Bối cảnh lịch sử
Ngay sau chiến thắng 1975 từ Hà Nội vào Sài Gòn, lúc bước xuống sân bay Tân Sơn Nhất, ông Lê Duẩn – Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Thắng lợi này là thắng lợi của cả dân tộc Việt Nam, chứ không của riêng ai”. Điều này hoàn toàn chính xác. Trong cuộc kháng chiến thần kỳ vừa qua, mỗi người Việt Nam yêu nước, từ nhiều góc độ khác nhau đã có những cách đóng góp riêng. Có những người phụ nữ anh hùng xông ra tiền tuyến, đối mặt với hòn tên mũi đạn, nắm thắt lưng của địch mà đánh, còn cái lai quần cũng đánh; có những bà mẹ lặng lẽ, bí mật làm cơ sở giao liên, thông tin liên lạc, đào hầm nuôi cán bộ, chiến sĩ; có những nữ sinh bình tĩnh chọn cái chết là tự thiêu để phản đối chiến tranh phi nghĩa, đánh thức lương tri yêu chuộng hòa bình của loài người v.v… Bạo lực tàn khốc của kẻ thù, dù thâm độc đến đâu cũng không làm sờn lòng yêu nước, mà tinh thần ấy ngày càng dâng trào như sóng lũ quyết “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Lòng yêu nước của nữ giới đã góp phần không nhỏ để làm nên chiến thắng vĩ đại ngày 30/4/1975.
Thân thế
Trong sự đóng góp ấy, có một phần xương thịt của một nữ sinh bình thường giống như bao người khác, cũng hiếu học, học rất giỏi, cũng yểu điệu thục nữ, cũng say mê công tác xã hội… Nếu có khác, thì trái tim của chị không một giây phút nào không quặn đau khi nhìn vào bức tranh ảm đạm của xã hội thực tại, khi nghe tiếng máy bay của giặc Mỹ điên cuồng trút bom xuống đồng ruộng Việt Nam… Đó là chị Phan Thị Mai sinh ngày 7 tháng giêng âm lịch năm 1934 tại làng Thái Hiệp Thành (Tây Ninh), bút hiệu Nhất Chi Mai, tự Nhất Chi, pháp danh Thích Nữ Diệu Huỳnh. Chị đã theo học tại Đại học Văn Khoa và Đại học Vạn Hạnh, là một tín nữ Phật giáo, dòng tu Tiếp Hiện. Khi đang là sinh viên chị đã hoạt động sôi nổi trong công tác từ thiện, vận động lòng hảo tâm của những người giàu có để giúp các sinh viên học sinh nghèo hiếu học, giúp những người lao động lao khổ. Một người bạn của chị trong phong trào đấu tranh sinh viên học sinh ngày ấy – chị Trần Tuyết Hoa nhớ lại: “Những ngày ấy chị thường động viên tôi: “Ráng đi em, chịu cực một chút để làm theo lời thầy mình thường dạy ở Văn khoa đó, nhớ hôn. Làm sen thơm ngát giữa bùn nhơ. Ráng làm sao cho được nhiều sen nở hoa trên bùn. Bà con mình còn nhiều người đau khổ lắm”. Nhìn hai pho tượng Đức Mẹ và Quan Âm được đặt ngay ngắn trước mặt chị, bên chân tượng Phật là mười bức thư cho cha mẹ, thầy bạn và những người có thẩm quyền gây chiến tranh, trong đó có bài thơ “Chết mới được ra lời” thì quả thật chị đã bình tĩnh chuẩn bị cho cái “Hạnh Bồ Tát” này từ lâu rồi. Mới mấy tháng trước, tôi còn gặp chị ở Đại học Văn khoa vào cuối thu 1966. Ngày đó tôi đã bỏ thi vì mới ra tù. Chị còn lo lắng cho tôi học hành dang dở, sờ mặt cầm tay tôi tìm xem có bị đánh đập thương tích trong tù không. Rồi chị khuyên tôi đừng sốc nổi quá mà bị bắt lại thì khổ lắm. “Con gái ở tù ngoài chuyện bị đánh đập còn nhiều cái đáng