Chùa Sủi (Đại Dương Sùng Phúc Tự – Gia Lâm, Hà Nội)

Chùa Sủi (Đại Dương Sùng Phúc Tự – Gia Lâm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Giới thiệu chung

Nằm trong quần thể di tích đình – đền – chùa Sủi, Đại Dương Sùng Phúc tự có tên nôm là chùa Sủi hay chùa Phú Thị, xưa thuộc trang Thổ Lỗi, hương Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, nay là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Đây được xem là một trong những ngôi danh lam cổ tự đẹp nhất xứ Kinh Bắc.

Lược sử

Tương truyền chùa được xây vào thế kỷ thứ II (STL). Đây là giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào vùng Luy Lâu, tạo nên một cụm di chỉ Dâu, Keo, Sủi. Tuy nhiên chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào ghi chép về giai đoạn này. Còn theo các cứ liệu lịch sử thực tế hơn thì chùa được xây dựng từ thời Đinh, rất nhiều các công trình nghiên cứu đã khẳng định điều này:  

“Xưa chùa Sủi thuộc thôn Thổ Lỗi, hương Siêu Loại, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, nay là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội. Tương truyền, chùa được khởi công xây dựng từ thời nhà Đinh, do tướng công Đào Liên Hoa hưng công. Ban đầu ngôi chùa chỉ là am thờ Phật làm bằng thanh tre, nứa lá, sau dần khung làm bằng gỗ và ngày nay là tường xây, mái ngói. Tên Chùa Ban đầu của chùa là Đại Dương, với ý nghĩa ánh sáng Phật Pháp rộng lớn như nước biển Đại Dương[1]

Tuy nhiên phải đến thế kỷ thứ XVI mới có thông tin được khắc trên bia. Theo tấm bia được khắc năm Đoan Thái thứ 4 (1589) hiện còn lưu tại chùa viết: “Hương lão xã Phú thị Nguyễn Phi, tự Trường Thọ cùng vợ, con gái, con rể cúng 5 sào vào chùa Đại Dương thờ bà Ỷ Lan Hoàng Thái hậu.[2] Đến thế kỷ thứ XX tấm bia khắc năm Bảo Đại thứ 8 (1933) còn lưu tại chùa chép rằng:“đệ tam đế Lý triều Hoàng Thái hậu sở sáng dã”. Có nghĩa là thời hoàng đế thứ ba, triều Lý, có bà Hoàng Thái hậu kiến tạo nên. Hoàng Thái hậu thời hoàng đế thứ ba triều Lý tức là Ỷ Lan.

Từ những cứ liệu trên cho thấy vào thời Lý chùa được tu bổ với quy mô lớn đẹp và khang trang hơn. Việc này được được nhắc trong báo cáo của Sở Văn hoá Hà Nội năm 1988 đề nghị Bộ Văn hoá xếp hạng di tích lịch sử chùa Sủi viết: “Ngay từ khi mới ra đời, chùa Đại Dương đã nổi tiếng là ngôi chùa đẹp, sau lần bà Ỷ Lan về chùa, chùa càng nức tiếng. Suốt từ đó về sau, nhiều Vương Hầu, Vương Phi thường về thăm và công đức…”

Đến thế kỷ thứ XVII chùa được xem là chốn danh lam cổ tự đẹp nhất vùng Kinh Bắc xưa với thế đất đắc địa. Trong tấm bia Cúng Phật sản bi được khắc năm Đức Long năm thứ 5, Triều Lê hiện còn lưu tại chùa khắc nội dung như sau:

“Trời đất rộng vô cùng, rộng không có gì là không che chở, mặt trời mặt trăng sáng vô cùng không có gì là không chiếu tới trong khoảnh trời đất. Đất này là nơi cổ tích danh lam rất đẹp. Chùa Đại Dương Sùng Phúc phía trước có hình chim chu tước, có đường thiên lý thông xuống phía Nam; Phía sau có hình chim Huyền Vũ, có thôn gồm muôn nhà trấn bên ngoài; Bên trái có hình rồng xanh trùng trùng hướng về; Bên phải có hình bạch hổ cuồn cuộn chầu tới. Thực là thắng cảnh bậc nhất của nước Việt Nam vậy.”[3]

Ngày nay, Đại Dương Sùng Phúc tự vẫn được sử dụng đúng chức năng là công trình tôn giáo phục vụ đời sống tâm linh, là nơi sinh hoạt văn hóa của đông đảo người dân địa phương nói riêng và người dân trong cả nước nói chung.

Dấu ấn thiền phái Thảo Đường tại Đại Dương Sùng Phúc tự

Phật giáo du nhập và phát triển ở Việt Nam có lẽ tương đương với chiều dài lịch sử của dân tộc. Trước thời kỳ độc lập tự chủ (938) Phật giáo đã từng bước bén rễ với tư cách là một tôn giáo du nhập. Chỉ sau khi đất nước xác định vị trí độc lập của mình thì về cơ bản các giá trị văn hóa của chúng ta mới từng bước định hình một cách có hệ thống. Vào thời nhà Lý và nửa đầu nhà Trần, Phật giáo mặc nhiên được lựa chọn là Quốc giáo với những lý do hoàn toàn hợp lý của sự vận động lịch sử xã hội. Phật giáo lúc này trở thành “bó đuốc tư tưởng” và phát triển đạt tới sự cực thịnh trong suốt triều đại lịch sử. Sự phát triển của Phật giáo thời Lý kéo theo nhiều hệ phái sinh ra, trong đó Lý Thánh Tông với tư cách là hoàng đế và là tổ thứ hai của thiền phái Thảo Đường đã tiếp nối, hoằng dương và vận dụng tư tưởng của thiền phái này vào chính sự. Trong quá trình vận động đó, Phật giáo được lan tỏa rộng khắp; Đại Dương Sùng Phúc tự in đậm dấu ấn của Thiền phái Thảo Đường. Nơi đây, không chỉ đánh dấu sự phát triển của thiền phái Thảo Đường, mà thực sự trở thành một trong những ngôi cổ tự hiếm hoi kế thừa căn bản nhất tư tưởng của thiền phái Thảo Đường.

Lý Thánh Tông (1023- 1072), với tư cách là vị vua thứ 3 của triều đại nhà Lý đồng thời là tổ thứ 2 của thiền phái Thảo Đường. Ông từng đến đất Thổ Lỗi, gặp người con gái Lê Thị Khiết (1044-1117), lấy làm vợ, lập làm Nguyên phi Ỷ Lan, 40 tuổi vẫn chưa có con về chùa cầu tự. 

Sự kiện này, Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi:

Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh Hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông”.

Năm 1066, Nguyên Phi Ỷ Lan hạ sinh Thái tử Càn Đức. Để tạ ơn trời Phật, vua Lý Thánh Tông cho xây lại ngôi chùa rồi đổi tên gọi là Sùng Phúc Tự.

Sự kiện vua Lý Thánh Tông cùng Nguyên Phi Ỷ Lan đến chùa, đã đánh dấu bước đầu cho sự bén rễ của thiền phái Thảo Đường tại Đại Dương Sùng Phúc tự. Được chúng tôi khảo qua các tư liệu tư liệu cổ, cùng văn bia và hoành phi câu đối còn lưu tại chùa.

Về tấm hoành phi của chùa

雲門啟聖

Phiên âm: Vân môn khải thánh

Dịch nghĩa: Tông Vân môn mở ra bậc thánh

 “Vân môn” được hiểu theo các nghĩa như sau:

  1. Chỉ một điệu múa trong 6 điệu múa thời cổ (thời nhà Chu) lễ này dùng trong lễ tế thiên thần, tương truyền do Hoàng Đế chế ra.
  2. Chỉ cửa cổng cao to rộng lớn, phiếm chỉ nhà quyền quý,
  3. Chỉ sơn môn tông phái, cũng để chỉ chùa miếu.
  4. Chỉ một tông phái phật giáo (Vân môn tông). Hai chữ khải thánh. Có hai cách hiểu: Mở ra/sinh ra bậc thánh. Cách hiểu thứ hai là chỉ bậc sinh ra bậc thánh. ở đây hiểu theo cách thứ nhất.

Như vậy, Vân môn khải thánh 雲門啟聖 ở đây, được chúng tôi hiểu là một tông phái Phật giáo, cụ thể là Vân Môn tông. Trong Ngũ gia Thất tông của Trung Quốc thì Vân Môn tông đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển Phật giáo tại Trung Hoa. Thiền sư Thảo Đường đã kế thừa phần nhiều tư tưởng của thầy mình là Tuyết Đậu, và bởi vậy một phần không nhỏ tư tưởng của thiền phái Thảo Đường mang sắc thái của Vân Môn tông.

Từ những căn cứ trên, ta có thể khẳng định Thiền phái Thảo Đường tại Việt Nam có liên hệ mật thiết với Vân Môn tông tại Trung Hoa. Như vậy, Vân Môn tông rõ ràng là căn nguyên cho sự ra đời của các thiền phái sau này, trong đó phái Thảo Đường là một ví dụ điển hình.

 Về câu đối

院名崇福自是草堂開教地;
道衍超類當三李后問疑時

Phiên âm:

Viện danh Sùng Phúc tự thị Thảo Đường khai giáo địa;
Đạo diễn Siêu Loại đương tam Lý hậu vấn nghi thời

“Viện danh Sùng Phúc” ý chỉ Đại Dương Sùng Phúc. Đây là nơi khai mở ra thiền phái Thảo Đường. Ở câu thứ 2, chỉ ra rằng thiền phái Thảo Đường được mở ra ở vùng Siêu Loại (nay thuộc huyện Gia Lâm) Hà Nội thời vua Lý Thánh Tông.

Ngoài ra, trong quá trình khảo cứu và điền dã trong cụm di tích Đình – Đền – Chùa Sủi, chúng tôi phát hiện tại gian chính tẩm của Phụng Tổ đường có tượng thờ Thiền sư Thảo Đường (không rõ năm tạc), tượng thờ Nguyên Phi Ỷ Lan và các văn bia nói về công đức của bà tại chùa.

Tiếp theo là câu đối được trụ trì Thích Thông Tiến đề chữ hồi đầu thế kỷ XX:

演派聯方脉引大揚彰祖教
雲門列燭覺華崇福欝心宗

Phiên âm:

Diễn phái liên phương mạch dẫn đại dương chương tổ giáo.
Vân môn liệt chúc giác hoa sùng phúc uất tâm tông.

Nghĩa rằng: pháp mạch diễn biến của tổ tới chùa Đại Dương thì khởi sáng Tông

Ngoài ra trong cuốn Lạp nhật cúng Phật tổ nghi được Giáo sư Lê Mạnh Thát cùng phái đoàn phát hiện được tại Nam Định có chi tiết nhắc về hệ phái Thảo Dường. Từ trang 40a đến trang 60b, chép rằng: “Khai Quốc Thảo Đường thiền sư, Viên Thông Đại Điên pháp sư…., Gia Lâm Tuệ Chiếu danh sư”. Đây đều là các danh tăng thuộc hệ phái Thảo Đường, trong đó có nhắc đến Viên Thông Đại Điên pháp sư. Vào thời Lý ông thường lui tới chùa và được dân làng xem là trụ trì của chùa. Đây được xem là phát hiện mới của Giáo sư Lê Mạnh Thát khi bổ sung Viên Thông Đại Điên pháp sư vào hệ phái Thảo Đường.

Từ những dẫn cứ đã được chúng tôi nêu trên, có thể khẳng định rằng Thiền phái Thảo Đường vào thời vua Lý Thánh Tông đã phát triển cực thịnh và để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử Phật giáo nói chung và Đại Dương Sùng Phúc tự nói riêng.

Kiến trúc

Hiện nay, thông tin về vị trí và diện mạo kiến trúc của chùa Sủi khi mới khởi dựng vẫn chưa được xác định rõ ràng. Tuy nhiên, từ các tư liệu Hán – Nôm lưu giữ tại chùa, như tấm bia Cúng Phật sản bi 供 佛 鏟 碑 có niên đại Đức Long thứ 5 (1633), ta biết được một số thông tin về địa thế phong thủy của chùa: “… Phía trước có hình chim Chu Tước, có đường thiên lý thông xuống phía Nam; Phía sau có hình chim Huyền Vũ, có thôn gồm muôn nhà trấn bên ngoài; Bên trái có hình rồng xanh trùng trùng hướng về; Bên phải có hình bạch hổ cuồn cuộn chầu tới. Thực là thắng cảnh bậc nhất của nước Việt Nam vậy.”

