Bối cảnh xã hội
“- A, lại còn thằng thầy lang khách này nữa! Tẩy chay! Tẩy chay!
Học sinh trỏ vào phòng thuốc nhà giàu bảo nhau thế, rồi họ chia ra làm hai toán, vây lấy hai bên Nhà vàng Bờ Hồ, tay phát cổ động, miệng khuyên đồng bào:
– Này các ông các bà có bệnh, mời các ông các bà đến tìm các ông lang nhà ta. Nguời chủ phòng thuốc này là người cùng nước với tên Lý Thiên nó chửi cả nước Nam ta là man di, mọi rợ, là ấu trĩ đấy!
Cậu Nghĩa cũng đứng trong đám bọn ấy, thêm:
– Chúng ta không gánh vàng đi đổ sông Ngô, nhưng cũng không gánh vàng đi đổ sông Tây. Trong phòng khách này không những người khách làm chủ, mà có cả một con mẹ đầm làm công.
Nói đoạn trỏ tay vào những tờ quảng cáo dán ở tường phòng thuốc.
– Tẩy chay ngoại hóa! Khuyến khích đồng bào dùng nội hóa!
Học sinh hô khẩu hiệu rầm rầm…
Anh Thừa đương lúc bối rối, bỗng nghĩ ngay ra một kế, anh đội khăn, mặc áo chùng, mở cửa sau ra phố Cầu Gỗ, rồi vòng về đàng trước phố Bờ Hồ. Đến chỗ các xe điện Bạch Mai và Bưởi tránh nhau, thấy người đông, anh trèo lên một cột điện vuông, có bậc, anh đứng trên cao, vỗ tay thật mạnh và gọi:
– Mời đồng bào nghe tôi nói mấy lời! Mời đồng bào nghe tôi nói mấy lời!
Năm sáu người lại tới gần anh, rồi mươi, mười hai người… Anh nói:
– Hẳn đồng bào cũng biết là ở Sài Gòn, một người Nam mình bị một người khách trú chủ tiệm cà phê thống mạ. Thế mà tên khách trú khác tên là Lý Thiên dám viết bức thư chửi cả nước chúng ta là man di mọi rợ!
Người nghe đông thêm. Anh Thừa lại dùng tài diễn thuyết bán thuốc mấy mươi năm trước:
– Chúng ta là những người yêu nước. Chúng ta không để cho bọn ngoại quốc hỗn xược, dám khinh cả nước Việt Nam văn hiến mấy nghìn năm của chúng ta. Nhất định chúng ta phải tẩy chay cho bằng được. Hàng mấy trăm năm nay, đồng bào quen dùng hàng Tàu, coi khinh hàng ta. Nhưng từ nay, chúng ta thề với nhau không gánh vàng đi đổ sông Ngô nữa…
Gần một trăm người quây quanh cột điện, ngửa mặt nhìn diễn giả để lắng tai. Anh Thừa nói tiếp:
– Vả lại những hàng Tàu mà ta quen dùng, có thật là hàng Tàu không? Không. Nhiều hàng chính bọn chệt mua của ta, rồi bán lại cho ta. Thế mà nấm của ta, măng của ta, ta gọi là nấm Tàu, măng Tàu. Vậy thì là ta lầm. Vì ta chuộng của Tàu, nên người Tàu bán hàng ta mà ăn lãi của ta. Ngay như chè Tàu cũng vậy, có phải là chè Tàu nguyên đâu. Tải đến Hải Dương, họ trộn lẫn với chè ta, rồi gửi đi các tỉnh bán cho ta để ta tin là chè Tàu. Vậy thì hàng của ta có đớn hèn đâu, chỉ vì đồng bào ta sùng bái ngoại hóa, cho nên chính mình dùng hàng mình mà không biết.
Thấy xe điện bị tắc đường, không đi được, vì hàng trăm người vây vòng trong vòng ngoài cái trụ điện, lại có người đứng diễn thuyết, các học sinh đứng trước phòng thuốc nhà giàu cũng rủ tới. Anh Thừa càng nói hăng:
– Nước ta nghèo lắm đồng bào ơi! Bởi vì nước ta như cái bể bị rò. Nếu ta không hàn gắn chỗ rò, thì thế nào cũng có một ngày cạn hết nước. Đồng bào thử nghĩ đến ngày đau khổ ấy, có xót xa không?
