Chùa Thanh Sử (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Chùa Thanh Sử (Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Từ Thị trấn Vĩnh Bảo, dọc theo quốc lộ 17B khoảng 10km về phía Nam là xã Tam Cường, nơi tọa lạc của một ngôi cổ tự lưu giữ nét văn hóa của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Chùa Thanh Sử, còn gọi tắt là Chùa Sử, thuộc địa phận thôn Đông Am, xã Tam Cường, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng – vùng đất vốn nổi tiếng về truyền thống hiếu học và khoa bảng của, với nhiều gương danh sĩ nổi tiếng trong lịch sử, trong đó, nổi bật là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Lịch sử – Kiến trúc

Theo ghi chép trên tấm bia đá tại đây, chùa Thanh Sử có từ thế kỷ XIV. Tên gọi của ngôi chùa là Thanh Sử mang một ý nghĩa như một sự ghi nhận công đức của vị quan Ngự Sử triều Mạc khi ông hiến toàn bộ gia sản của mình cho nhân dân địa phương làm chùa. Thanh Sử có thể chứa đựng hàm nghĩa tấm lòng trong sáng của quan Ngự Sử đối với ngôi chùa này.

Chùa với diện tích 10.000 m2 cùng kiến trúc cổ kính. Chùa trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo:

  • Vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Hòa thượng Trụ trì Thích Quang Huy đã cho tu tạo lại ngôi chùa. Sau đó, đại lão HT.Thích Nguyên Sinh cho tu sửa một lần nữa. Năm 2007 thì Hòa thượng viên tịch nên ĐĐ.Thích Tục Huy kế tục Trụ trì chùa.
  • Năm 2010, ĐĐ.Thích Bản Giáo được GHPGVN TP. Hải Phòng bổ nhiệm Trụ trì chùa Thanh Sử. Chính quyền cùng nhân dân địa phương đã cho đại trùng tu lại tòa chánh điện, khu nhà tổ, điện thờ Mẫu, điện Quan Âm, cây cầu đá và không gian bên ngoài cũng được xây dựng khang trang tố hảo như ngày hôm nay. 

Hiện nay chùa có khuôn viên hoàn chỉnh gồm: cổng tam quan, nhà thờ Tổ, nhà khách, mộ tháp vườn, hồ nước… tọa lạc trên một khuôn viên đất đai thoáng mát và rộng lớn.

Chùa Thanh Sử được thiết kế theo kiểu chữ Công tọa Tây Nam; Đông Bắc hướng mặt về phía di tích đền Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chính giữa là tòa Tam bảo thờ Phật. Phía bên phải có nhà thờ Tổ và bên trái là điện thờ Mẫu có một nét đặc trưng của các ngôi chùa cổ miền Bắc. Cổng tam quan là công trình kiến trúc mối được xây dựng lại theo kiểu chồng diêm hai tầng, tám mái đao cong, mặt ngoài đắp nổi chữ “Thanh Sử tự”.

Tòa Tam bảo có diện tích 500m2, kiến trúc kiểu chữ Đinh. Tiền đường 5 gian với 3 gian hậu cung và 2 dĩ dài 21m. Tường xây bằng gạch đó với mái cong đầu Rồng và các linh vật họa tiết hoa văn thời Lý Trân. Bên dưới là 3 gian cửa. Nhìn mặt bên, tường hồi xây kiểu đấu trụ giật tam cấp. Bờ nóc mái đắp rồng chầu mặt nhật. Tòa tiền có quy mô 5 gian, làm hoàn toàn bằng gỗ lim. Lối đi lên cửa chính điện là đôi Rồng đá uốn lượn mềm mại mà uy nghiêm. Bộ khung chịu lực bên trong chủ yếu được bào trơn, ít thể hiện các đề tài trang trí điêu khắc nghệ thuật.

Các hạng mục bên trong chùa và cánh cửa đều bằng gỗ lim với gam màu trầm uy linh thanh tịnh. Nhà Tổ với thiết kế chữ “Nhị” tiền đường 5 gian; hậu cung 5 gian với diện tích 300m2.