sợ lắm em ơi! Thôi, em hãy theo chị về làm công tác xã hội ở dòng tu Tiếp Hiện, cũng làm được nhiều việc có ích cho xã hội và hợp với con gái tụi mình hơn”. Thế là cứ đến cuối ngày cuối tuần, nghỉ học, tôi lại tiếp tục theo chị trên chiếc xe hơi trắng nhỏ, gọn, lao vào các vùng nông thôn hẻo lánh để phát sách vở, quà tặng cho các gia đình khó khăn. Rồi đi vận động các gia đình giàu có xin học bổng cho các em học sinh nghèo”. Cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Mỹ trên đất nước ta ngày một tàn khốc. Ngay cả ở nước Mỹ, những người có lương tri, yêu hòa bình, yêu thương con người cũng xuống đường biểu tình phản đối. Có một sự kiện gây chấn động nước Mỹ là ngày 2/11/1965, anh Morrisson đã bế con mình là Emily từ nhà đến Lầu năm góc, và tại đây, sau khi đặt con xuống đất, hôn lên má con lần cuối cùng, anh đã dũng cảm châm lửa tự thiêu để phản đối cuộc chiến tranh bẩn thỉu do nhà cầm quyền Mỹ gây ra tại Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu đã viết lại sự kiện này:
Hỡi tất cả chúng bay, một bày ma quỷ
Nhân danh ai?
Bây mang những B.52
Những na-pan, hơi độc
Từ tòa Bạch ốc
Từ đảo Guy-am
Đến Việt Nam
Để ám sát hòa bình và tự do dân tộc
Để đốt những nhà thương, trường học
Giết những con người chỉ biết yêu thương
Giết những trẻ em chỉ biết đi trường
Giết những đồng xanh bốn mùa hoa lá
Giết những dòng sông của thơ ca nhạc họa!
Gương dũng cảm này cùng với gương của thầy Thích Quảng Đức cũng tự thiêu trước đó để phản đối chiến tranh đã ảnh hưởng dữ dội đến tâm trí của chị Nhất Chi Mai. Trong bài thơ “Chắp tay tôi quỳ xuống”, chị viết những dòng nghẹn ngào và đau đớn đến tột cùng:
Sao người Mỹ tự thiêu
Sao thế giới biểu tình
Sao Việt Nam im tiếng
Không dám nói hòa bình?
Tôi thấy mình hèn yếu
Tôi nghe lòng đắng cay
Sống mình không thể nói
Chết mới được ra lời
Hòa bình là có tội
Hòa bình là cộng sản
Tôi vì lòng nhân bản
Mà muốn nói hòa bình
Chắp tay tôi quỳ xuống
Chịu đau đớn thân này
Mong thoát lời thống thiết
Dừng tay lại người ơi
Dừng tay lại người ơi
Hai mươi năm nay rồi
Nhiều máu xương đã đổ
Đừng diệt chủng dân tôi
Chắp tay tôi quỳ xuống
Tự thiêu
Trước đó, chị cũng đã có ý nghĩ chọn một cái chết là cùng 10 sinh viên khác đi đến mười thành phố lớn tại miền Nam, cùng viết thư kêu gọi hòa bình và cũng mổ bụng trong một ngày “làm rung động mười trung điểm quan trọng trong nước và do đó sẽ cảm động lòng người khắp nơi” (xem Tạp chí Đối Diện số 22 ra tháng 5/1971). Nhưng sau đó, tình hình đã khác, ước nguyện này đã không thực hiện được. Ngày 16/5/1967, lúc 7g 20 chị đã đến chùa Từ Nghiêm (đường Bà Hạt, Q.10, Sài Gòn) tự tưới 10 lít xăng lên người rồi châm lửa, tự biến thân mình thành ngọn đuốc, thành đóa sen thơm ngát của lòng yêu thương, của hòa bình… Một trong mười lá thư để lại chị cho biết:
“Tôi tự nguyện thiêu thân,
Cầu xin cái chết của tôi được hiểu là:
– Cho nền hòa bình dân tộc
– Cho lòng Nhân đạo và Công bằng như cái chết của Morrisson và của Hòa thượng Thích Quảng Đức.
