Thiền sư Khánh Hỷ (慶喜禪師, 1067–1142)

Thiền sư Khánh Hỷ (慶喜禪師, 1067–1142)

Thân thế


Khánh Hỷ thiền sư 慶喜禪師 (1067–1142) họ Nguyễn, người làng Cổ Giao, quận Long Biên. Vốn theo học Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh. Khoảng những năm 1133 – 1138 được vua Lý Thần Tông (1128-1138) vời vào cung thuyết giảng đạo Thiền, được phong chức Tăng Lục, rồi trăng chức Tăng Thống.

Giác ngộ


Sách Thiền Uyển Tập Anh (Anh Tú Vườn Thiền) ghi lại cuộc đối thoại giữa ngài với Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh, nhân dịp ngài cùng với thiền sư đến nhà đàn việt để thọ trai, trên đường đi sư hỏi:

Thế nào là ý chỉ của Tổ Sư? Sao thầy lại nghe theo nhân gian làm những chuyện đồng cốt mê hoặc?

Bản Tịch đáp: Lời nói ấy đâu phải là không do đồng cốt giáng thần?

Sư thưa: Chẳng phải là Hòa Thượng đùa bỡn con hay sao?

Bản Tịch đáp: Ta chẳng hề đùa bỡn tí nào!

Sư không nắm được ý chỉ của thầy bèn cáo biệt ra đi.

Con đường để đi đến giác ngộ, không phải lúc nào cũng thênh thang rộng mở, sắc màu điểm tô, mà con đường đi đó, có những vấn đề của riêng nó, thăm thẳm xa, với bao gập ghềnh, gian khổ, từ nội tâm cho đến ngoại cảnh, từ bên trong lẫn bên ngoài. Tâm ban đầu của người học đạo, tinh khôi, trong sáng, nhưng rồi có mấy ai giữ trọn, không bị thời gian bào mòn, tâm cảnh dẫn đưa, trái ngang bám chặt, khó khăn đón chào. Đường đi, dù chẳng dễ đi chút nào, phải bền tâm, kiên định, một lòng hướng thượng, quyết tâm vượt thoát, mới mong đi trọn. Bi nguyện cùng hạnh nguyện giải thoát khổ đau, không còn là đích nhắm, không còn là sự hoài bảo, không còn là niềm ước mơ hy vọng, mà phải đánh đổi, hoán chuyển thành nguyện lực, tâm lực, ra công gắng sức, nổ lực vươn cao, giải thoát chính mình và tha nhân, tìm đến an lạc ở hiện tại và bây giờ.
Trong sự tu tập, không có thuận duyên, chỉ có nghịch duyên, không có thuận cảnh, chỉ có nghịch cảnh, nhưng từ trong đó, từ trong nghịch cảnh mới có thuận duyên, từ trong nghịch duyên mới có thuận cảnh, từ trong khổ đau mới cần đến giải thoát. Khi nhận biết tinh tường, thấu rõ, thì thuận nghịch, khổ đau sẽ chuyển hóa, thành chất liệu, tương tác, vượt lên, hỗ trợ cho nhau.

Tu là đi trên con đường nghịch dòng, con đường gian nan vất vả, con đường khổ ải, con đường ít người dám vượt qua, bước tới, nhưng đó lại là con đường của người tu và muốn tu, nếu quyết lòng bền chí thì sẽ vượt qua đến đích. Con đường, cũng chính là con đường của không đường, và chỉ mỗi con đường của không đường đó, mới đủ năng lực nhiệm mầu đưa ta vượt thoát, bước vào cánh cửa không môn.

Tác phẩm


Sư có sáng tác “Ngộ Đạo Ca Thi Tập”, được lưu hành thời bấy giờ nhưng tiếc thay tập nay đã mất, chỉ còn truyền một bài kệ đáp trả lời hỏi của Đệ tử nối pháp Pháp Dung.
Một hôm, đệ tử Pháp Dung hỏi – Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là Thánh?
Sư ứng thinh đáp bài kệ:

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không,
Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông.
Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy,
Thế gian trồng quế đâu thành tòng.
Đầu lông trùm cả càn khôn thảy,
Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong.
Đại dụng hiện tiền tay nắm vững,
Ai phân phàm Thánh với tây đông.

Dịch nghĩa:

Lao sanh hưu vấn sắc kiêm không,
Học đạo vô như phỏng Tổ tông.
Thiên ngoại mích tâm nan định thể,
Nhân gian thực quế khởi thành tùng.
Càn khôn tận thị mao đầu thượng,
Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.
Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ,
Thùy tri phàm Thánh dữ tây đông?

Tham khảo


  • Sách “Thiền uyển tập anh”, Lê Mạnh Phát, Viện nghiên cứu Phật học, Nhà xuất bản Văn học, năm 1990
  • Sách “Thiền sư Việt Nam”, Thích Thanh Từ, DL 1999 – PL 2543
  • Báo điện tử Phật Giáo – Hương Đạo Online.
Chấm điểm
Chia sẻ
Thiền sư Khánh Hỷ

Nội dung chính

Hình ảnh
Địa điểm liên quan
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926