“Hà Nam trì địa dục chung linh
Mai Xá danh hương hội thử sinh
Nguyễn tộc sinh liên hương tuyệt diệu
Dương môn xuất biểu thế trâm anh
Tế Xuyên đắc chỉ quang thiền phả
Sùng Phúc trùng tu hiển thế danh
Phẩm đức kiêm ưu dư bách tuế
Công viên quả mãn Niết bàn thành.”
(Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa)
Thân thế
Cố lão Hòa thượng Thích Thanh Bích thế danh Nguyễn Văn Bích[1], sinh năm Quý Sửu (1913)[2] tại thôn Mai Xá, xã Đồng Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt, khoa bảng. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Thặng tự Hữu Thượng (1880), thân mẫu là cụ bà Dương Thị Cập (1877).[3] Hòa thượng là con trai thứ 4 trong gia đình đông con (4 trai, 2 gái).
Năm 1919, khi mới lên 6 tuổi, Hòa thượng được phụ mẫu dẫn theo lên đường tha phương. Khi qua thôn Kim Ðới, xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng, ngài được vợ chồng nhà Nho họ Dương, tên là Ðình Huỳnh (tên chữ là Dương Đình Cảnh), vợ là Trọng Thị Như nhận làm con nuôi, dạy dỗ vô cùng cẩn trọng gửi Hòa thượng theo học tiểu học tại một trường tư thục ở Kiến An, Hải Phòng.
Cơ duyên tu hành
Mẹ nuôi của Hòa thượng là người rất mộ đạo Phật, đã phát tâm ăn chay trường và niệm Phật tu tại gia đến cuối đời. Cha mẹ nuôi ngài đã phát tâm xây dựng ngôi chùa Song, bên cạnh bến đò Song (Kim Đới, Hữu Bằng, Kiến Thụy, Hải Phòng); Hòa thượng và chị nuôi tối tối thường ra ngôi chùa này niệm Phật. Năm 1926, ngài lên 13 tuổi, Tổ Thiên Phúc (Hòa thượng Thích Thông Tiến) vân du qua chùa Song đã hỏi thăm và nhận ra Hòa thượng chính là cháu ruột của mình. Sau khi được Tổ Thiên Phúc khai thị, giảng Pháp, Hòa thượng đã phát nguyện xuất gia. Chị nuôi của Hòa thượng sau này cũng phát nguyện xuất gia, là Ni trưởng[4] chùa Tiên Long, Gò Vấp, Sài Gòn (nay là TP. HCM). Được sống trong gia đình thấm nhuần truyền thống Nho học và đạo Phật, chính là khởi duyên theo Phật của Hòa thượng và chị nuôi.
Đạo nghiệp
Từ đó, Hòa thượng được thầy gửi tu tập qua nhiều chốn: Bút Tháp, Bà Đá, Bảo Khám, Đại Dương Sùng Phúc,… Năm 1927, Hòa thượng 14 tuổi, tại chùa Bà Đá, ngài được nghiệp sư Thích Thông Tiến cho thụ giới Sa di với pháp danh là Tâm Bích, đạo hiệu là Trí Tính thiền sư. Tham học tại chốn Tổ Bảo Khám – Tế Xuyên 10 năm, Hòa thượng cần cù đèn sách đàm Kinh, Luật, Luận, một lòng tụng kinh không lo việc khác, mùa đông giá lạnh thì ngồi thiền. Đến năm 1937, ngài được đăng đàn thụ giới Cụ túc tại Đại giới đàn chùa Bút Tháp, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1940, Hòa thượng Thích Thanh Bích trở về chùa Đại Dương Sùng Phúc (chùa Sủi, nay thuộc Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), nơi sư phụ ngài đang trụ trì, cùng thầy đảm đương gánh vác việc nhà chùa. Thời kỳ khó khăn, nhất là những năm 1945 – 1956, Hòa thượng đã cùng nhân dân xã Phú Thị vào hợp tác xã, ban ngày đi cày, đắp đê, làm đường. Tấm gương chân tu kham nhẫn, khổ hạnh của Hòa thượng đã ghi tạc trong lòng dân; mỗi khi nhắc đến Hòa thượng, nhân dân làng Sủi lại nhớ đến tích ăn cỏ Dày để thực nghiệm phép tu theo hạnh Đầu Đà[5]. Thượng Tọa Thích Thanh Phương – trụ trì chùa Sủi vô cùng mến mộ Hòa thượng Thích Thanh Bích đã có những cảm nghĩ như sau:
“Năm 1990, Đại lão hòa thượng Thích Thanh Bích về lại chùa Sủi đã sắp xếp cho tôi về trụ trì ở đây. Thầy động viên chúng tôi cố gắng tu hành, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, giữ gìn bản sắc của người tu hành. Ngài thể hiện tình cảm thắm thiết mà chúng tôi là người kế vãng ngài, thấy hình ảnh, tấm lòng của ngài để lại, chúng tôi nguyện xin vâng lời, giữ gìn. Đạo hạnh của bậc chân tu như đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích đáng kính trọng, đáng được học hỏi, chúng tôi được Hòa thượng cho giữ gìn, trông coi ở đây, chúng tôi nguyện đem những công đức này, vừa để tu học, vừa là giữ gìn, bảo vệ.”[6]
Đến năm 1960, gánh trọng trách kế tổ truyền đăng của Tông phong Lâm Tế, Hòa thượng Thích Thanh Bích cùng với Tôn sư là Tổ Thiên Phúc về Tổ đình Hội Xá, Thường Tín, Hà Nội. Đến năm 1966, do mến mộ đạo hạnh của ngài, người dân xã Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Tây cảm thỉnh ngài để mời ngài sang trụ trì chùa Ðậu (Thành Ðạo tự). Suốt 20 năm ở đây, Hòa thượng tiết chế ăn uống, nhịn ăn, nhịn uống, không đi thiền quán chữa bệnh, luôn giữ thân thanh tịnh; noi theo hai vị Tổ sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường[7].