Tấm bia Phú Thị Đại Dương Tự bi 富 市 大 揚 寺 碑 niên hiệu Bảo Đại 8 (1933) cung cấp thêm thông tin về tên gọi và các hạng mục kiến trúc của chùa vào đầu thế kỷ XX: “… Phía Bắc sông Hồng khoảng mấy dặm, ở Phú Thị có một ngôi chùa cổ là Đại Dương tự… Bên trong có một bia tiết nghĩa, phía trước có một miếu thờ dương thần, bên trái chùa miếu thờ âm thần… Hành Lang đầu hồi có cửa nách liền thông với một ngôi chùa trang nghiêm… Chùa do Hoàng Thái hậu Ỷ Lan, vợ của vua thứ 3 triều Lý khởi dựng vậy.”

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, chùa Đại Dương Sùng Phúc đã trải qua nhiều giai đoạn bị hư hỏng, xuống cấp. Tuy nhiên, các trụ trì qua các thời kỳ cùng với các tín chủ đã phát tâm tu sửa, mở rộng quy mô, tôn tạo tượng Phật, mua ruộng và sắm thêm các đồ thờ,… Đức nguyện của các vị này được ghi lại trong một số văn bia. Tấm bia Đại Dương tự bi ký 大 揚 寺 碑 記 dựng vào ngày lành tháng 10 năm Dương Hòa thứ 2 (1636) ghi lại: “… Nay có bà họ Nguyễn [thụy] Diệu Bảo, hiệu Tây Trân, cúng dường bạc ròng 1 dật tạo nhà Tiền Đường ở chùa Đại Dương Sùng Phúc, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An; bạc ròng 10 dật, sử dụng tiền 103 quan 5 mạch giao cho xã ta để mua ruộng cúng dường Tam Bảo.”

Tấm bia Thiền sư Tuệ Chiếu cúng điền bi 禪 師 慧 瞾 供 田 碑 niên đại Dương Hòa thứ 7 (1641) ghi nhận công đức của sư trụ trì Nguyễn Văn Quế trong việc trùng tu chùa: “… Năm Canh Tý đến trụ trì ở chùa ta… làm tượng nghìn tay với 3 mặt. Năm Sửu lại làm hai pho tượng Thánh, một tượng Phật tổ và đắp tượng chư Phật. Năm Nhâm Thân cho xây Long Đình, Tiền Án và Nội Tẩm. Năm Đinh Mùi làm tòa Thượng Điện. Năm Mậu Thân làm khu Phổ Đà Sơn với nhiều lớp tượng, sau thếp vàng Bảo Khám, tô lại các tượng Kim Thần, Liễu Thánh… Thứ đến tạo tượng thánh A Nan, Ngọc Hoàng cùng tượng Hộ Pháp… Năm Thìn tạo đài Cửu Phẩm; Kim Cương; Bồ Tát; La Hán; Lầu Chuông; Hậu Đường Tổ, rời Tam Quan ra ngoài, xây tường hai bên, lát gạch sân trước, lại cả sân Nhà Tổ…”

Mặt sau tấm bia Phú Thị Đại Dương Tự bi 富 市 大 揚 寺 碑 cũng ghi thêm về các công việc trùng tu trong những năm 1931, 1932, dưới sự trụ trì của sư Nguyễn Duy Tiến, như việc đúc tượng, đúc chuông, xây tường bao quanh chùa và khai khẩn đất hoang thành ruộng chùa: “… Ngày 8 tháng 4 năm Tân Mùi đúc tạo một tòa tượng đồng Cửu Long, trang hoàng tượng Phật và đúc chuông đồng bốn quả. Dâng ở Tam Bảo một quả, nhà Từ một quả, dâng Đình một quả, dâng Điện một quả, thành tiền một nghìn hai trăm nguyên tròn. Năm Nhâm Thân lại xây thêm tường bao quanh bốn bên của chùa, sửa gọn tre gỗ, san lấp phá đất hoang thành ruộng ở dưới.”

Đến nay, diện mạo tổng thể của chùa đã có nhiều thay đổi so với trước, nhiều hạng mục công trình đã bị hư hỏng hoặc phá hủy hoàn toàn. Kể từ khi Thượng tọa Thích Thanh Phương về trụ trì chùa Sủi vào năm 1996, ngài đã cùng chính quyền và nhân dân địa phương từng bước trùng tu, xây dựng lại nhiều hạng mục trong khuôn viên chùa. Hiện nay, ngoài các hạng mục chính như: Tam Quan, Nhà Bia, Tam Bảo, Gác Chuông, Gác Khánh, Nhà Tổ, Nhà Tịnh Mật, Nhà Vong, Nhà Mẫu, Nhà Pháp Hội, Nhà Khách, Lầu Quán Âm, chùa còn có thêm một số công trình phụ trợ như: Thư Viện, Tàng Kinh Lâu và Văn phòng Bảo tồn di sản Phật giáo chùa Sủi (BV01).

Tam Quan: chùa hiện nay có kiến trúc đơn giản nhưng trang nghiêm, được thiết kế với bốn trụ biểu tạo thành ba ô cửa vòm: cửa lớn ở giữa và hai cửa nhỏ hai bên. Cửa chính giữa có kết cấu gồm hai tầng. Tầng trên được chia thành ba ô cửa vòm, phía trên lợp mái hai tầng với các đầu đao uốn cong, các góc mái được trang trí với họa tiết vân mây. Tầng dưới được thiết kế theo hình vòm, với bức đại tự chữ Hán 衆 玅 門 (Chúng Diệu môn) ở mặt trong.

Liền kề với cửa chính, hai bên trái phải là hai ô cửa nhỏ. Các ô cửa nhỏ được tạo thành từ một trụ của cổng chính kết hợp với trụ vuông thấp hơn ở hai bên. Phía trên mỗi ô cửa nhỏ là các chữ Hán 嚴 莊 (Nghiêm Trang), 自 在 (Tự tại) ở mặt trong.

Nhà Bia: Hiện nay, cụm di tích đình – đền – chùa làng Sủi còn lưu giữ 19 tấm bia đá có niên đại từ các thế kỷ XVI, XVII, XVIII, XIX cho đến những năm đầu của thế kỷ XX. Các tấm bia này được đặt ở 4 khu vực khác nhau trong khuôn viên cụm di tích: khu vực sau Tam Quan (trên đường dẫn vào tòa Tam Bảo), khu vực trước Tam Bảo, dãy Nhà Bia bên trái đền thờ Ỷ Lan và khu vực nhà Tả Vu.

Hai Nhà Bia ở khu vực sau Tam Quan và trước Tam Bảo đều có mặt bằng kiến trúc hình chữ nhật, thiết kế hai tầng tám mái đắp giả ngói ống, góc mái uốn cong trang trí hoa văn dây lá cách điệu. Khoảng giữa hai tầng mái có các ô hình chữ nhật khắc chữ Hán và chữ viết theo lối chữ Phạn. Tầng dưới của các Nhà Bia này để trống, riêng Nhà Bia trước cửa Tam Bảo có cửa vòm xung quanh, bên trong đặt bia Phú Thị Đại Dương tự bi 富 市 大 揚 寺 碑 niên đại Bảo Đại 8 (1933), ghi lại một số thông tin lịch sử chùa. Còn ở hai Nhà Bia khu vực sau Tam Quan có dựng bia Công đức tạo san bi 功 德 造 刊 碑 niên đại Dương Hòa thứ hai (1636) ở bên phải và bia Từ vũ bi 祠 宇 碑 niên đại Cảnh Hưng 24 (1763) đặt trên lưng rùa nằm ở nhà bia bên trái.

Hiện tại, phần lớn các tấm bia đá được dựng ngay ngắn trong dãy nhà 7 gian nằm bên trái đền thờ Ỷ Lan. Ngoài ra, còn có 2 tấm bia hậu đặt sát tường dãy nhà Tả Vu ghi lại việc cúng ruộng của đệ nhất cung tần Vương phủ nội cung Ngô Thị Ngọc Thuần, Trần Thị Ngọc Am và một số người khác…

Tam Bảo: có mặt bằng kiến trúc dạng chữ Đinh (), bao gồm hai phần chính Thượng Điện và Hậu Cung. Thượng Điện được xây dựng theo phong cách thời Nguyễn, kiểu đầu hồi bít đốc. Mái lợp ngói mũi hài, góc mái trang trí con Kìm với phần miệng mở rộng ngậm vào bờ nóc, đuôi uốn cong. Chính giữa nóc mái gắn bức đại tự chữ Hán 大 揚 崇 福 寺 (Đại Dương Sùng Phúc tự), phía trên bức đại tự là bình nước cam lồ khảm gốm sứ.

Thượng Điện gồm 7 gian hai chái, 5 hàng cột. Khoảng cách giữa hai hàng cột cái là 3,15m; giữa hàng cột cái và cột quân 2,25m; giữa cột quân và cột hiên là 1,35m. Bước gian chính tòa Tam Bảo rộng 3,2m; gian bên rộng 2,5m và hai gian đầu hồi rộng 1,55m. Kết cấu vì nóc làm theo kiểu giá chiêng, vì nách theo kiểu bán giá chiêng. Các cấu kiện gỗ được chạm khắc hoa văn mây và dây lá cách điệu. Mặt trước của tòa Thượng Điện là hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản.

Bên trong Thượng Điện, các tượng thờ được đặt theo thứ tự: ở đầu hồi bên phải là tượng Địa Tạng Bồ Tát, tiếp theo là tượng Đức Thánh Hiền (hai bên có tượng Tiêu Diện Đại Sĩ và Vi Đà Hộ Pháp).Tiếp đến là tượng hộ pháp Trừng Ác trong trang phục võ tướng, ngồi trên sư tử xanh, tay phải cầm đao, tay trái chống đùi, mặt đỏ, nghiêm nghị. Đối xứng qua gian chính Tam Bảo, ở bên trái là tượng hộ pháp Khuyến Thiện với vẻ mặt nhân từ, tay phải chống đùi, tay trái cầm ngọc, cưỡi sư tử. Ngay sát tượng hộ pháp Khuyến Thiện là gian thờ tượng Đức Ông cùng hai thị giả Già Lam, Chấn Tể. 

Phía sau Thượng Điện là 3 gian Hậu Cung có kết cấu bộ vì giống như gian Thượng Điện. Bên trong Hậu Cung, bệ giật cấp được xây dựng để đặt hệ thống tượng thờ theo trình tự từ trên xuống dưới, cụ thể như sau: 

Ở vị trí cao nhất, sát với tường hậu, là bộ tượng Tam Thế, tượng trưng cho quá khứ, hiện tại và tương lai;

Lớp thứ hai: Bộ Di Đà Tam Tôn, với tượng A Di Đà ở giữa, hai bên là tượng Đại Thế Chí và Quán Âm Bồ Tát;

Lớp thứ ba: Bộ Thích Ca niêm hoa, với tượng Phật Thích Ca ngồi giữa, hai bên là hai thị giả A Nan và Ca Diếp trong tư thế đứng;

Lớp thứ tư: Tượng Di Lặc Bồ Tát ở giữa, hai bên là tượng Văn Thù Bồ Tát (cưỡi sư tử xanh) và Phổ Hiền Bồ Tát (cưỡi voi trắng);

Lớp thứ năm: Chính giữa là tượng Quán Âm Chuẩn Đề; 

Lớp thứ sáu: Tượng Ngọc Hoàng ở giữa, hai bên là tượng Nam Tào và Bắc Đẩu;

Lớp thứ bảy: Bộ tượng Cửu Long, hai bên là tượng Phạm Thiên và Đế Thích.

Ngoài ra, ở gian hồi Hậu Cung còn có tượng Quán Âm Tọa Sơn và Quán Âm Tống Tử, cùng với hệ thống tượng Thập Điện Diêm Vương chạy dọc hai bên, mặt chầu vào Tam Bảo.

 Phía trước Tam Bảo là hai dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu chạy dọc và nằm đối xứng nhau qua khoảng sân rộng lát gạch đỏ.

Tả Vu, Hữu Vu: là dãy nhà 5 gian được thiết kế giống nhau, bước gian chính rộng 2,4m; các gian bên rộng 2,35m; bên trên lợp ngói mũi hài, góc mái gắn trụ đấu hình thang. Lòng nhà rộng 3m được tạo thành từ hai hàng cột với kết cấu bộ vì theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị. Mặt trước nhà để trống, mặt sau bịt kín, bên trong xây bệ đặt tượng thập bát La Hán (mỗi bên đặt 9 vị). Ngoài ra, gian đầu hồi phía tiếp giáp với Lầu Khánh của dãy nhà Tả Vu còn đặt 3 pho tượng hậu và 2 bia đá ghi lại họ tên của những người cúng tiền, ruộng vào chùa.

Lầu Chuông, Lầu Khánh: nằm phía trước hai bên đầu Tam Bảo và tiếp giáp với đầu hồi dãy nhà Tả Vu, Hữu Vu. Kiến trúc của hai lầu giống nhau, đều gồm hai tầng có bậc thang dẫn lên, trong đó tầng trên được xây theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái. Đầu góc mái uốn cong trang trí hoa văn dây lá cách điệu, bên dưới trổ cửa vòm nhìn ra bốn phía. 

Hiện nay, tại Lầu Chuông (bên phải) còn treo quả chuông 大 揚 崇 福 (Đại Dương Sùng Phúc) được đúc vào ngày lành, tháng trọng Thu năm Cảnh Thịnh thứ 8 (1800). Ở phía đối diện Lầu Chuông là Lầu Khánh, bên trong có treo một khánh đá lớn hình bán nguyệt được chế tác bằng đá xanh, niên đại Vĩnh Thịnh (1705 – 1720). 

Từ Hành Lang đầu hồi bên phải Tam Bảo, lần theo qua lối cửa ngách dẫn sang khu vực Nhà Tổ.

Nhà Tổ: có cấu trúc mặt bằng hình chữ (Đinh). Dãy nhà phía trước gồm 5 gian, 5 hàng cột xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, hậu cung nối dài về phía sau. Phần mái lợp ngói mũi hài, hai góc mái gắn trụ đấu hình thang, chính giữa gắn đại tự chữ hán 奉 祖 堂 (Phụng Tổ Đường). Mặt trước gian đầu hồi bịt kín chỉ trổ cửa sổ theo lối chữ (Thọ) để lấy sáng và thông gió; các gian còn lại lắp cửa thượng song hạ bản. Các gian có độ rộng tương đối đều nhau, trong đó gian chính rộng 2,7m; các gian bên rộng 2,65m. Khoảng cách giữa hai hàng cột cái là 2,7m; khoảng cách giữa các hàng cột cái và cột quân là 1,6m; khoảng cách giữa hàng cột quân và cột hiên rộng 1,4m; khoảng cách giữa cột quân và tường hậu phía sau rộng 1,6m. Kết cấu vì nóc làm theo kiểu giá chiêng, vì nách theo kiểu bán giá chiêng. 

Bên trong Nhà Tổ đặt tượng Bồ Đề Đạt Ma, tượng và di ảnh trụ trì chùa qua các đời: Thiền sư Huệ Không Nguyễn Văn Quế, Thiền sư Huệ Lâm Trần Khánh Thuận, Thiền sư Thích Thông Tiến, Hòa thượng Thích Thanh Bích,… Đặc biệt, ngoài các vị Tổ như đã nêu, trên các ban thờ còn đặt tượng của các vị theo Thiền phái Thảo Đường như: Tổ sư Thảo Đường, Thiền sư Lý Thánh Tông và Thiền sư Ỷ Lan,…

Nằm về bên trái tòa Tam Bảo, qua lối cửa ngách dẫn sang khu vực Nhà Tịnh Mật.

Nhà Tịnh Mật: có mặt bằng kiến trúc dạng chữ Đinh () bên trên lợp ngói mũi hài, hai đầu nóc mái đặt trụ đấu hình thang. Gian Tiền Đường nhà Tịnh Mật xây theo kiểu tường hồi bít đốc gồm 5 gian, 5 hàng cột, kết cấu vì nóc theo kiểu giá chiêng, vì nách kiểu cổ ngỗng và bán giá chiêng. Bước gian chính rộng 3,05m; các gian bên rộng 2,7m; riêng hai gian đầu hồi rộng 2,75m. Khoảng cách giữa hai hàng cột cái rộng 3,15m; khoảng cách giữa hàng cột cái và cột quân rộng 1,6m; khoảng cách giữa hàng cột quân và cột hiên rộng 1,5m. Mặt trước được che bởi hệ thống cửa thượng song hạ bản, riêng hai gian đầu hồi xây kín trổ cửa sổ theo kiểu chữ (Thọ). Hậu Cung gồm 3 gian nối dài phía sau Tiền Đường tạo thành không gian đặt ngai thờ và tượng thờ tạo hình theo tông phái Mật Tông. Gồm tượng: bản sư Thích Ca Mâu Ni, Văn Thù Bồ Tát, Quán Âm Tứ Thủ Bồ Tát, Hoàng Tài Bảo Thiên, Địa Tạng Vương Bồ Tát và Đức Lục Độ Mẫu Tara,… Ngoài ra, đầu hồi bên trái có đặt ban thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh và di ảnh một số vị lãnh đạo cách mạng như: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng bí thư Lê Duẩn,… 

Nhà Mẫu: là dãy nhà chạy dọc bên phải phía trước Nhà Tổ, kết cấu gồm hai nếp nhà làm theo kiểu chồng diêm: nếp nhà phía trước có mặt bằng dạng chữ  Nhất () gồm 7 gian và nếp nhà 5 gian phía sau hình chữ chữ Đinh ().  Kiến trúc dãy nhà làm theo kiểu truyền thống, mái lợp ngói mũi hài, kết cấu bộ vì nóc theo kiểu giá chiêng kẻ ngồi và giá chiêng. Gian chính giữa Hậu Cung đặt tượng Tam tòa thánh Mẫu trong khám thờ và tượng Tứ phủ Ông Hoàng. Gian bên trái đặt tượng Ngũ vị Tôn Quan tạc trong tư thế ngồi thả chân, đầu đội mũ cánh chuồn, mặc trang phục nhà quan; gian bên phải đặt ban thờ Mẫu Sơn Trang và 4 thị nữ theo hầu.

Nhà Vong: Có mặt bằng hình chữ Nhất (一) gồm 3 gian hai chái, hai đầu hồi và phía sau bịt kín, phía trước là hệ thống cửa thượng song hạ bản. Gian chính giữa đặt tượng Địa Tạng Bồ Tát tạc trong thế đứng, đầu đội mũ Thất Phật, mình khoác áo cà sa, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm ngọc Như Ý. Các gian bên đặt bài vị, bát hương và di ảnh của những người đã mất được gia đình gửi lên chùa.

Nhà Pháp Hội: có diện tích rộng (khoảng 350m2) được xây dựng trong những năm gần đây với lối kiến trúc hiện đại làm nơi tổ chức các khóa tu và sinh hoạt tín ngưỡng của Phật tử vào các ngày lễ, tết. Gian chính giữa đặt tượng A Di Đà và tượng Quán Thế Âm Bồ Tát, tượng Đại Thế Chí Bồ Tát ở hai bên cùng rất nhiều tượng A Di Đà nhỏ ở các ban thờ xung quanh.

Lầu Quán Âm: được dựng bên phải nhà Pháp Hội trên một hồ nhân tạo. Lầu thiết kế theo lối kiến trúc chồng diêm hai tầng 8 mái lợp ngói đỏ, góc mái uốn cong trang trí hình đầu rồng. Đỉnh góc mái gắn tượng con Kìm, miệng há to ngậm vào bờ nóc, đuôi uốn cong hình xoắn ốc; chính giữa nóc mái gắn hình quầng lửa. Bên trong lầu đặt tượng Trì Kinh Quán Âm bằng đá trắng tạc trong thế chân co, chân duỗi; tay trái để ngửa cầm quyển kinh, tay phải úp cầm tràng hạt.

Ngoài các hạng mục công trình là nơi thờ tự và diễn ra các hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng, trong khuôn viên chùa còn có một số công trình phụ trợ như: Nhà Khách, Tịnh Xá, Thư Viện, khu Nhà Bếp… Đặc biệt, từ tháng 9/2022, Thượng tọa Thích Thanh Phương (trụ trì chùa) đã thành lập Văn phòng Bảo tồn di sản Phật giáo chùa Sủi nhằm sưu tầm, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản Phật giáo của tiền nhân để lại. 

Cụm di tích đình – đền – chùa Sủi được xây dựng tập trung trên một khu đất rộng lớn. Các hạng mục công trình kiến trúc được xây dựng liền kề nhau và liên kết với nhau bằng hệ thống cửa ngách tạo thành một chỉnh thể liên hoàn, thống nhất. Vì thế, khi nói về chùa Sủi không thể không nhắc đến đình Sủi và đền thờ bà Ỷ Lan.

Đình Sủi: nằm phía trước nhà Tam Bảo, thờ Tây vị Đại Vương tướng quân Đào Liên Hoa. Theo các bậc cao niên trong làng, khu vực thờ ngài xưa kia là một ngôi đình lớn, có quy mô rộng rãi. Kiến trúc hiện tại của ngôi đình mang dấu ấn của đợt trùng tu vào năm Đinh Mão (1927). Đình có kiểu dáng mặt bằng hình chữ Đinh (), gồm 2 phần chính: Thượng Điện và Hậu Cung. 

Thượng Điện có dạng hình chữ Nhất (一) với 5 gian hai chái. Mặt trước được thiết kế đặc biệt với kiểu cửa vòm cong: phần dưới cửa là hai góc vuông, còn phần trên là vòm tròn (bán nguyệt), tạo nên vẻ mềm mại và thông thoáng cho toàn bộ công trình. Phía trên các ô cửa là những hoa văn hổ phù và dây lá, trong khi gian chính giữa có gắn thêm bức đại tự chữ Hán: 維 嶽 降 神 (Duy nhạc giáng thần), cùng hình ảnh lưỡng long chầu nhật. Kết cấu vì nóc theo kiểu giá chiêng, với ván gỗ trang trí họa tiết vân mây được đặt giữa hai trụ trốn, còn vì nách được trang trí bằng ván nong chạm khắc hình dây lá. Mặt trong ở các đầu hồi, bên phải có hình dơi ngũ phúc, còn bên trái là hình tam lân hí cầu.

Hậu Cung gồm ba gian nối dài phía sau, mái được lợp ngói mũi hài, góc mái gắn trụ đấu hình thang. Kết cấu vì nóc theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, trong khi vì nách thiết kế kiểu chồng rường – bán giá chiêng. Mặt trước gian chính của Hậu Cung có đắp nổi đại tự chữ Hán 聖 躬 萬 歲 (Thánh cung vạn tuế), phía trên là hình lưỡng long chầu nhật. Gian giữa Hậu Cung đặt tượng tướng quân Đào Liên Hoa trong tư thế ngồi thả chân, đầu đội mũ Phốc Đầu, nét mặt nghiêm nghị, hai tay đặt lên đầu gối, tay phải để ngửa, tay trái úp.

Đền thờ bà Ỷ Lan: nằm sát bên trái đình Sủi. Mặt tiền của đền gồm 3 gian, hai chái được thiết kế theo kiểu cửa vòm cong, tương tự như kiến trúc mặt trước của đình. Gian giữa có hai tầng, với tầng trên được xây dựng theo kiểu lầu gồm hai tầng 8 mái, đắp giả ngói ống, các góc mái uốn cong trang trí hoa văn dây lá cách điệu. Tầng dưới thiết kế cửa vòm, phần tiếp giáp với tầng trên đắp nổi đại tự chữ Hán 含 弘 光 大 (Hàm hoằng quang đại). Phía sau đền là tòa Phương Đình và Hậu Cung.

Tòa Phương Đình có kiến trúc hai tầng, tám mái, lợp ngói mũi hài. Các góc mái được trang trí với con Kìm, miệng há ngậm vào dải bờ nóc, đuôi xoáy tròn, uốn cong. Chính giữa nóc mái gắn quầng lửa. Kết cấu vì nóc được làm theo kiểu chồng rường ván mê, trang trí hình rồng, hổ phù; vì nách là các ván nong chạm khắc đề tài tứ linh, trúc hóa rồng và hồi văn.

Ngay sau tòa Phương Đình là khu vực Hậu Cung có thiết kế theo hình chữ Đinh (), gồm dãy nhà 5 gian phía trước và nếp nhà 3 gian nối dài phía sau. Hậu Cung được lợp ngói mũi hài, góc mái gắn trụ đấu hình thang. 

Năm gian phía trước được xây bằng gạch, cửa uốn vòm, gian chính giữa treo bức hoành phi chữ Hán 母 儀 天 下 (Mẫu nghi thiên hạ). 

Ba gian nhà phía sau có kết cấu khung gỗ, vì nóc kiểu giá chiêng – chồng rường con nhị; vì nách theo kiểu chồng rường – bán giá chiêng. Khu vực sát tường hậu đặt khám thờ bên trong có tượng của Linh Nhân Hoàng Thái hậu Ỷ Lan ở gian chính giữa, hai gian bên đặt tượng Vương phụ và Vương mẫu. 

Di vật

Chùa Sủi lưu giữ được 73 pho tượng cổ, có niên đại tạo tác từ TK 17 đến TK 19. Nhiều tượng mang giá trị thẩm mỹ cao và đậm chất dân gian, mang vẻ đẹp dung dị và tiêu biểu cho nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam trong giai đoạn nền nghệ thuật dân gian phát triển cực thịnh của thế kỷ 17, 18 với phong cách thời Lê, Nguyễn như tượng A Di Đà, tượng Thái hậu Ỷ Lan, tượng Sư tổ Đạt Ma, bộ tượng Tam Thế Phật bằng gỗ phủ sơn, cao 1,2m và các tượng Bồ tát: Quán Thế Âm, Văn Thù, Phổ Hiền, v.v… Đặc biệt là phần trang trí với các mảng chạm rồng tinh tế ở vì kèo.

Trong hệ thống văn bia của cụm di tích có 12 bia đã được Trường Viễn đông Bác cổ Pháp dập, thác bản hiện còn lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Cuối năm 2001, Ban Quản lý di tích của làng cùng các dòng họ đã đóng góp tiền của để dựng nhà bia, đồng thời quy tập các tấm bia nằm trong dân về đây. Hiện tại hệ thống bia đá của cụm di tích có tổng 19 bia: 14 bia đặt tại nhà bia, 3 bia trong chùa và 2 bia ngoài cổng đình.

Chùa còn có một khánh đá cổ từ đời Vĩnh Thịnh thứ 21 (1725) và một quả chuông đồng lớn treo trên lầu tám mái phía tây mang niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) thời Tây Sơn. Trang trí trên chuông khá độc đáo, khắc nhiều bài ký bằng chữ Hán, miêu tả cảnh đẹp của chùa và ý nghĩa của việc đúc chuông cùng sự phát tâm công đức.

Với số lượng lớn bia đá có niên đại tạo dựng sớm, nội dung từng tấm bia có giá trị khác nhau, cùng hệ thống tượng thờ đa dạng, có số lượng lớn và có niên đại tạo tác từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX và XII có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ tiêu biểu cho nền nghệ thuật điêu khắc của Việt Nam trong thời Lê, Nguyễn. Các di vật này là minh chứng, là nguồn sử liệu quan trọng giúp thế hệ hôm nay và mai sau hiểu được công lao to lớn của thế hệ cha ông, học tập và phát huy những giá trị truyền thống, đồng thời, là căn cứ làm sáng tỏ quá trình lịch sử hình thành, phát triển của dân tộc.

Từ những lý do trên, năm 1989 cụm di tích đình – đền – chùa Sủi được nhà nước ký quyết định công nhận là cụng di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo. 

Lễ hội

Hàng năm, Lễ hội làng Sủi có 3 kỳ lễ, đó là: lễ hội làng Sủi từ ngày 1 đến 3 tháng 3 âm lịch, giỗ Nguyên Phi Ỷ Lan ngày 25 tháng 7 âm lịch và giỗ Tây Vị Đại vương tướng quân Đào Liên Hoa ngày 25 tháng 12 âm lịch. Trong 3 kỳ lễ, làng tập trung mở hội chính vào tháng ba, hai kỳ lễ còn lại, làng chỉ cúng lễ long trọng.

Hội chính được diễn ra trong 3 ngày để tưởng nhớ đến công đức của Nguyên Phi Ỷ Lan và Tướng quân Đào Liên Hoa. Hội có nghi thức đọc Mục Lục để ca ngợi cảnh đẹp, sự trù phú, truyền thống khoa bảng của làng cùng với lễ “Bông Sòng” đặc trưng. Theo thần phả của làng, “Bông” là Nguyễn Bông – quan thái giám theo hầu Nguyên Phi Ỷ Lan, người làng Kính Chủ (nay là thôn Trung Kính Thượng, xã Dịch Vọng, quận Cầu Giấy, Hà Nội); “Sòng” là sòng phẳng, ngay thẳng. Lễ Bông Sòng mang nội dung giải oan cho Nguyễn Bông.

Diễn biến lễ hội

Ngày 01/03

Buổi sáng, đánh trống khai hội mở cửa đền, cửa đình. Sau đó, lễ Thánh và lễ đọc Mục Lục được tổ chức. Buổi chiều, dân làng và du khách thập phương vào lễ Thánh.

Ngày 02/03

Buổi sáng, diễn ra song song hai lễ tế của đội tế nam và đội tế nữ. Đội tế nam tế lễ tại đình còn đội tế nữ tế lễ tại đền. Buổi chiều, diễn ra lễ tế Thánh của đội tế các địa phương khác tại đình và đền Sủi.