Anh Thừa lấy mù-xoa lau mắt.
Thính giả im phăng phắc.
Bỗng có người đội xếp lách đám đông, đến gần cột sắt. Anh Thừa vung tay nói:
– Vậy đồng bào phải tẩy chay! Tẩy chay hàng Tàu!
Người đội sếp gọi:
– Này ông kia, xuống ngay! Tôi biên phạt bây giờ!
Anh Thừa không xuống:
– Phải dùng nội hóa!Tuy nội hóa chưa tốt, chưa đẹp bằng ngoại hóa, nhưng ta về ta tắm ao ta…
Thầy đội sếp trèo lên cột, lôi chân anh Thừa
Thấy vậy người ta la ó:
– Để ông ta nói! Nam quốc nam nhân không nên thế!
Nhưng người đội sếp cứ cố kéo. Bất đắc dĩ, anh Thừa phải xuống.
– Bốn hào phạt! Làm huyên náo phố phường!
Anh Thừa cãi:
– Tôi không có tiền. Tôi không làm huyên náo! Tôi là người Việt Nam, tôi làm nhiệm vụ của người Việt Nam, yêu nước, yêu đồng bào”… Đây là đoạn văn khá sinh động của nhà văn Nguyễn Công Hoan đã viết trong tiểu thuyết Đống rác cũ. Ông đã dựng lại được không khí đấu tranh của học sinh ở nước ta vào những năm 20 của thế kỷ XX – đã tạo nên phong trào tẩy chay ngoại hóa để ủng hộ nội hóa đã lan rộng từ Nam chí Bắc. Thời điểm này, tại chợ Vĩnh Long cũng có một số học trò kéo tới đập phá các tiệm chạp-pô của những Hoa kiều đã dùng lời nhục mạ, khinh miệt đồng bào nước Nam. Trong số đó có cô học trò nhỏ nhắn, xinh xắn tên Nguyễn Thị Nhỏ, sinh năm 1909 tại làng Long Hồ (Vĩnh Long).
Thân thế và cuộc đời
Giữa lúc cuộc tẩy chay đang diễn ra rầm rộ, bọn hội tề vác súng đến đàn áp và bắt một số học trò, Nhỏ cũng bị bắt. Sau thầy giáo hay tin, chạy đến can thiệp, xin xỏ thì họ mới được thả ra. Dù vậy, tinh thần yêu nước đã hình thành trong trí óc non nớt của Nhỏ và bạn bè cùng trang lứa. Trong gia đình của ông bà Nguyễn Văn Vững và Tống Thị Tòng, Nhỏ là con thứ năm trong số bảy anh em. Hầu hết anh em của Nhỏ đều tham gia cách mạng từ rất sớm. Trên Nhỏ là anh trai Nguyễn Văn Nhung – hoạt động trong Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ năm 1927, em gái là Nguyễn Thị Nhung từng ngồi tù Khám Lớn vì tham gia “quốc sự”. Năm 1926, có ba sự kiện đáng chú ý là Phan Châu Trinh từ trần, cụ Phan Bội Châu bị bắt đưa về Hỏa Lò và Nguyễn An Ninh bị giam trong Khám Lớn Sài Gòn – đã gây nên sự xúc động trong lòng quốc dân cả nước. Tất nhiên các sự kiện chính trị này đã ảnh hưởng sâu sắc trong nhận thức của chị Nhỏ. Bấy giờ, chị đã ra trường, được bổ nhiệm dạy trường nữ ở Hương Điểm (Bến Tre), ít lâu sau chị được chuyển về “Sa Đéc học đường”. Do tích cực tuyên truyền tinh thần yêu nước trong học sinh nên chị được kết nạp vào trong tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Đây là tổ chức do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập vào tháng 6/ 1925 ở Quảng Châu (Trung Quốc) – trên cơ sở nhân sự ban đầu là do cụ Phan Bội Châu giới thiệu, sau đó Nguyễn Ái Quốc tổ chức, huấn luyện và chọn ra một nhóm bí mật gọi là Cộng sản Đoàn làm hạt nhân. Mục đích của Hội là “Hy sinh tính mệnh, quyền lợi, tư tưởng để làm cuộc cách mạng dân tộc (đập tan bọn