Năm 1986, Hòa thượng từ chùa Đậu về chùa Hội Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Hà Nội kế Tổ truyền đăng, duy trì đạo nghiệp tùng lâm chốn Tổ. Những ngày đầu về chùa, thấy mái nhà dột nát, hư hỏng nhiều, Hòa thượng đã cho tu sửa lại, có lần nhà bếp bị dột, Hòa thượng liền trèo lên mái đảo lại ngói. Cuộc sống thường nhật, Hòa thượng chỉ ăn một bữa, y phục chỉ có ba bộ, đã sờn chắp vá như lá trúc đắp lên, ngài chỉ ngủ ngồi, chấp tác phép tu “khổ hạnh[8], Đầu Đà”[9]. Hòa thượng chỉ chuyên tâm niệm Phật, làm gương cho Tăng, Ni; bàn tay không rời quyển sách kinh, dạy dỗ cho chúng sinh.
Hơn 30 năm ở chùa Sùng Phúc phục tùng giới luật nhà thiền, vừa nguyện chúng kiết Hạ Tăng, Ni; không quan tâm đến tài vận, danh lợi, an bần tự tại, ngài muốn truyền cho đệ tử cái hạnh ấy. “Hun đúc tu Tam học[10], đồng tu Nhất thừa[11], mùa Đông, mùa Hè thức khuya dậy sớm, các thời khóa tịnh tâm theo Tam nghiệp[12], không màng tới tiền tài, không ham danh lợi, an nhiên trong bần hàn, dạy cho đệ tử kế thừa truyền thống, áo rách, túi cỏ, gậy trúc, ít ham muốn, sống thanh nhàn, cũng truyền dạy cho đệ tử cái hạnh tu ấy.”[13] Đại đức Thích Nguyên Thực (chùa Hội Xá) – Đệ tử trưởng của Hòa thượng Thích Thanh Bích kể về người thầy của mình, tấm gương đáng để hậu học noi theo như sau:
“Đức tính của Hòa thượng, Phật tử ba miền Trung, Nam, Bắc đều ngưỡng mộ là bậc chân tu hiếm có, không dễ tìm được ở thế kỷ XX – XXI này. Có đức, học rộng hiểu cao, đức tính của Hòa thượng từ xưa vẫn là vậy, cứ giản dị. Hòa thượng tuổi đã cao, đi đâu cũng muốn tự đi tự làm, không muốn ai đi theo, cụ đi ra cầu ao tắm, chúng tôi mới đi theo, nhưng không dám đi gần, sợ Hòa thượng mắng. Hòa thượng tắm, giặt một mình rồi lại đi lên.”[14]
Năm 2005, Đức Đệ nhị Pháp chủ Thích Tâm Tịch, nguyên Trưởng Sơn môn Tế Xuyên – Bảo Khám Hà Nam viên tịch, Hòa thượng Thích Thanh Bích được Sơn môn thỉnh kế nhiệm. Đầu xuân năm 2012, Thành hội Phật giáo Hà Nội cùng Sơn môn long trọng tổ chức đại lễ khánh thọ 100 tuổi của Hòa thượng trưởng lão Thích Thanh Bích. Thời điểm đó, ngài là Hòa thượng cao niên bậc nhất trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn trụ thế.
“Long ẩn Tế Xuyên vân vạn lý
Đức lưu Hội Xá vĩnh thiên thu.”[15]
Đạo nghiệp đã mãn, Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích đã an nhiên thu thần, viên tịch vào hồi 8 giờ 20 phút ngày 23 tháng 3 năm 2013 (tức ngày 12 tháng 2 năm Quý Tỵ), tại Tổ đình Hội Xá. Xá lợi Hòa thượng được an nhập vào tháp Phúc Thắng, chùa Hội Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
Những cống hiến với Phật giáo Việt Nam
Dù tuổi tác đã cao, bệnh tật quấn thân, Hòa thượng vẫn không lơi là Phật sự hoằng pháp, Hòa thượng tham gia rất nhiều những sự kiện Phật sự quan trọng của Phật giáo Việt Nam như khởi công trùng tu, xây dựng lại các chùa; khánh thành các công trình; các đại lễ lớn của Phật giáo Việt Nam; đặc biệt thường về tham dự giỗ Tổ ở chùa Bảo Khám, Tế Xuyên. Ngài đồng thời ở ngôi đường chủ nhiều năm của Hạ trường Mai Xá (Hà Nam), Hội Xá (Hà Nội), Mỗ Lao (Hà Nội) cùng nhiều trường hạ khác trong và ngoài địa giới Hà Nội, làm tấm gương sáng cho mọi người noi theo.
Thế hệ đương thời, hậu thế sẽ nhớ mãi về tấm gương thạc đức của Hòa thượng cùng những cống hiến với Giáo hội, xiển dương đạo pháp, đào tạo Tăng tài: Phó Pháp chủ kiêm Giám luật HĐCM GHPGVN, Chứng minh Ban Trị sự GHPGVN Thành phố Hà Nội, Ủy viên HĐTS TW GHPGVN, Trưởng ban Trị sự GHPGVN tỉnh Hà Tây, Hiệu trưởng trường Trung cấp Phật học tỉnh Hà Tây, Tông trưởng Sơn môn Tế Xuyên – Bảo Khám, Viện chủ Tổ Đình Hội Xá – Thường Tín, Hà Nội.