Cầu xin:
– Ngọn lửa thiêu đốt thân tôi làm dịu bớt tham vọng và hận thù đã xô không biết bao nhiêu người vào hỏa ngục linh hồn và gây không biết bao nhiêu tang tóc cho sinh linh.
Cầu xin:
– Nhân thế rồi sẽ tắm mát trong dòng suối ngọt ngào của đức Từ bi của Đức Phật, Bác ái của Đức Chúa và tình Nhân đạo của con người.
Lạy Đức Phật
Lạy Hồn thiêng đất nước chứng minh”.
Nghe tin chị tự thiêu, nhiều tầng lớp nhân dân đều tỏ lòng thương tiếc. Trong lúc, các ni cô vừa đi quanh vừa tụng kinh trong tiếng khóc nức nở thì chị em con buôn bán trong chợ Cầu Muối cũng kịp thời có mặt. Bốn năm sau của ngày chị Mai tự thiêu, chị Cao Ngọc Phượng nhớ lại: “Bốn năm chiếc xe chuẩn bị đưa cô bác bạn hàng đến chùa Từ Nghiêm viếng chị Mai. Mới đợt đầu mà đã có ít nhất năm chiếc xe lam và bảy chiếc xích lô chở không công cho đồng bào đến chùa. Họ vừa đi vừa khóc:
– Trời ơi! Cô út Diệu Huỳnh dễ thương lắm. Tốt lắm! Tiếc quá!
– Trời ơi! Con nhà giàu, học giỏi như vậy mà người ta còn hy sinh cho Hòa bình, mình là cá chốt lòng tong cũng sợ chết, sợ bị bắt không dám hy sinh sao?”.
Lúc ấy, trước làn sóng căm phẫn của nhiều tầng lớp nhân dân, bọn cảnh sát ngụy đã “dàn binh bố trận” nhằm xông vào cướp xác chị. Chị Phượng kể tiếp:
Một số đồng bào quanh vùng tranh đấu nguyện sống chết với cảnh sát, không cho mang xác chị Mai đi. Cuộc đấu tranh kéo dài khá lâu. Mấy anh cảnh sát không thi hành được lệnh phải thỉnh đến ông quận trưởng, ông này đến thương thuyết không xong, định “làm càn”. May quá lúc đó xe tôi chở ba má chị Mai đến kịp thời. Bác trai đã khẳng khái mắng cảnh sát và nhân danh cha của chị yêu cầu cảnh sát để chị Mai yên… Suốt ba ngày chót chị Mai vẫn còn nằm ở Từ Nghiêm. Tôi cả ngày đi gặp và thông báo các đoàn thể, bạn bè; ban đêm thức suốt đêm dịch ra Anh văn các bức của chị để đánh máy gửi đi các tổ chức hòa bình thế giới và báo chí ngoại quốc. Thức đêm cũng để đối phó với âm mưu “tịch thu” cướp xác của cảnh sát. Các em sinh viên tề tựu về chùa rất đông ban đêm và thức suốt để thay phiên tụng niệm và canh gác thi hài chị Mai. Vừa có một kẻ lạ mặt vào là có người lãnh trách nhiệm theo dõi và chuẩn bị đối phó. Âm mưu cướp xác không xong, họ xuống nhà năn nỉ hai bác và anh hai cho chôn gấp. Ngại để lâu thiên hạ, nhất là ở các tỉnh hay tin tề tự quá đông thì “khó lắm”. Gia đình chị Mai chẳng ngại gì với điều hăm dọa đó. Nhưng bác gái quá yếu. Mỗi ngày bác ngất xỉu ba bốn lần vì khóc nên bác trai và anh hai muốn đưa chị Mai ra An dưỡng địa hỏa thiêu sớm. Báo chí Sài Gòn ngày hôm sau bị đục trắng (kiểm duyệt) nên thiên hạ chẳng biết gì về chị Mai qua báo chí. Tin chị Mai hy sinh cho hòa bình chỉ được thông báo bằng miệng các Phật tử và bạn bè trong vòng hai hôm thôi, thế mà bửa đưa chị đi hỏa thiêu cũng có quá đông người tham dự. Xe tang đã ra đến cầu Phú Lâm mà đoạn cuối những người đưa tiễn còn ở tại chùa Từ nghiêm. Tất cả đoàn thể sinh viên các phân khoa, đoàn thể tiểu thương các chợ, những nhà chính trị lão thành tả hữu đều có mặt. Tôi hết sức ngạc nhiên thấy nhiều ông triệu phú xưa nay chê bọn tôi là “cộng sản” hoặc “bị cộng sản giựt dây” mà nay cũng mếu máo đi bộ ra tận Phú Lâm để đưa chị Mai mới lạ! Trời mưa hạt nhỏ và lạnh. Áo trắng của nam nữ sinh viên, áo bà ba đen, áo nâu, khăn rằn của bạn hàng các chợ, áo veston sang trọng của các ông đều ướt mèm.