Pháp và giành lại độc lập cho xứ sở) rồi sau đó làm cách mạng thế giới (lật đổ chủ nghĩa đế quốc và thực hiện chủ nghĩa cộng sản)”. Trong điều lệ ghi rõ những ai 17 tuổi trở lên tán thành mục đích, chương trình, kỷ luật và được hai hội viên giới thiệu, thì được gia nhập Hội sau khi chi bộ đồng ý; chỉ có năm đối tượng không thể gia nhập Hội là bọn tay sai của Pháp, bọn thù địch của nhân dân, bọn nghiện thuốc phiện, cờ bạc và rượu chè. Tính đến năm 1929 thì toàn Nam Kỳ có tất cả 19 chi bộ như thế. Chị Nhỏ sau khi kết nạp đã được các đàn chị đàn anh đã dạy cho bài Huấn thị mà bất cứ hội viên nào cũng phải thuộc lòng:
Cách mạng đồng chí, huấn thị mấy chương
Xin chớ khinh thường, phải ghi vào dạ
Thư từ giấy má, hình ảnh thiếp danh
Chớ để trong mình, khi không sứ mạng
Tin tức lai vãng, phải biết gần xa
Khi người hỏi ta, ta không lúng túng
Ra nơi công chúng, gặp bạn chớ chào
Tỏ tiếng hỏi nhau, là điều bất tiện
Mật thư bí kiện, sắp đặt có nơi
Khám xét tìm tòi, nên phòng từ tí
Phải cho tinh ý, trước lúc hành vi
Soi xét hào ly, kẻo người rình lén
Khi đi việc kín, chớ có rụt rè
Lên tàu xuống xe, tự nhiên thái độ
Hẹn cho đúng chỗ, chớ đến sai giờ
Không được lững lơ, phải cho thần tốc
Trong mình y phục, thu xếp gọn gàng
Chớ để kình càng, cảnh sát chú mục
Không nên lụp chụp, cứ giữ đoan trang
Miệng chớ khoe khoang, việc đâu bỏ đó
Sổ sách giấy gió, gặp việc hủy ngay
Kẻo lọt vào tay những tụi hành chính
Hội nghị phải tính lối chạy lúc thua
Cổ bài bàn cờ thường nên dự bị
Kết nạp đồng chí, phải giấu tên mình
Giáp, Ất, Bính, Đinh,… tha hồ bịa đặt
Không nên rối trí lúc người bắt ta
Đến lúc hỏi tra, trả lời rất ít
Tra tấn có khổ, giả dại giả ngây
Tên bạn chớ khai, sự thật chớ nói
Chớ tin lời nói, rằng bạn thú rồi
Thần trí bồi hồi mà sa vào bẫy
Cứ vững thế ấy, làm gì được ta?
Kết cuộc phải tha, hoàn toàn danh tiếng
Hy sinh không xiết, phấn đấu kỳ cùng
Cách mạng thành công, đại đồng thế giới.
Hoạt động cách mạng
Từ đây, chị Nhỏ bắt đầu sinh hoạt chung với các anh như Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Phát…và thường xuyên liên lạc với anh Châu Văn Liêm ở Chợ Mới (Long Xuyên). Đầu năm 1929, chị được tổ chức bố trí đi học lớp huấn luyện chính trị, học xong chị được giao công tác trong Tỉnh bộ Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội – do anh Nguyễn Văn Phát làm bí thư. Anh Phát là một trong ba thanh niên đầu tiên của tỉnh Sa Đéc được đưa sang huấn luyện ở Quảng Châu vào năm 1927 và đến năm 1929 thì gia nhập An Nam Cộng sản Đảng. Đây cũng là thời gian diễn ra mối tình đầu của chị. Đêm ấy bóng trăng sáng rực. Ánh sáng lung linh trên dòng sông. Dưới mái nhà tranh khuất sau vòm cây trong vườn, có ánh đèn dầu le lói. Những thanh niên đang ngồi thảo luận và phân công nhiệm vụ cho những ngày sắp đến. Đâu đó trên cánh đồng làng từ nơi xa vọng về câu hò:
Hò ơ…
Tiếng đồn ông chủ ruộng giàu sang
Cho sáu mươi công cấy ăn khoai lang trứng cò!