Hiện vật

Là một ngôi chùa phản ánh nội dung của tôn giáo (đạo Phật, do vây các pho tượng phật bài trí trong chùa có ý nghĩa rất quan trọng. Hệ thống tượng pháp ở chùa hiện được bảo tồn khá nguyên vẹn và được đặt tại các vị trí như sau:

  • Hàng tượng Tam Thế gồm 3 pho tượng được đặt tại vị trí cao nhất tượng trưng cho cho sự tồn tại vĩnh cửu của Đức Phật ở cả 3 thời quá khứ, hiện tại, tương lai
  • Hàng tượng thứ 2: tượng Di Đà Tam Tôn gồm ba pho tượng: A-di-đà, hai bên là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí
  • Hàng tượng thứ 3: chỉ có duy nhất một pho tượng Quán Âm Tọa Sơn;
  • Hàng tượng thứ 4: tượng Quán Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ở chính giữa, hai bên là tượng Quan Âm Tông Tỏ
  • Hàng tượng thứ 5: pho Di-lặc ở chính giữa, hàng tượng dưới cùng của tòa Phật điện là tòa Cửu Long bên trong đặt tượng Thích Ca Sơ Sinh.

Trong số những pho tượng bài trí trên Phật điện, dáng chú ý nhất là pho Di Lặc, có kích thước lớn, cao 1,2m. Tượng tạc trong tư thế ngồi chân trái khoanh, chân phải chông. Tay trái cầm hạt minh châu, tay phai để trên lòng đùi, mình để trần, bụng phệ, nét mặt viên mãn, sảng khoái. Qua nghiên cứu bước đầu, lượng mang phong cách nghệ thuật thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII).

Tại tòa tiền đường, phía trước ban thờ Phật, đặt hai pho Khuyến Thiện và Trừng Ác, bèn tay phải là ban thờ Thập điện Thiên Vương gồm 10 pho tạc giống hệt nhau, đầu đội mũ bình thiên, tay cầm hốt. Đây là những pho tượng được đưa về chùa vào thời gian gần đây. Bên trái là ban thờ Đức Ông và ban thờ Đức Phổ Hiền. Ngoài ra, tại tòa thờ các vị sư tổ còn một ban thờ gồm 9 pho. Trong đó có một pho tượng tổ khá đặc biệt. Tượng có kích thước lớn hơn các pho còn lại, cao 1,25m. Toàn thân ơn màu đen nâu, tạc trong tư thế ngồi khoanh chân, hai tay để trên lòng đùi, mình mặc áo chùng thâm, có niên đại thế kỷ XVIII.

Ngoài hệ thống tượng Phật, trong chùa còn lưu giữ một số’ hiện vật khác như: Chuông đồng có kích thước 1,4m, đường kính 0,60m, niên đại thời Nguyễn đời vua Minh Mạng thứ 17. Trên chuông đúc 5 chữ Hán lớn “Thanh Sử chung linh tự”. Hai tấm bia đã có niên đại thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Đây là những tấm bia hậu thần, ghi danh những người cúng tiền sửa chữa đình và chùa ở Đông Am xưa, cùng một ngôi mộ tháp được xây dựng cách ngày nay vài chục năm. Ngoài ra, còn các đồ thờ tự khác như: nhang án, ống hương, lọ độc bình… đểu do người dân địa phương tiến cúng.

Hiện nay trong khuôn viên chùa có những ngôi tháp cổ hơn 400 năm tuổi của chư vị thiền sư trụ trì với các đồ thờ tự, linh vật cổ từ ngày sơ khai. Bức đại tự có chữ “Vạn Đức Viên Chương”. Đôi câu đối chữ nho bên tả ghi: “Chiếu khởi am tự Trần chiều sung bái quy y điền môn phúc“, bên hữu ghi “Cao chung linh huyền Thanh sử kính tôn tín ngưỡng vượng quần sinh“.