Trong tang lễ của cố Hoà thượng Thích Thanh Bích, khi đọc Điếu văn, Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam – Hòa thượng Thích Phổ Tuệ nói về đạo hạnh của ngài rằng:
“… Trước sau Cụ luôn có đạo đức chất phác thủy chung… có Đạo hạnh tu hành, tác phong của Cổ Đức. Chúng tôi luôn luôn ghi nhận Cụ là Người có thể tiêu biểu cho giới tu hành hạnh giới hiện đại, là Bậc thuần túy đạo đức, trai giới tịnh nghiêm.”[16]
Chú thích
[1] Gia phả họ Nguyễn, lưu trữ tại nhà ông Nguyễn Văn Dùng trưởng dòng họ Nguyễn Văn tại Mai Xá, Đồng Lý, Lý Nhân, Hà Nam.
[2] Nhiều tài liệu ghi Hòa thượng sinh năm 1912, ở đây chúng tôi căn cứ vào khoa cúng Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa chép ngài sinh vào tháng 8, mùa Thu năm Quý Sửu, tức tháng 8 năm 1913. Nguyên văn: “Quý Sửu niên mộng ứng liên sinh, Thu bát nguyệt tường vi lân dục.”
[3] Gia phả họ Nguyễn, Tlđd.
[4] Chị nuôi của Hòa thượng thế danh là Dương Tùng Chính, pháp danh là Thích Nữ Như Chính (1913 – 1998)
[5] Đầu Đà nguyên nghĩa là rũ sạch bụi bẩn phiền não, dịch ý là từ bỏ sự tham muốn và dính mắc vào ba thứ áo quần, ăn uống và chỗ ở để tu luyện thân tâm, cũng gọi là hạnh Đầu Đà, sự Đầu Đà, công đức Đầu Đà (dhūta-guṇa). Phật giáo Nam tông có 13 hạnh Đầu Đà, Phật giáo Bắc tông có 12 hạnh Đầu Đà. Trong 12 hạnh Đầu Đà, Hòa thượng Thích Thanh Bích ứng với 4 hạnh: Mặc y phấn tảo (loại y được làm từ những miếng vải vụn, rách); Chỉ có ba y; Chỉ ăn một bữa vào giờ trưa; Ngồi ngủ, không nằm ngủ.
[6] Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”
[7] Hai vị Thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường tu hành tại chùa Đậu vào thế kỷ 17. Hai vị vừa là chú cháu ruột cũng vừa là hai thầy trò, suốt cuộc đời giữ lối sống thanh đạm, mỗi ngày chỉ ăn một bữa cơm rau vào chính Ngọ. Khi mất nhục thân nhị vị không bị thối rữa.
[8] Khổ hạnh: trước khi thành Phật, đức Thích Ca có tu 6 năm theo lối hành xác, ấy về sau gọi là phép tu khổ hạnh.
[9] Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, Tlđd.
[10] Tam học: Giới, Định, Tuệ.
[11] Nhất thừa: Phật thừa (giáo pháp duy nhất của Đức Phật).
[12] Tam nghiệp: thân, khẩu, ý.
[13] Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, Tlđd.
[14] Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”
[15] Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, Tlđd.
[16] Chùa Khai Nguyên TTHH Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), Phim tài liệu: “Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích”, phát sóng ngày 6/3/2014.
Tài liệu tham khảo
- Chùa Khai Nguyên TTHH Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), Phim tài liệu: “Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích”, phát sóng ngày 6/3/2014.
- Chương trình Chân dung cuộc sống, “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Áo nâu bên cửa thềm”, Kênh truyền hình trực tuyến Văn hóa Việt Nam, phát sóng ngày 19/7/2012.
- Gia phả họ Nguyễn, lưu trữ tại nhà ông Nguyễn Văn Dùng trưởng dòng họ Nguyễn Văn tại Mai Xá, Đồng Lý, Lý Nhân, Hà Nam.
- Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, lưu trữ tại Văn phòng Bảo tồn Di sản Phật giáo chùa Sủi
- Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”
Trích từ: Thủy Nguyễn (2024), “Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Bích”, Nội san Đại Dương Sùng Phúc tự, số 1, tái bản lần thứ nhất tháng 12/2024, Văn phòng Bảo tồn di sản Phật giáo chùa Sủi.
_____________
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
Background
The late Elder Most Venerable Thich Thanh Bich, secular name Nguyen Van Bich[1], was born in the Year of the Ox (1913)[2] in Mai Xa hamlet, Dong Ly commune, Ly Nhan district, Ha Nam province, into a family renowned for learning and examination success. His father was Nguyen Van Thang, courtesy name Huu Thuong (1880); his mother was Duong Thi Cap (1877).[3] He was the fourth child in a large family (four sons, two daughters).
In 1919, at the age of six, he set out with his parents to seek a livelihood away from home. Passing Kim Doi hamlet, Huu Bang commune, Kien Thuy district, Hai Phong, he was adopted by a Confucian couple of the Duong clan—Dinh Huynh (literary name Duong Dinh Canh) and his wife Trong Thi Nhu—who raised him with great care and sent him to a private primary school in Kien An, Hai Phong.
Karmic Causes for Monastic Life
His adoptive mother was deeply devoted to Buddhism, maintaining lifelong vegetarian practice and Buddha-recitation at home. His adoptive parents built Song Pagoda beside the Song ferry (Kim Doi, Huu Bang, Kien Thuy, Hai Phong); the young Bich and his adoptive sister would go there nightly to recite the Buddha’s name. In 1926, at age thirteen, Patriarch Thien Phuc (Most Venerable Thich Thong Tien) came traveling through Song Pagoda, made inquiries, and recognized Bich as his own nephew. After receiving the Patriarch’s instruction and Dharma exposition, Bich vowed to go forth as a monk. His adoptive sister later also left home to become a nun, eventually serving as Abbess[4] of Tien Long Pagoda, Go Vap, Saigon (now Ho Chi Minh City). Immersed in a household steeped in both Confucian learning and the Dharma, the two siblings’ affinity with Buddhism naturally took root.
Religious Training and Career
Thereafter, under his master’s guidance he trained at many monasteries—But Thap, Ba Da, Bao Kham, Dai Duong Sung Phuc, and others. In 1927, aged fourteen at Ba Da Pagoda, he received the samanera (novice) precepts from his preceptor Thich Thong Tien, with the Dharma name Tam Bich and the monastic epithet Zen Master Tri Tinh. He studied for ten years at the ancestral seat Bao Kham – Te Xuyen, diligently applying himself to Sutra, Vinaya, and Abhidharma, reciting scriptures single-mindedly and sitting in meditation through the winter cold. In 1937 he received full bhiksu ordination at the Great Ordination Platform of But Thap Pagoda, Thuan Thanh district, Bac Ninh province.
In 1940, Most Venerable Thich Thanh Bich returned to Dai Duong Sung Phuc (Sui) Pagoda (now Phu Thi, Gia Lam, Hanoi), where his master was abbot, to assist in temple affairs. During the difficult years, especially 1945–1956, he joined the Phu Thi commune cooperative with the villagers—plowing by day, building dikes, making roads. His model of patient, ascetic monastic life left a deep impression; villagers of Sui recall his eating coarse wild grasses to test the Dhutanga ascetic practice of head-shaving austerities.[5] Venerable Thich Thanh Phuong, the present abbot of Sui Pagoda, wrote of him:
“In 1990, the Elder Most Venerable Thich Thanh Bich returned to Sui Pagoda and arranged for me to become abbot here. He encouraged us to practice diligently, to preserve national cultural identity and the integrity of the monastic. The affection he showed us—his successors—remains vivid; seeing his image and heart he left behind, we vow to obey and preserve. The virtue of a true cultivator like the Elder Most Venerable Thich Thanh Bich is worthy of reverence and emulation. Entrusted by him to keep and care for this place, we vow to use whatever merit accrued both for our cultivation and for its protection.”[6]
By 1960, bearing the mantle of Lam Te (Rinzai) lineage transmission, Most Venerable Thich Thanh Bich, together with his own master Patriarch Thien Phuc, moved to the ancestral monastery Hoi Xa (Thuong Tin, Hanoi). In 1966, moved by his virtue, the people of Nguyen Trai commune, Thuong Tin, Ha Tay invited him to serve as abbot of Dau (Thanh Dao) Pagoda. For twenty years there he ate and drank only in strict moderation, often fasting; he refused healing through meditation clinics, kept his body pure, and modeled himself on the two Patriarchs Vu Khac Minh and Vu Khac Truong.[7]
In 1986, he returned from Dau Pagoda to Hoi Xa Pagoda, Thang Loi commune, Thuong Tin, Hanoi, to continue the ancestral Lamp Transmission and maintain the monastery’s Dharma work. On arriving, seeing buildings leaking and dilapidated, he organized repairs; once, when the kitchen leaked, he himself climbed the roof to reset the tiles. In daily life he ate one meal a day, owned only three patched robes like overlapping bamboo leaves, slept sitting, and upheld austere dhutanga[8][9]. He devoted himself to Buddha-recitation, modeling for monks and nuns, hands seldom leaving the scriptural book, ever instructing living beings.
For over thirty years at Sung Phuc Pagoda he upheld the monastic precepts, led the rains-retreat (vassa) for monks and nuns, disregarded wealth and fame, and was content in frugality, wishing to transmit that very virtue to his disciples.
“Firing the Threefold Learning[10], together cultivating the One Vehicle[11]; winter and summer alike, rise early and retire late; keep all practice periods in mindfulness according to the three karmas[12]; do not crave money or rank; dwell at ease in poverty; teach disciples to inherit the tradition—tattered robe, grass bag, bamboo staff, few desires, a simple life—and transmit that ascetic virtue.”[13]
Venerable Thich Nguyen Thuc (Hoi Xa Pagoda)—his senior disciple—recalled his teacher, a model for later generations:
“The Elder’s virtues are admired by Buddhists throughout Central, South, and North—an exceedingly rare true cultivator, hard to find in the 20th–21st centuries. Virtuous, erudite, always simple. Though advanced in years, he liked to go and do things by himself, not wanting anyone to follow. When he went to the pond to bathe, we would follow at a distance, afraid of being scolded. He bathed and washed alone, then walked back up by himself.”[14]
In 2005, upon the passing of His Holiness the Second Supreme Patriarch Thich Tam Tich, former head of the Te Xuyen – Bao Kham lineage in Ha Nam, Most Venerable Thich Thanh Bich was invited by the Son Mon (lineage community) to succeed him. At the beginning of 2012, the Hanoi Buddhist Association and the lineage solemnly celebrated his 100th birthday longevity. At that time he was among the most senior elders still dwelling in the Vietnam Buddhist Sangha.
“At Te Xuyen the dragon hides—clouds ten thousand li;
At Hoi Xa his virtue flows—forever through the ages.”[15]
His religious work complete, the Elder Most Venerable Thich Thanh Bich peacefully withdrew his spirit and entered Nirvana at 8:20 a.m., March 23, 2013 (lunar 12th day, 2nd month, Year of Quy Ty), at Hoi Xa ancestral monastery. His relics were enshrined in the Phuc Thang Stupa, Hoi Xa Pagoda, Thang Loi commune, Thuong Tin district, Hanoi.
Contributions to Vietnamese Buddhism
Despite advanced age and illness, he never slackened in Dharma propagation. He took part in many major Buddhist events in Vietnam: groundbreakings for renovation and reconstruction of temples, inaugurations, great national Buddhist ceremonies; he regularly returned to attend the Patriarchal memorial at Bao Kham, Te Xuyen. He long served as Preceptor/Director for rains-retreats at Mai Xa (Ha Nam), Hoi Xa (Hanoi), Mo Lao (Hanoi) and many other retreat centers within and beyond Hanoi—an exemplary beacon for all.
Contemporaries and posterity will remember the Elder’s profound virtue and his service to the Sangha in expounding the Dharma and training monastics: Vice Supreme Patriarch cum Vinaya Master of the Patriarchal Council of the Vietnam Buddhist Sangha (VBS); Patriarchal Witness to the Hanoi VBS Administrative Council; Member of the VBS Executive Council; Head of the VBS Administrative Council of Ha Tay province; Rector of the Ha Tay Intermediate Buddhist School; Head of the Te Xuyen – Bao Kham Lineage; and Abbot of the Hoi Xa Ancestral Monastery, Thuong Tin, Hanoi.
At his funeral, in the funeral oration, His Holiness the Supreme Patriarch of the VBS—Most Venerable Thich Pho Tue—spoke of his virtue:
“… Always and everywhere he was upright in simple, faithful morality… possessed the cultivation and deportment of the Ancients. We have always regarded him as one who can represent the modern monastic in precept-holding and conduct—a person of pure morality and strict observance.”[16]
Notes
[1] Nguyen clan genealogy, archived at the home of Mr. Nguyen Van Dung, head of the Nguyen Van line in Mai Xa, Dong Ly, Ly Nhan, Ha Nam.
[2] Some sources record 1912 as his birth year; here we follow the Hoi Xa Sung Phuc Temple Memorial Liturgy to the Enlightened Spirit, which states he was born in the 8th lunar month, autumn of the Year of Quy Suu (1913). Original: “Quy Suu nien mong ung lien sinh, Thu bat nguyet tuong vi lan duc.”
[3] Nguyen clan genealogy, ibid.
[4] His adoptive sister’s secular name: Duong Tung Chinh; Dharma name: Thich Nu Nhu Chinh (1913–1998).
[5] Dhutanga (Skt. dhūta-guṇa): literally “shaking off” defilements—renouncing attachment to robes, food, and lodging through austere practices; Theravada enumerates 13, Mahayana 12. Of the 12, Most Venerable Thich Thanh Bich observed four: wearing rag-robes (pamsula); keeping only three robes; one meal taken at midday; sleeping seated, not lying down.
[6] Documentary film: “Elder Most Venerable Thich Thanh Bich — Centenary of Auspicious Longevity.”
[7] The two Zen masters Vu Khac Minh and Vu Khac Truong practiced at Dau Pagoda in the 17th century. Uncle and nephew, also master and disciple, they lived in simplicity, taking one vegetarian meal at high noon each day. Their bodies reportedly did not decay after death.
[8] Ascetic practice: Before enlightenment, Sakyamuni practiced six years of austerities; later, the term denotes rigorous ascetic cultivation.
[9] Hoi Xa Sung Phuc Temple Memorial Liturgy to the Enlightened Spirit, ibid.
[10] Threefold Learning: Sila (morality), Samadhi (concentration), Prajna (wisdom).
[11] One Vehicle: the Buddha Vehicle (the unitary path taught by the Buddha).
[12] Three Karmas: body, speech, mind.
[13] Hoi Xa Sung Phuc Temple Memorial Liturgy to the Enlightened Spirit, ibid.
[14] Documentary film: “Elder Most Venerable Thich Thanh Bich — Centenary of Auspicious Longevity.”
[15] Hoi Xa Sung Phuc Temple Memorial Liturgy to the Enlightened Spirit, ibid.
[16] Khai Nguyen Pagoda, Vietnam Buddhist Culture Center (Son Tay, Hanoi), documentary: “Life and Religious Career of the Elder Most Venerable Thich Thanh Bich,” broadcast March 6, 2014.
References
- Chùa Khai Nguyên TTHH Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), Phim tài liệu: “Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích”, phát sóng ngày 6/3/2014.
- Chương trình Chân dung cuộc sống, “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Áo nâu bên cửa thềm”, Kênh truyền hình trực tuyến Văn hóa Việt Nam, phát sóng ngày 19/7/2012.
- Gia phả họ Nguyễn, lưu trữ tại nhà ông Nguyễn Văn Dùng trưởng dòng họ Nguyễn Văn tại Mai Xá, Đồng Lý, Lý Nhân, Hà Nam.
- Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, lưu trữ tại Văn phòng Bảo tồn Di sản Phật giáo chùa Sủi
- Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”
_______________
Tiếng Pháp (français’)
Origines
Le défunt Grand Vénérable Thich Thanh Bich, nom séculier Nguyen Van Bich[1], est né en l’année Quy Suu (1913)[2] au hameau Mai Xa, commune Dong Ly, district Ly Nhan, province Ha Nam, dans une lignée où beaucoup réussirent les concours.
Son père était Nguyen Van Thang, dit Huu Thuong (1880), et sa mère Duong Thi Cap (1877).[3] Le Vénérable était le quatrième fils d’une famille nombreuse (4 garçons, 2 filles).
En 1919, à l’âge de 6 ans, il accompagna ses parents en déplacement. En passant par le hameau Kim Doi, commune Huu Bang, district Kien Thuy, Hai Phong, il fut adopté par un couple lettré de la famille Duong, nommé Dinh Huynh (nom de lettré Duong Dinh Canh), et son épouse Trong Thi Nhu. Ils l’élevèrent avec grand soin et l’envoyèrent étudier dans une école primaire privée à Kien An, Hai Phong.
Conditions pour la vie monastique
Sa mère adoptive était très dévote, pratiquant le végétarisme permanent et la récitation bouddhique jusqu’à la fin de sa vie. Ses parents adoptifs firent bâtir la pagode Song, à côté du bac Song (Kim Doi, Huu Bang, Kien Thuy, Hai Phong). Le Vénérable et sa sœur adoptive s’y rendaient chaque soir pour réciter le Bouddha.
En 1926, à 13 ans, le Patriarche Thien Phuc (Vénérable Thich Thong Tien) voyageant par la pagode Song, fit sa connaissance et reconnut en lui son neveu. Après avoir reçu son enseignement et écoute du Dharma, il fit vœu de devenir moine. Sa sœur adoptive fit ensuite de même, devenant abbesse[4] de la pagode Tien Long, Go Vap, Saigon (aujourd’hui Hô Chi Minh-Ville).
Grandissant dans une famille imprégnée de confucianisme et de bouddhisme, telle fut l’origine de son chemin vers le Dharma.
Carrière religieuse
Dès lors, il fut envoyé pratiquer dans plusieurs monastères : But Thap, Ba Da, Bao Kham, Dai Duong Sung Phuc…
En 1927, à 14 ans, à la pagode Ba Da, il reçut l’ordination de samanera du maître Thich Thong Tien, avec le nom religieux Tam Bich, titre monastique Tri Tinh.
Pendant 10 ans à l’ancestrale pagode Bao Kham – Te Xuyen, il s’appliqua à l’étude des Sutras, Vinaya, Abhidharma, récitant les sutras avec persévérance, méditant en hiver malgré le froid.
En 1937, il reçut l’ordination complète de bhiksu au Grand Ordination Platform de la pagode But Thap, district Thuan Thanh, province Bac Ninh.
En 1940, le Vénérable Thich Thanh Bich retourna à la pagode Dai Duong Sung Phuc (Sui) (actuellement Phu Thi, Gia Lam, Hanoi), où son maître était abbé, pour l’aider aux affaires du monastère.
Dans les années difficiles, surtout 1945 – 1956, il participa avec les habitants à la coopérative : labourer, élever des digues, construire des routes. Son modèle de moine patient et ascétique resta gravé dans les cœurs. Les villageois se rappellent qu’il expérimenta la pratique Đầu Đà[5] en mangeant de l’herbe.
Le Vénérable Thich Thanh Phuong, abbé actuel de Sui, déclara :
« En 1990, le Grand Vénérable Thich Thanh Bich revint à Sui, organisa mon installation comme abbé. Il nous encouragea à pratiquer et à préserver la culture nationale ainsi que l’intégrité monastique. Son image et son cœur demeurent. »[6]
En 1960, héritant de la transmission de la lignée Lam Te, il accompagna son maître Thien Phuc à l’ancestrale pagode Hoi Xa, Thuong Tin, Hanoi.
En 1966, la population de Nguyen Trai (Thuong Tin, Ha Tay) le sollicita comme abbé de la pagode Dau (Thanh Dao). Pendant 20 ans, il pratiqua jeûnes, austérités, gardant son corps pur, suivant l’exemple des Patriarches Vu Khac Minh et Vu Khac Truong[7].
En 1986, il retourna à la pagode Hoi Xa, Thang Loi, Thuong Tin, Hanoi, pour continuer la transmission et maintenir le Dharma. Voyant le temple délabré, il supervisa lui-même les réparations.
Dans sa vie quotidienne, il mangeait un seul repas, possédait trois robes usées, dormait assis, pratiquant les austérités Khổ hạnh et Đầu Đà[8][9]. Toujours concentré sur la récitation du Bouddha, il servait d’exemple aux moines et fidèles.
Pendant plus de 30 ans à Sung Phuc, il respecta les préceptes, mena les retraites d’été, sans souci de richesse ni de renommée, vivant dans le contentement.
Le Vénérable Thich Nguyen Thuc, son disciple aîné, dit :
« Sa vertu est admirée dans tout le Vietnam. Rare est un tel moine au XXe–XXIe siècle. Simple, droit, il voulait tout faire seul, même dans ses vieux jours. »[14]
En 2005, à la mort du Deuxième Patriarche Thich Tam Tich, chef de la lignée Te Xuyen – Bao Kham, il fut invité à succéder.
Au printemps 2012, l’Association bouddhique de Hanoi célébra solennellement son 100e anniversaire. Il était alors l’un des plus anciens du Sangha.