Hò ơ…
Cối không xay thì cối nẩy Chị em mình có biết vậy hay không?
Bỗng chị Nhỏ bật lên tiếng cười khúc khích. Anh Phát đang đọc tài liệu ngẩng đầu lên rồi nhíu mắt:
– Ủa! Sao cô lại cười?
Chị cười bẽn lẽn:
– Thì nghe câu hò ấy ngộ quá chứ sao?
Nghe đáp vậy anh ngạc nhiên:
– Câu hò ấy tôi nghe hoài mà có thấy gì ngộ đâu?
Chị tủm tỉm cười:
– Hồi nhỏ, em nghe má em giải thích đó là cách mắng khéo của các cô thôn nữ mà mấy ông chủ ruộng không bắt bẻ được. “Cối không xay” là “Cấy không xôi” thì làm sao “cối nẩy” tức “cấy nổi”?
Anh Phát gật gù:
– Ừ! Bà con mình hóm hỉnh thiệt!
Qua những lần hoạt động như vậy, anh Phát dần dần có cảm tình riêng với Nhỏ. Anh tìm thấy ở chị sự thông minh, nhạy bén, biết giữ kỷ luật của đoàn thể. Còn chị đã thấy ở anh một vẻ nghiêm nghị, thường phát biểu chín chắn và nhất là… thương chị thật lòng. Chị thường tự hỏi, sao anh ấy chỉ bằng tuổi mà lại từng trải hơn mình nhiều lắm. Giữa năm 1929, chị được tổ chức điều lên công tác ở Sài Gòn. Bấy giờ hai người đãõ hứa hẹn sẽ kết duyên với nhau. Lúc từ biệt, chị cầm tay anh bịn rịn nói:
– Đợi ngày cách mạng thành công mới tổ chức đám cưới, còn bây giờ tạm gác tình riêng để cùng lo nhiệm vụ của cách mạng.
Anh Phát siết tay chị thật chặt và gật đầu đồng ý.
Lúc này, cơ quan Kỳ bộ đóng ở nhà số 14 đường Lacaze (nay là đường Nguyễn Tri Phương), chị cùng các đồng chí nhận nhiệm vụ biên tập, in ấn và phát hành tờ báo Công nông binh, tờ nội san Bôn sê vích và các tài liệu… Công việc đang tiến hành thì bọn chó săn đã lùng sục đánh hơi tới. Trong lúc chúng chưa phát hiện được điều gì cụ thể thì lại xẩy ra điều bất lợi là ngày 8/12/1928 xẩy ra vụ án giết người tại căn nhà số 5 trên đường Barbier (nay đường Thạch Thị Thanh). Thực chất đây là vụ trừng phạt một số hội viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội vi phạm kỷ luật với mức án tử hình. Dù đã nắm được nguyên nhân của vụ án nhưng thực dân Pháp cáo già tuyênbố là án hình sự để đánh lạc hướng của dư luận và để các thành viên trong tổ chức này không nghi ngờ. Rồi ngày 23/7/1929, do tên Hồ Cao Xường phản bội, nhận tiền của mật thám Pháp để làm chỉ điểm. Lập tức, trụ sở của Kỳ bộ bị bao vây, chị Nhỏ cùng chồng sắp cưới và các đồng chí của mình đã bị bắt. Những cán bộ cốt cán như Trần Trương, Tôn Đức Thắng bị bắt ở đầu cầu Kiệu; Phạm Văn Đồng vừa từ miền Trung vào Sài Gòn thì bị bắt tại ga xe lửa; Hà Huy Giáp chạy xuống Cần Thơ nên trốn thoát. Cùng lúc, thực dân Pháp tiếp tục theo dõi trung tâm chỉ đạo của Tổng bộ ở Quảng Châu, chúng đã liên lạc chặt chẽ với chính quyền nơi đó để tiếp tục đàn áp và hy vọng sẽ quét sạch mầm mống của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Mới hai mươi xuân, chị Nhỏ và anh Phát đã bắt đầu nếm những đòn tra tấn khốc liệt nhất của bọn cai ngục. Thế nhưng trước sau chị và anh cũng chỉ nhận mình vợ chồng, là chủ căn nhà 14 đường Lacaze. Đòn tra tấn man rợ của chúng đã khiến hai tai của chị mưng mủ và bị điếc. Chị em bạn trong tù gọi chị bằng cái tên thân mật là “Sáu Điếc”. Do không tìm ra chứng cứ nên chúng phải trả tự do cho chị, còn anh Phát thì chúng nghi ngờ có dính líu đến vụ án trên đường Barbier nên tiếp tục giam giữ và một năm sau thì chúng kêu án năm năm tù cấm cố. Trong thời gian chị ở tù thì anh Việt (tức Châu Văn Liêm) đã được cử làm Bí thư kỳ bộ thay cho Phạm Văn Đồng vừa bị bắt. Chị nhanh chóng bắt liên lạc với tổ chức. Lấy lý do đi thăm chồng, chị Nhỏ thường xuyên có mặt ở Khám Lớn để chuyển chỉ thị của Đảng vào trong tù. Sau đó, nghiêm túc thực hiện chủ trương “vô sản hóa” của Đảng đưa đảng viên đi vào quần chúng lao khổ để vận động và tuyên truyền họ về ý thức cách mạng, dù từ một cô giáo chân yếu tay mềm, nhưng chị Nhỏ đã sống và lao động như một thợ thuyền ở xưởng Ba Son. Do đó, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thì chị là một trong những người đầu tiên ở Nam Kỳ được vinh dự kết nạp vào Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh nổ ra khắp nơi trong cả nước. Ngày 4/6/1930, anh Châu Văn Liêm cùng các đảng viên nòng cốt tổ chức lực lượng biểu tình vác cờ đỏ búa liềm kéo thẳng về quận Đức Hòa. Hơn 1.500 nông dân giương cao các biểu ngữ đòi giảm thuế, đòi dân chủ, dân sinh…Tên cò Dreuil lồng lộn như con thú dữ, hắn chĩa súng siết cò khi anh đang yêu cầu thực hiện các yêu sách của quần chúng cần lao, anh hy sinh lúc đó mới 28 xuân. Trước tổn thất này, Xứ ủy đã cử anh Lê Quang Sung làm Bí thư liên tỉnh ủy Chợ Lớn – Gia Định để gánh vác phong trào, còn chị Nhỏ ở cương vị phó Bí thư. Dù các nơi đều bị khủng bố, nhưng chị vẫn thường xuyên đi về các vùng nông thôn để xây dựng lại các cơ sở Đảng. Thời gian này chị đóng giả nhiều vai, có lúc nhận là con nuôi ông Lê Minh Hiền – cha ruột đồng chí Lê Minh Xuân, lúc lấy tên Xuân trong vai cô giáo làng… và nhờ nhân dân thương yêu đùm bọc nên chị đã thoát được lưới bủa vây dày đặc của giặc. Thực dân ngày càng khủng bố ráo riết, có kẻ bị mua chuộc nên ra đầu thú kiếm sống bằng nghề làm chỉ điểm! Vì vậy tháng 6/1931, Lê Quang Sung sa vào tay giặc. Chị Nhỏ lại thay anh Sung giữ cương vị Bí thư. Nhưng chỉ vài tháng sau, trong chuyến công tác vào Sài Gòn, chị bị giặc phục kích vây bắt cùng với chị Trương Thế Lợi (tức chị Hai Lối) – người Bí thư chi bộ đầu tiên của làng Thạnh Lợi – Tân An do chị Nhỏ giác ngộ, dìu dắt. Lọt vào tay thú dữ lần thứ hai, do kẻ chỉ điểm cho biết chị là một cán bộ nòng cốt của Đảng nên chúng tra tấn dữ dội hòng moi ra cơ sở Đảng. Nếu chị mềm lòng, nhẹ dạ chỉ cần một cái gật đầu khi chúng đem ra đối chất với các đồng chí thì không ít người đã phải lên máy chém! Sức chịu đựng của chị thật gan góc, khiến những tên giết người chuyên nghiệp cũng chùn tay. Nhưng chúng quyết không thua “con cộng sản nông dân cứng đầu” nên càng đánh tợn hơn! Da thịt con người nào có phải sắt đá, đã hai lần chị tìm cách tự tử để giữ tròn khí tiết nhưng không chết. Ngày nọ, tên cai ngục sau khi tra tấn chị tàn khốc nhưng vẫn không thu được lời khai nào, hắn hất hàm hỏi một cách ngán ngẩm:
– Tao hỏi thật mày có đau không? Sao mày chịu đựng “chì” quá vậy?