Sau này, nhân ba năm ngày chị Mai tự thiêu, năm 1970, nhà báo tiến bộ và cách mạng Lý Chánh Trung có viết bài “Lửa hòa bình” tưởng niệm:
Chị Mai, Đêm Việt Nam vẫn màu đen, máu Việt Nam vẫn chảy nhưng chị không còn là ánh đuốc cô đơn. Đối diện với ngọn lửa thù hận, lửa chiến tranh, chị đã nhen nhúm được ngọn lửa tình thương, lửa hòa bình. Từ chùa Từ Nghiêm, ngọn lửa ấy đã lan rộng trong tâm hồn người dân Việt. Không một bạo lực nào có thể dập tắt được nó. Trong những ngày qua, trong những ngày sắp tới, hãy lắng tai nghe: lửa hòa bình đang đốt cháy tâm can người trẻ tuổi. Hãy lắng tai nghe tiếng lửa reo vui:
“Rằng tự do là của con người
Rằng công lý là lẽ sống trên đời
Đổi bằng máu xương, mồ hôi nước mắt
Rằng niềm tin bất khuất giống nòi ta
Rằng nước ta chung một sơn hà
Rằng Bắc Nam cũng là ruột thịt
Rằng vòng tay hòa bình ta tha thiết
Ôm anh em nghe máu chảy vào tim”(Thơ Trần Quang Long)
Bên kia thế giới, qua màn lệ, chị hãy mỉm cười đi, chị Mai” (Bọt biển và sóng gầm – Đối Diện XB năm 1971).
Tưởng nhớ
Vâng, chúng ta tin rằng khi nhục thân trở thành ngọn lửa thiêng thì lúc ấy chị Mai cũng đang mỉm cười đấy thôi. Bởi chị có một niềm tin mãnh liệt là cái chết của mình đã đánh thức được lương tri của loài người về một khát vọng tự do, hòa bình, yêu thương… Một tài liệu còn lưu lại tại Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ là công văn số 2206/CSĐTS/S3/ P31/B1/K của cảnh sát quận 1 gửi Nha Cảnh sát Đô thành của chính quyền Sài Gòn cho biết: “Sinh viên Văn khoa tổ chức lễ tưởng niệm Nhất Chi Mai ngày 2/5/1971 vào lúc 18g50 tại giảng đường 2, lầu 1, trường Văn khoa Sài Gòn, có khoảng 200 học sinh và sinh viên tham dự. Nội dung kêu gọi những người có mặt trong buổi lễ tự nguyện lên đường đấu tranh để sớm mang lại hòa bình cho Việt Nam”. Thông tin này cho thấy cái chết của chị Mai đã tạo được một ảnh hưởng rất lớn trong phong trào đấu tranh đô thị miền Nam thuở ấy. Hiện nay, tại phường 13, quận Tân Bình có một con đường được mang tên Nhất Chi Mai.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ.