèn luyện tinh thần, trau giồi đức hạnh.
  7. Sống trong sạch, giản dị, trung thực và cao thượng.
  8. Kiện toàn một ý chí đanh thép, thắng phục cường quyền bạo lực.
  9. Sáng suốt nhận định, bền gan tranh đấu, tháo vát hành động.
  10. Phải tự tin, tự thắng, khiêm cung, độ lượng, luôn kiểm điểm để tiến bộ”

Những lớp dạy võ của Nguyễn Lộc ngày càng phát triển và tạo được dư luận tốt. Bản tính “uy vũ bất năng khuất” của ông đã ảnh hưởng nhiều đến các môn sinh. Mùa thu năm 1940 trong một buổi biểu diễn võ thuật, có Ducoroy chủ tọa trên khán đài, mọi người tưởng rằng, Nguyễn Lộc sẽ cho các môn sinh nghiêm lễ ngoài sân như thường lệ. Nhưng không, ông đã dẫn họ vào phía hậu đài nghiêng mình trước bàn thờ Tổ quốc đã thiết lập sẵn sàng nơi đó. Rồi giữa cuộc biểu diễn, Ducoroy đã đích thân gắn trên ngực Nguyễn Lộc huy chương nhằm biểu dương thành tích của ông. Nhưng từ “khán đài danh dự”, Nguyễn Lộc đã gỡ tấm huy chương bỏ vào túi, tiếp tục điều khiển cuộc biểu diễn xem như không có gì xảy ra! Hành động này tất nhiên làm bẽ mặt quan chức cao cấp của Pháp, nhưng gây được xúc động tâm lý, niềm tự hào trong thanh niên và nhất là các môn sinh VoViNam. Sau này, chính họ là những người châm ngòi nổ cho các vụ xung đột giữa thanh niên Việt Nam với các quan chức Pháp. Điều này đã khiến nhà cầm quyền thực dân ra lệnh cấm các lớp dạy võ của Nguyễn Lộc không được tiếp tục hoạt động nữa. Trước sự thử thách này, không một chút nao núng, ông vẫn bí mật rèn luyện các môn đệ tâm huyết ở nhà riêng tại đường Chanceaulme (nay là phố Triệu Việt Vương) và từng bước phát triển môn phái VoViNam.

Một người đã từng giáo dục các môn sinh về tinh thần yêu nước, thì việc Nguyễn Lộc hướng các môn sinh tham gia các tổ chức ái quốc cũng là lẽ tất nhiên. Trước ngày nổ ra cuộc cách mạng tháng Tám, môn phái VoViNam đã hợp tác với Hội Sinh viên để tổ chức các ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, tham gia cứu đói… Ngoài ra Nguyễn Lộc còn tổ chức nhiều lò võ tự vệ ở trường Sư phạm, trường Bưởi, Việt Nam học xá v.v… để tạo sự tự tin và tinh thần thượng võ trong quần chúng. Đây là những ngày tháng mà VoViNam phát triển rộng khắp. Sau cách mạng tháng Tám, Nguyễn Lộc đã cộng tác với thủ lĩnh của sinh viên là Dương Đức Hiền và các trí thức yêu nước khác mở nhiều lớp dạy võ cho bộ đội và dân quân du kích. Từ năm 1951, Nguyễn Lộc đi vào Nam với sứ mệnh tiếp tục phát triển môn phái VoViNam.

Cuối đời

Ông mất ngày 4 tháng 4 năm Canh Tý (1960). Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, vị Sáng tổ môn phái VoViNam đã cho gọi môn đệ trưởng tràng là võ sư Chưởng môn Lê Sáng đến và dặn dò:

– Anh biết mình không còn sống được nữa… Đời anh đã đào tạo nhiều thế hệ môn sinh… Em hãy cố gắng công việc anh bỏ dở… để phát triển môn phái, xây dựng thế hệ thanh niên võ sĩ đạo cho dân tộc và nhân loại.

Nhận lời ủy thác này, người học trò xuất sắc nhất của ông đã làm tròn nhiệm vụ cao cả được giao. Hiện nay, Tổ đường VoViNam – Việt võ đạo nằm tại tòa nhà số 31 Sư Vạn Hạnh, quận 10 (Thành phố Hồ Chí Minh). Đến thăm nơi này, nhà báo Nguyễn Ngọc Thạo có cho biết: “Bước lên tầng lầu 1 đi vào võ đường chính, điều đầu tiên đập vào mắt chúng tôi là những bức tranh hoành tráng có trên 30 năm. Tất cả được trưng bày theo một bố cục, mà nhìn vào bạn có thể đọc được cả một lịch sử hào hùng của cha ông. Này là bức tranh Bà Triệu Trinh Nương đang cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, chém cá kình ở bể Đông, quét sạch giặc Ngô ra khỏi bờ cõi để cứu dân. Kia là Ngô Vương Quyền dậy sóng Bạch Đằng dìm sâu mộng xâm lăng phương Bắc. Rồi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn với những chiến công hiển hách phá Tống bình Chiêm; Lý Thái Tổ với biểu tượng Rồng vàng bay lên báo hiệu thời hưng thịnh mới của nước Đại Việt; Lý Thường Kiệt với những chiến thắng lẫy lừng cùng câu thơ tuyên ngôn bất hủ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư…”

Là con dân nước Việt, là nòi giống Lạc Hồng, ai cũng có trong huyết quản mình dòng máu sôi sục tinh thần thượng võ của Tổ tiên. Tại nơi đây ôn lại trang sử cũ qua ngôn ngữ hội họa, bạn sẽ thấy một niềm tự hào khó tả… Lòng còn bồi hồi cảm xúc, bước chân đã đưa bạn tới bàn thờ Sáng tổ. Kính cẩn nhìn lên uy nghi dàn Bát bửu, di ảnh Tổ sư còn đó, vẫn mãi còn quan tâm lo lắng, dõi theo từng bước đi của mỗi môn đồ. Hai câu thơ “Sư thiện đồ minh quốc chánh hưng. Phụ từ tử hiếu gia phong thịnh” như luôn nhắc nhở cái đạo “tề gia trị quốc” cùng nghĩa cha con, tình thầy trò vẫn còn nguyên đó, cũng nói lên cái lẽ sự vật biết “thuận thiên hòa nhân” thì luôn trường tồn vĩnh cửu”.

Tổ đường này còn là nơi trung tâm huấn luyện, nơi làm việc của Chưởng môn và cũng là nơi Hội đồng võ sư xét duyệt các luận án nhằm phát triển môn phái VoViNam. Và cũng theo tài liệu này ta được biết thêm: “Võ thuật cũng như các môn khoa học khác tiến triển qua từng thời đại. Vì vậy Hội đồng nghiên cứu võ học VoViNam – Việt Võ đạo bắt buộc các võ sư từ Đệ tứ đến Đệ ngũ đẳng ngoài công lao, niên hạn đều phải làm luận án nghiên cứu. Thông thường triển khai một đề tài võ học phải mất 4 năm. Luận án được bảo vệ trước một Hội đồng xét duyệt và các luận án quan trọng đều phải bảo vệ tại văn phòng Chưởng môn. Những luận án có giá trị thực tiễn được văn phòng in thành tài liệu với số lượng lớn gửi đi các nơi để triển khai vận dụng. Thời gian qua những luận án được đánh giá xuất sắc có thể kể: Nguyên lý cương nhu phối triển và nền tảng võ học VoViNam của võ sư Nguyễn Văn Sen; Phương pháp huấn luyện kỹ thuật VoViNam của võ sư Nguyễn Anh Dũng; Phương pháp cứu tỉnh hồi sinh trật đả của võ sư Nguyễn Văn Vang; Làm thế nào để phát triển VoViNam vào cộng đồng quốc tế của võ sư Huỳnh Trọng Tâm, hiện sinh hoạt tại Liên đoàn võ thuật Florida (Hoa Kỳ)… Với hệ thống đẳng cấp và văn bằng, từ Hoàng đai đệ nhị cấp (huấn luyện viên) trở lên đến cấp bậc võ sư đều do Chưởng môn ký; cấp thấp hơn chỉ có chứng chỉ do Hội ở các tỉnh thành xác nhận; riêng các môn sinh các nước trên thế giới thì do liên đoàn VoViNam nước sở tại cấp”.

Tất cả những chi tiết này cho thấy VoViNam đã có một chiến lược lâu dài để phát triển môn phái của mình. Từ năm 1989, VoViNam đã được Sở Thể dục Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh chính thức công nhận, cho phép thành lập Hội VoViNam và VoViNam cũng là thành viên thuộc Liên đoàn Võ thuật Việt Nam.

Không chỉ ảnh hưởng rộng khắp trong nước mà VoViNam còn phát triển đến nhiều nước trên thế giới và ngay cả người nước ngoài cũng đã theo học. “Ấn tượng lớn nhất tại Liên hoan võ thuật quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh 2001 có lẽ không gì ngoài hình ảnh những “ông tây bà đầm” đến từ Pháp, Rumani, Anh, Ý, Marôc, Angiêri… trong bộ võ phục màu xanh lam nhạt của môn VoViNam đã thi thố võ nghệ một cách thuần thục bằng tay không hoặc kèm binh khí”. Khi trả lời câu hỏi của nhà báo Sỹ Huyên tại sao lại chọn học VoViNam mà không chọn môn phái khác, anh Patrick Levet (người Pháp) cho biết: “Năm lên tám, tôi biết đến một Việt Nam đang hứng chịu cuộc chiến tranh thông qua hình ảnh trên các kênh truyền hình. Nhìn cảnh bom rơi, đạn lạc… tôi không thể hiểu tại sao nhân dân Việt Nam có thể sống, chiến đấu và chịu đựng một cách ngoan cường như vậy? Câu hỏi ấy đã đeo đẳng trong tâm trí tôi, thôi thúc tôi một nỗi khát khao tìm hiểu về Việt Nam mà khởi đầu là đến với VoViNam”. Nhà thơ Phạm Thanh Nam có viết bài thơ Hồn võ Việt – mà qua đó ta có thể thấy được lòng tự hào của môn sinh VoViNam đối với môn phái của mình:

Bốn ngàn năm gìn giữ vững non sông
Đánh đổ hết những kẻ thù xâm lược
Nền Việt võ gồm tinh hoa quyền cước
Đã bao đời thái dụng võ mười phương VoViNam – võ đạo của tình thương
Nửa thế kỷ tạo lòng dân thế nước
Văn không võ chỉ là văn nhược
Võ thiếu văn cũng chỉ võ biền thôi
Võ văn luôn ở vị thế sanh đôi
Mới nẩy nở tinh thần Nhân võ đạo
Không cuộc sống giúp người không cần báo
Nêu cao gương đại nghĩa chẳng khoa tài
Để dựng xây cho thế hệ tương lai
Một lý tưởng với mục tiêu hiển ích
Nào dấn bước nhằm chung về một đích
Võ Việt hồn thiêng linh khí vươn lên
Khắp đất trời Nhân võ đạo khai nguyên.

Có thể nói, đây là tinh thần của VoViNam mà võ sư Sáng tổ đã truyền lại các các thế hệ môn phái của mình.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Lộc

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)