Lạ thay, trong cơn đau thập tử nhất sinh, một câu Kiều bỗng vụt qua trí nhớ của chị như luồng điện, chị buột miệng nói luôn:
Thịt da ai cũng là người
Lòng nào hồng rụng, thắm rời, chẳng đau
Không rõ có phải sức mạnh mầu nhiệm của câu Kiều đã đánh thức nhân tính của tên cai ngục, hay sự gan góc của chị đã khiến hắn thay đổi thái độ đột ngột? Từ đó về sau, hắn không còn đánh đập chị tàn nhẫn như trước nữa. Cuối cùng từ bót Catina, bọn chúng chuyển chị qua Khám Lớn. Tại đây, cùng với các chị em trong tù như Nguyễn Trung Nguyệt, Nguyễn Thị Lựu, Thái Thị Nhạn, Trần Thị Hân… chị Nhỏ đã thành lập Ban trật tự trong tù để trực tiếp đấu tranh với bọn cai đòi cải thiện chế độ lao tù. Nửa đêm về sáng ngày 21/11/1931, các chị cùng anh em tù chính trị, thường phạm đã la hét phản đối vang dội cả Khám Lớn khi anh Lý Tự Trọng bị đem ra pháp trường. Sau cuộc đấu tranh này, chị bị chúng bắt giam riêng biệt trong cachot với chế độ khắc nghiệt nhất của nhà tù thực dân. Dù vậy, khi được về giam chung với chị em tù chị vẫn không hề nhụt chí cách mạng. Những ngày giáp Tết năm 1929, chị cùng với chị Nguyễn Trung Nguyệt làm chung bài thơ động viên tinh thần chị em trong tù:
Chào xuân, giữa dãy còng đôi
Quà xuân, mấy quả tim sôi máu hồng
Cảm xuân, réo rắt tơ lòng
Vui xuân, ta hãy hẹn cùng năm sau.
Trong hồi ký Đời tôi những điều nghe, thấy và sống (NXB TP.Hồ Chí Minh – 1994) của Hà Huy Giáp – một đồng chí hoạt động cùng thời với chị Nguyễn Thị Nhỏ có cho biết: “Từ ngày 2 đến ngày 6/5/1933, toà án đại hình Sài Gòn xử vụ 121 người lãnh đạo cộng sản miền Nam bị bắt trong phong trào 1930-1931. Qua ba năm thẩm vấn, bản cáo trạng dày đến 250 trang. Chúng chỉ xử có 101 người, vì 20 người đã bị chết trong tra tấn hay chết vì hậu quả của tra tấn. Đối với 101 người, chúng xử tử 8 người, 9 thế kỷ tù, từ khổ sai và đày chung thân đến tù ngồi và cấm cố có thời hạn. Các báo cáo gọi là vụ xử khổng lồ”. Nhưng những người tù cộng sản đã biến tòa án thực dân thành nơi tố cáo, lên án tội ác của chúng. Ba luật sư tiến bộ được chỉ định cãi hộ cho người tù là Trịnh Đình Thảo, Dương Văn Giáo và Vương Quang Nhường. Trước tòa án, chị Nhỏ là người nữ tù duy nhất đứng lên nói đanh thép:
– Chế độ của các ông vô cùng tàn bạo đối với phụ nữ. Chính vì vậy mà chị em chúng tôi phải đứng lên làm cách mạng chống lại chính sách dã man đó. Thực dân Pháp và địa chủ phong kiến áp bức, bóc lột nhân dân thậm tệ. Không làm cách mạng thì không thể phá vỡ được chế độ bóc lột, xoá bỏ xã hội bất công này… Suốt mấy ngày qua chúng tôi đã lớn tiếng vạch trần bộ mặt gian ác và thái độ xảo quyệt, âm mưu thâm độc của bọn thực dân cướp nước định hạ Đảng Cộng sản xuống hàng lưu manh trộm cướp. Chúng tôi đã bảo vệ được thanh danh của Đảng… Chính chúng tôi mới là người xử án các ngươi!