Xếp hạng

Chùa Thanh Sử là một trong những công trình tâm linh của Phật giáo Đại thừa tại đồng bằng duyên hải Bắc bộ. Chốn thiền môn thanh tịnh này sẽ là điểm đến tu tập, trưởng dưỡng đạo đức và trí tuệ cho người dân nơi đây; nơi lưu giữ những giá trị tâm linh, văn hóa truyền thống của Phật giáo và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

Với những đóng góp về văn hóa, lịch sử, chùa được UBND Thành phố Hải Phòng công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Thành phố ngày 24/10/2005.

Tài liệu tham khảo 

  1. Theo Phật sự online, Chùa Thanh Sử – Ngôi cổ tự lưu giữ nét văn hóa của người dân vùng đồng bằng Bắc Bộ, 10/02/2021.
  2. Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng, 2017, tr 21-23.

___________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and Geographical Location

From Vinh Bao Town, heading about 10 km south on National Road 17B lies Tam Cuong Commune, home to an ancient pagoda embodying the culture of the Red River Delta.

Thanh Su Pagoda (abbrev. Chua Su) stands in Dong Am Hamlet, Tam Cuong Commune, Vinh Bao District, Hai Phong City—a land famed for scholastic traditions and eminent scholars, notably Trang Trinh Nguyen Binh Khiem.

History and Architecture

According to its stone stele, Thanh Su Pagoda dates to the 14th century. The name Thanh Su (“Pure Censor/Record”) memorializes a Royal Censor of the Mac dynasty who donated his entire fortune for the construction of the temple; it also alludes to the donor’s pure-hearted devotion.

The precinct covers 10,000 m² and preserves a venerable architectural setting, with multiple restorations:

  • In the 1970s, Abbot Thich Quang Huy restored the pagoda; later the Most Venerable Thich Nguyen Sinh repaired it again. After 2007, upon his passing, Thich Tuc Huy succeeded as abbot.

  • In 2010, Thich Ban Giao was appointed abbot by the Hai Phong VBS. Authorities and villagers undertook a major renovation of the Main Hall, Patriarchs’ Hall, Mother Goddess Hall, Avalokitesvara Hall, stone bridge, and the outer landscape.

Today the grounds comprise a triple gate (tam quan), Patriarchs’ hall, guest hall, stupa garden, ponds, etc., on a broad, airy site.

The overall plan is gong-shaped (“Cong”, 工), seated southwest–northeast, facing toward the Shrine of Trang Trinh Nguyen Binh Khiem. The central axis holds the Triple Gem (Tam Bao) Hall; to the right is the Patriarchs’ Hall and to the left the Mother Goddess Hall, a hallmark of many ancient northern pagodas.

The triple gate is a two-tier, eight-eaved chong diem structure, its façade bearing the raised characters “Thanh Su Tu.”

The Tam Bao Hall (≈ 500 m²) follows a “Dinh” (丁) plan: a five-bay Front Hall with three-bay Rear Sanctuary plus two side annexes (di) extending 21 m. Brick walls support dragon-headed curved eaves and decorative bestiary in Ly–Tran style; the gable walls step back in tripartite “dau tru” fashion; the ridge carries dragons flanking a sun disc. The five-bay Front Hall is entirely ironwood; stone dragon balustrades flank the main steps. The timber frame is smoothly planed with minimal ornament.

All major interiors and doors are ironwood in a calm, solemn palette. The Patriarchs’ complex has a “Nhi” (二) plan: five-bay Front Hall and five-bay Rear Sanctuary (≈ 300 m²).

Artifacts

As a Mahayana sanctuary, the iconographic program is carefully ordered:

  • Row 1 (highest): Three Buddhas (Tam The) — eternal presence across past, present, future.
  • Row 2: Amitabha Triad (Di Da Tam Ton) — Amitabha, flanked by Avalokitesvara and Mahasthamaprapta.
  • Row 3: Avalokitesvara Seated on a Mountain (Quan Am Toa Son) — single image.
  • Row 4: Thousand-Armed Thousand-Eyed Avalokitesvara in the center, flanked by Avalokitesvara Bestowing Children.
  • Row 5: Maitreya (Di Lac) at center; the lowest tier features the Nine-Dragons Platform (Cuu Long) with Infant Shakyamuni.

    The Maitreya statue (h. 1.2 m) is especially notable: seated with left leg folded, right leg pendant, left hand holding a wish-fulfilling jewel, right hand on thigh, torso bare, jovial visage — stylistically Restored Le (18th c.).

In the Front Hall, before the Buddha altar, stand Khuyen Thien (Encouraging Good) and Trung Ac (Punishing Evil); to the right is the Ten Heavenly Kings altar (ten near-identical figures wearing binh thien hats and holding tablets) — introduced in recent times; to the left are the Duc Ong altar and Samantabhadra.

In the Patriarchs’ Hall there is a nine-image altar, including a distinctive Patriarch statue (h. 1.25 m), dark brown-black finish, cross-legged with hands on thighs, in a long dark robe — 18th century.

Other relics include a bronze bell (h. 1.4 m, Ø 0.60 m), dated Minh Mang 17 (Nguyen), inscribed with five large characters “Thanh Su Chung Linh Tu”; two steles (Late Le and Nguyen), donor registers for repairs to Dong Am communal and temple sites; a stupa erected several decades ago; and additional ritual furnishings (altar tables, incense tubes, vases) donated by locals.

The grounds also preserve ancient stupas over 400 years old of successive abbots, early ritual objects, and a large plaque reading “Van Duc Vien Chuong.” Flanking couplets (Classical Chinese) read:

  • Left: “Illumined, the hermitage-temple since Tran times, honored in devotion; blessings return to the farmers’ gates.”
  • Right: “The great bell resounds in numinous mystery; Thanh Su revered — faith flourishes among the people.”

Classification

A major Mahayana spiritual site of the Northern Coastal Delta, Thanh Su Pagoda is a place of cultivation and moral–intellectual growth, preserving the spiritual heritage of Vietnamese Buddhism.

Recognized as a City-level Historical and Cultural Site by Hai Phong People’s Committee on October 24, 2005.

References

  • Phat su Online, “Thanh Su Pagoda – An ancient temple preserving Red River Delta culture,” 10 Feb 2021.
  • Ancient Pagodas of Hai Phong, Vol. 2, Hai Phong Publishing House, 2017, pp. 21–23.

2. Français

Nom et localisation géographique

À 10 km au sud de la ville de Vinh Bao par la RN 17B se trouve la commune de Tam Cuong, où s’élève une ancienne pagode reflétant la culture du delta du Fleuve Rouge.

La pagode Thanh Su (dite Chua Su) est située au hameau de Dong Am, commune de Tam Cuong, district de Vinh Bao, ville de Hai Phong, région réputée pour sa tradition lettrée, notamment Trang Trinh Nguyen Binh Khiem.

Histoire et architecture

D’après sa stèle, la pagode remonte au XIVe siècle. Le nom Thanh Su (« Censeur/Annales pures ») rend hommage à un Ngü Su (Censeur royal) de l’époque Mac qui fit don de tous ses biens à la communauté pour ériger le temple, et suggère la pureté d’intention du bienfaiteur.

Le domaine couvre 10 000 m² et a connu plusieurs campagnes de restauration :

  • Années 1970 : restauration par le Vén. Thich Quang Huy, puis travaux sous le Très Vén. Thich Nguyen Sinh ; après 2007, Thich Tuc Huy devient abbé.
  • 2010 : Thich Ban Giao est nommé abbé par l’Eglise bouddhique de Hai Phong ; grande restauration du chánh điện, maison des Patriarches, sanctuaire de la Mère, pavillon de Guanyin, pont de pierre et aménagements paysagers.

Le plan général est en « Cong » (工), orienté sud-ouest / nord-est, faisant face au sanctuaire de Trang Trinh Nguyen Binh Khiem. L’axe central porte la salle du Triple Joyau (Tam Bao) ; à droite la maison des Patriarches, à gauche le sanctuaire de la Mère — configuration typique des pagodes anciennes du Nord.