Ngày 03/3 (Chính hội)

Buổi sáng, lễ rước kiệu Nguyên Phi Ỷ Lan được tổ chức rất long trọng. Các vai hiệu cờ, hiệu trống, hiệu chiêng, đô tùy (người rước kiệu). Người rước kiệu phải là những trai tráng khỏe mạnh đạo đức tốt.  Các vai Chánh sứ, Phó sứ là các cháu thiếu niên, nhi đồng. Tất cả mặc áo gấm, đội khăn đỏ, đi sau các hiệu cờ, hiệu trống. Đoàn rước đi một vòng trên đường lớn rồi quay trở về đền. Khi kiệu đã an vị, đội tế nam và đội tế nữ hành lễ tế Thánh ở đình và đền.

 Buổi chiều, lễ hội Bông Sòng được tổ chức vào hồi 14 giờ. Khi nghe ba hồi hiệu lệnh chiêng, 10 đến 20 thanh niên mặc áo dài, đội khăn xếp hay khăn lượt mang theo trầu cau, rượu, miệng hô “Sòng Bông Sòng”, đi cà kheo từ trong làng lên tới miếu ông Bông đầu làng. Trong số đó có duy nhất một người đi bộ gõ trống con (trống ca trù). Sau đó, cả đoàn quay về đình để vừa chúc rượu các đại diện chánh, phó sứ vừa nhảy múa và hô “Sòng Bông Sòng” trong khoảng hơn 1 tiếng đồng hồ. Kết thúc lễ hội là lễ tế hạ hội lúc xế chiều.

Lễ Bông Sòng chỉ được tổ chức ở làng Sủi, đã tạo nên sức hấp dẫn, độc đáo và sự phong phú, sinh động cho lễ hội làng Sủi.

Trong thời gian diễn ra lễ hội còn có các trò chơi, các chương trình biểu diễn nghệ thuật dân tộc như: thi cờ tướng, thi đấu bóng truyền, chọi gà, đập niêu đất, đánh đu tre, biểu diễn múa quạt, hát quan họ, ca trù, thi đọc thơ, thi hát trống quân…

Đồng hành cùng kháng chiến

Trước cách mạng tháng 8/1945, cũng như trong hai cuộc kháng chiến, khu di tích này là nơi tụ họp của các cán bộ cách mạng. Chính dưới gốc cây si có niên đại 600-700 năm đã diễn ra lễ ra mắt Đoàn thanh niên cứu quốc Phú Thị do hai cán bộ lão thành cách mạng (Cao Huy Chính và Nguyễn Xuân Kiện) tổ chức sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp 09/03/1945 chừng hai tháng.

Các lớp học bình dân học vụ trước tháng 8/1945 cũng được mở tại đây. Kháng chiến chống Mỹ, khu di tích này đã là nơi che chở nhiều đơn vị bộ đội, nơi sơ tán của Bệnh viện Đa khoa Gia Lâm, trường đào tạo cán bộ ngành kiểm sát… Đồng chí Hoàng Quốc Việt, một trong những vị khai quốc công thần, với cương vị Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, Chủ tịch Tổng Công đoàn, Viện trưởng Viện Kiểm Sát Nhân dân tối cao đã đến đây nhiều lần. Lần đầu tiên là thay mặt Đảng, Chính phủ đến thăm hỏi và động viên những nạn nhân trong trận Mỹ ném bom Nhà máy Xe lửa Gia Lâm được đưa về đây cứu chữa hồi bệnh viện đa khoa sơ tán về Phú Thị.

Chiến tranh qua đi, hòa bình lặp lại chùa vẫn được sử dụng đúng chức năng là một cơ sở tôn giáo, đóng vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của nhân dân Phật tử, đồng hành cùng nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, ngày 16/11/2013 (tức ngày 14 tháng 10 năm Quý Tỵ) chốn linh thiêng cổ tự này đã được gia đình và các cấp chính quyền chọn để tổ chức lễ cầu siêu cho cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng các anh hùng liệt sĩ, đồng bào tử nạn.

Các đời trụ trì

  1. Thiền Sư Đại Điên (thời vua Lý Thánh Tông)
  2. Thiền Sư Huệ Không Nguyễn Văn Quế, Tiến Công lang Tăng, Tăng Thống Ty Tăng Lục (1641?)
  3. Thiền Sư Huệ Lâm Trần Khánh Thuận (?1711?)
  4. Tổ Thiên Phúc, Thiền Sư Thích Thông Tiến (1889-1986) (Thích Thông Tập) (?-1960)
  5. Cố Đại Lão Hòa thượng, Phó Pháp chủ HDCM, Thích Thanh Bích (1913-2013) – chánh đương gia (1940-1960)
  6. Thượng tọa Thích Thanh Phương (1973) – trụ trì (2002- nay)

Chú thích

  • [1] Lê Ngọc Quang, Phật giáo huyện Gia Lâm, lịch sử thực trạng, Luận án tiến sĩ tôn giáo học,tr.70.
  • [2] Bia Cúng dưỡng điền bi, kí hiệu: 3155, lưu tại chùa.
  • [3] Bia Cúng Phật sản bi hiện còn lưu tại chùa.

Tài liệu tham khảo

  1. Lê Mạnh Thát (1337), Thiền uyển tập anh, Nxb Đại học Vạn Hạnh. 
  2. Trần Ngọc Vương, Văn học Việt Nam TK X đến TK XIX – Những vấn đề lý luận về lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  3. Lê Ngọc Quang, Phật giáo Việt Nam huyện Gia Lâm: Lịch sử, thực trạng, những vấn đề đặt ra. Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học. 
  4. Lê Tắc, An nam chí lược, Nxb Lao động.
  5. Sách Tư liệu lịch sử quê hương Sủi.
  6. Qua các tư liệu, văn bia, hoành phi, câu đối mà chúng tôi khảo được tại Đại Dương Sùng Phúc tự tức chùa Sủi. 
  7. Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam quyển 3, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 
  8. Lạp nhật cúng Phật tổ nghi
5/5 (105 bình chọn)

Video

Ho So Tac Gia Nguyen Trung
Multimedia
Nguyễn Trung
Vương Minh
Cố vấn nội dung
Vương Minh
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)