Hy sinh
Kết thúc vụ xử án này, trong số 6 nữ đảng viên thì chị bị kết án cao nhất: tử hình! Vụ án này không những quần chúng trong nước mà ngay cả nhân dân ở Pháp cũng không đồng tình. Trước sức ép các lực lượng tiến bộ, thực dân phải hạ tám mức án tử hình xuống thành tù khổ sai chung thân, riêng chị Nhỏ lãnh 15 năm tù khổ sai. Ngày 16/5/1933, chúng bí mật đưa những người tù xuống tàu đày ra Côn Đảo, trong số này có chị Nhỏ. Nhưng cuộc chiến đấu vì chính nghĩa của những người cộng sản không đơn độc, sự hy sinh của họ đã đánh thức được lương tri của chính người Pháp. Từ tháng 6/1934, Đảng Cộng sản Pháp đã quyết định gấp rút việc tổ chức thành lập Mặt trận công nhân thống nhất và trên cơ sở đó thành lập Mặt trận nhân dân. Đây là sự kiện chính trị quan trọng ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị ở Đông Dương. Và cũng theo sáng kiến của Đảng Cộng sản Pháp, Ủy ban vận động toàn xá tù chính trị Đông Dương đã ra đời. Sau đó, tháng 1/1934, phái đoàn công nhân điều tra do Gabriel Péri – một nghị sĩ cộng sản tại Quốc hội Pháp dẫn đầu đã sang Đông Dương. Phái đoàn này có nhiệm vụ xác minh tại chỗ những người yêu nước bị chính phủ thuộc địa đàn áp và điều tra tình cảnh của giai cấp công nhân sau cuộc khủng hoảng kinh tế. Chính Nguyễn An Ninh và Nguyễn Văn Tạo là những người đã dẫn phái đoàn đi tìm hiểu tình hình khắp các tỉnh Nam Kỳ.
Từ cuối tháng 4/1934, trên cơ sở các bản báo cáo của phái đoàn này, Hội Cứu tế đỏ đã tổ chức 98 cuộc mít – tinh quần chúng khắp nước Pháp để vận động đòi toàn xá cho tù chính trị ở Đông Dương. Nhờ vậy, một số tù chính trị đã được thả tự do, chị Nguyễn Thị Nhỏ được trở về đất liền trong hoàn cảnh như thế. Tuy nhiên, chúng vẫn tiếp tục theo dõi nghiêm ngặt và quản thúc chị tại quê nhà. Do đòn tra tấn hiểm hóc của kẻ thù nên chị mang theo về nhiều bệnh tật. Chị Nguyễn Thị Nhỏ mất vào ngày 21/11/1946 dù trái tim yêu nước, nồng nàn tình cảm cách mạng vẫn cháy bỏng trong tâm can.
Để ghi nhận công lao của chị trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy tên Nguyễn Thị Nhỏ để đặt tên hai con đường trong thành phố. Con đường thứ nhất nằm trên địa bàn phường 15 (quận 5), phường 2 (quận 6), phường 4, 6, 16 (quận 11) và con đường thứ hai nằm trên địa bàn phường 9 (quận Tân Bình) nối qua phường 15 (quận 11). Trong tình riêng, sau khi ra tù chị đã lập gia đình với anh Nguyễn Văn Phát mà hai người đã hẹn ước từ lúc mới đôi mươi. Họ đã sinh được năm người con, những cô con gái đều có lót chữ Mộng như Mộng Oanh, Mộng Lương…và một con trai tên Thái Bình – như thể hiện ước vọng thái bình của non sông mà suốt đời họ đã hy sinh tuổi thanh xuân.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.