« Long an Te Xuyen vân vạn lý
Đức lưu Hoi Xa vĩnh thiên thu. »[15]
Le 23 mars 2013, à 8h20 (12e jour du 2e mois lunaire, année Quy Ty), il s’éteignit paisiblement à la pagode Hoi Xa. Ses reliques furent déposées dans la stupa Phuc Thang.
Contributions
Malgré l’âge et la maladie, il participa à de nombreuses activités bouddhiques : reconstructions de temples, grandes cérémonies, commémorations patriarcales à Bao Kham.
Il fut longtemps directeur spirituel de retraites d’été à Mai Xa (Ha Nam), Hoi Xa (Hanoi), Mo Lao (Hanoi) et ailleurs, donnant l’exemple.
Il assuma de nombreuses charges : Vice-Patriarche suprême et Maître de Vinaya du Sangha bouddhique du Vietnam, témoin du Conseil de Hanoi, membre du Conseil exécutif central, chef du Sangha de Ha Tay, recteur de l’école bouddhique intermédiaire de Ha Tay, chef de la lignée Te Xuyen – Bao Kham, abbé de la pagode Hoi Xa.
Lors de ses funérailles, le Patriarche suprême Thich Pho Tue dit :
« Toujours droit et simple… il incarne le modèle du moine contemporain observant strictement les préceptes, un homme de pure vertu. »[16]
Notes
[1] Généalogie de la famille Nguyen, conservée chez M. Nguyen Van Dung, chef de la lignée Nguyen Van à Mai Xa, Dong Ly, Ly Nhan, Ha Nam.
[2] Plusieurs documents indiquent que le Vénérable naquit en 1912 ; ici nous nous fondons sur le rituel commémoratif de la pagode Hoi Xa Sung Phuc, cúng giác linh khoa, qui note sa naissance au 8e mois d’automne de l’année Quy Suu (1913). Texte original : « Quy Suu niên mộng ứng liên sinh, Thu bát nguyệt tường vi lân dục. »
[3] Généalogie de la famille Nguyen, ibid.
[4] La sœur adoptive du Vénérable portait le nom séculier Duong Tung Chinh, nom religieux Thich Nu Nhu Chinh (1913 – 1998).
[5] Đầu Đà signifie littéralement « secouer les poussières des afflictions » ; par sens : abandonner les attachements aux vêtements, à la nourriture et au logement pour cultiver corps et esprit. Bouddhisme Theravāda : 13 pratiques Đầu Đà ; Mahāyāna : 12.
Chez le Vénérable Thich Thanh Bich : 4 pratiques observées – porter des vêtements faits de chiffons (phấn tảo y), ne posséder que trois robes, ne prendre qu’un repas à midi, dormir assis sans s’allonger.
[6] Film documentaire : Grand Vénérable Thich Thanh Bich – Centenaire de félicité.
[7] Les deux maîtres zen Vu Khac Minh et Vu Khac Truong pratiquèrent à la pagode Dau au XVIIe siècle. Oncle et neveu, aussi maître et disciple, ils vécurent frugalement, ne prenant qu’un repas de légumes à midi. Après leur mort, leurs corps ne se décomposèrent pas.
[8] Ascèse : avant son Éveil, le Bouddha Shakyamuni pratiqua six ans d’austérités ; par la suite, ce terme désigne la pratique de mortification volontaire.
[9] Rituel commémoratif de la pagode Hoi Xa Sung Phuc, ibid.
[10] Trois études (Tam học) : préceptes (śīla), concentration (samādhi), sagesse (prajñā).
[11] Un seul véhicule (Nhất thừa) : le Véhicule unique du Bouddha.
[12] Trois karmas (Tam nghiệp) : corps, parole, esprit.
[13] Rituel commémoratif de la pagode Hoi Xa Sung Phuc, ibid.
[14] Film documentaire : Grand Vénérable Thich Thanh Bich – Centenaire de félicité.
[15] Rituel commémoratif de la pagode Hoi Xa Sung Phuc, ibid.
[16] Pagode Khai Nguyen, Centre culturel bouddhique du Vietnam (Son Tay, Hanoi), film documentaire : Vie et carrière religieuse du Grand Vénérable Thich Thanh Bich, diffusé le 6 mars 2014.
Références
- Chùa Khai Nguyên TTHH Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), Phim tài liệu: “Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích”, phát sóng ngày 6/3/2014.
- Chương trình Chân dung cuộc sống, “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Áo nâu bên cửa thềm”, Kênh truyền hình trực tuyến Văn hóa Việt Nam, phát sóng ngày 19/7/2012.
- Gia phả họ Nguyễn, lưu trữ tại nhà ông Nguyễn Văn Dùng trưởng dòng họ Nguyễn Văn tại Mai Xá, Đồng Lý, Lý Nhân, Hà Nam.
- Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, lưu trữ tại Văn phòng Bảo tồn Di sản Phật giáo chùa Sủi
- Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”
____________
Tiếng Trung (中文)
身世
已故长老释清碧(法号),俗名阮文碧[1],生于癸丑年(1913)[2],河南省理仁县东礼社梅舍村,出身于书香门第、科举世家。
父亲为阮文胜,字有尚(1880);母亲为杨氏合(1877)。[3] 长老在家中排行第四(四男二女)。
1919年,6岁时随父母外出谋生。途经海防市建瑞县厚榜社金带村,被儒生杨廷荤(字杨廷景)与其妻仲氏如收为养子,悉心抚养,并送入建安私塾读书。
出家因缘
养母笃信佛教,终身持素念佛。养父母在金带村渡口旁建双寺,清碧与养姐每晚至寺中念佛。
1926年,13岁时,**天福祖师(释通进)**巡游至双寺,探问后认出清碧是其亲侄。经祖师开示讲法,他即发心出家。其养姐亦后出家,成为西贡高沸(今胡志明市)仙龙寺女长老[4]。
成长于儒释并重之家,正是清碧与养姐入道的因缘。
道业
此后,清碧随师辗转修学:笔塔寺、婆陀寺、保堪寺、大洋崇福寺等。
1927年,14岁,于婆陀寺受沙弥戒,法名心碧,道号智性禅师。
于保堪—济川祖庭研习十年,勤学经、律、论,一心诵经,冬寒打坐。
1937年,于北宁省顺成县笔塔寺大戒坛受具足戒。
1940年,回到大洋崇福(水寺,今嘉林富市),随师共理寺务。
1945—1956年艰难时期,他与富市社百姓入合作社,白天耕田筑堤修路。其苦行精神深得百姓敬仰,乡人常忆起他食野草以修头陀行[5]。
释清芳(水寺住持)感言:
“1990年,大长老清碧回到水寺,安排我任住持。师勉励我们精进修行,守护民族文化与僧格。其情深意切,身心榜样,我们谨誓遵循。”[6]
1960年,承续临济宗法脉,与天福祖师同往会舍祖庭(河内常信)。
1966年,应阮廌社(河西常信)民众礼请,任豆寺(成道寺)住持。二十年间,节食断饮,守身清净,仿效武克明、武克长二祖[7]。
1986年,回到会舍寺(常信胜利社),继续住持祖庭。初见殿宇破漏,亲自主持修缮。
平日仅食一餐,三袭补衣,坐而不卧,修苦行、头陀[8][9]。常持佛号,手不释经,以身示范教化僧尼。
三十余年在崇福寺,严持戒律,结夏安居,不涉财利,安贫乐道,传授弟子以此行。
释源实(会舍寺,大弟子)回忆:
“清碧长老德行为三地佛子所仰,二十世纪、二十一世纪罕有真修僧。学识渊博而性情简朴,年老亦凡事亲为。”[14]
2005年,第二代法主释心寂(济川—保堪宗长)圆寂,清碧长老被推举继任。
2012年初春,河内市佛教会与宗门隆重举行百岁庆寿。彼时,他是越南佛教教会在世最高寿的长老之一。
“龙隐济川云万里
德流会舍永千秋”[15]
2013年3月23日8时20分(癸巳年二月十二日),清碧长老安然示寂,于会舍祖庭。舍利安葬于福胜塔。
对越南佛教的贡献
虽年高病重,仍积极参加佛事:修复重建寺院、佛教大典,尤其常返济川保堪祖庭谒祖。
长期担任夏安居**梅舍(河南)、会舍(河内)、慕老(河内)**等讲主,作后学典范。
历任:越南佛教教会证委员会副法主兼律主,河内市佛教会证委员会长老,中央执行委员会委员,河西省佛教会会长,河西佛学中专校校长,济川—保堪宗长,会舍祖庭住持。
葬礼上,法主释普慧致悼词:
“一生朴实忠厚,具古德行仪。其人可为当代持戒僧之代表,纯粹道德,严净斋戒。”[16]
注释
[1] 阮氏家谱,存于河南理仁东礼梅舍村阮文宗家。
[2] 多书记1912年,然据会舍崇福寺《供觉灵科》载:癸丑年秋八月生,即1913年8月。原文:“癸丑年梦应莲生,秋八月祥为麟育”。
[3] 阮氏家谱,同上。
[4] 养姐俗名杨松政,法名释女如政(1913–1998)。
[5] 头陀行(Dhūta-guṇa):南传13种,北传12种。清碧长老行其中4:粪扫衣、三衣、一日一食、坐而不卧。
[6] 纪录片《大长老释清碧——百岁荣寿志庆》。
[7] 武克明、武克长,十七世纪豆寺二禅师,叔侄兼师徒,一生简朴,日仅一斋,圆寂后遗体不坏。
[8] 苦行:释迦成佛前,曾行六年苦行,后世以此称修苦法。
[9] 《会舍崇福寺供觉灵科》,同上。
[10] 三学:戒、定、慧。
[11] 一乘:佛乘。
[12] 三业:身、口、意。
[13] 《会舍崇福寺供觉灵科》,同上。
[14] 纪录片《大长老释清碧——百岁荣寿志庆》。
[15] 《会舍崇福寺供觉灵科》,同上。
[16] 河内山西开源寺,纪录片《长老释清碧一生与道业》,2014年3月6日播出。
参考文献
- Chùa Khai Nguyên TTHH Việt Nam (Sơn Tây, Hà Nội), Phim tài liệu: “Cuộc đời và đạo nghiệp của Trưởng lão Hòa thượng Thích Thanh Bích”, phát sóng ngày 6/3/2014.
- Chương trình Chân dung cuộc sống, “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Áo nâu bên cửa thềm”, Kênh truyền hình trực tuyến Văn hóa Việt Nam, phát sóng ngày 19/7/2012.
- Gia phả họ Nguyễn, lưu trữ tại nhà ông Nguyễn Văn Dùng trưởng dòng họ Nguyễn Văn tại Mai Xá, Đồng Lý, Lý Nhân, Hà Nam.
- Hội Xá Sùng Phúc tự cúng giác linh khoa, lưu trữ tại Văn phòng Bảo tồn Di sản Phật giáo chùa Sủi
- Phim tư liệu “Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bích – Bách tuế vinh thọ chí khánh.”