Le portail à trois baies est une structure à deux niveaux, huit toits recourbés, avec l’inscription en relief « Thanh Su Tu ».

La salle Tam Bao (≈ 500 m²) suit un plan en « Dinh » (丁) : cinq travées en façade, trois en sanctuaire arrière et deux annexes (di) sur 21 m. Murs de brique, toitures à cornes de dragon, bestiaire décoratif Ly–Tran ; pignons à recul en trois degrés ; faîte orné de dragons affrontés au disque solaire. Les cinq travées sont en bois de fer ; les rampes en dragons de pierre encadrent l’escalier. Charpente polie, presque sans décor.

L’ensemble des huisseries est en bois de fer, sobre et solennel. Le bâtiment des Patriarches adopte un plan en « Nhi » (二) : cinq travées avant et cinq arrière (≈ 300 m²).

Objets et reliques

Programme iconographique (Mahayana) :

  • Rang 1 : Triade des Trois Bouddhas (Tam The).
  • Rang 2 : Triade d’Amitabha (Di Da Tam Ton) — Amitabha, Avalokiteśvara et Mahāsthāmaprāpta.
  • Rang 3 : Avalokiteśvara assis sur la montagne (Quan Am Toa Son).
  • Rang 4 : Avalokiteśvara aux Mille Mains et Mille Yeux, flanquée de Guanyin dispensant des enfants.
  • Rang 5 : Maitreya (Di Lac) au centre ; au niveau inférieur, plateforme des Neuf Dragons avec le Bouddha nouveau-né.

    La statue de Maitreya (h. 1,2 m) — jambe gauche repliée, droite pendante, main gauche au joyau, torse nu, visage rieur — relève du XVIIIe siècle (Le restaurés).

Dans le Tien Duong, devant l’autel du Bouddha : Khuyen Thien et Trung Ac ; à droite, l’autel des Dix Rois célestes (dix statues semblables, bonnet binh thien, tablette en main) — ajout récent ; à gauche, autels de Duc Ong et de Samantabhadra.

La maison des Patriarches comprend un autel de neuf statues, dont un Patriarche (h. 1,25 m), patine brun-noir, assis en tailleur, manteau sombre — XVIIIe s.

Objets divers : cloche en bronze (h. 1,4 m, Ø 0,60 m), datée Minh Mang 17 (Nguyen), portant « Thanh Su Chung Linh Tu » ; deux stèles (Fin des Le et Nguyen), registres de donateurs de Dong Am ; une stupa (quelques décennies) ; mobilier rituel.

Le site conserve aussi des stupas anciens (400+ ans) des abbés, ainsi qu’un grand panneau « Van Duc Vien Chuong » et des distiques en chinois classique.

Classement

Importante pagode du bouddhisme mahāyāna du Delta Nord, Thanh Su est un lieu de pratique et de formation éthique & spirituelle, dépositaire des valeurs bouddhiques vietnamiennes.

Classée site historique et culturel municipal le 24 octobre 2005 (Comité populaire de Hai Phong).

Références

  • Phat su Online, « Pagode Thanh Su – Un ancien temple conservant la culture du Delta », 10/02/2021.
  • Pagodes anciennes de Hai Phong, t. 2, Éd. Hai Phong, 2017, p. 21–23.

3. 中文(繁體)

名稱與地理位置

自永保鎮沿17B 國道南行約 10 公里至三強社,有一古剎承載北部平原民眾之文化底蘊。

清史寺(俗稱「史寺」)在東庵村,三強社,永保縣,海防市。此地素以崇文重教聞名,尤以狀呈阮秉謙(Nguyen Binh Khiem)為代表。

註:寺名「清史」緣於莫朝御史捐家資建寺之功,亦寓「清心正念」之義。

歷史與建築

據寺碑記載,寺創於十四世紀。寺域約 10,000 平方米,歷經多次修葺:

  • 1970 年代由住持 釋光輝修繕,後復由釋元生整修;2007 年圓寂後由釋續輝繼任。
  • 2010 年,釋本教受海防市佛教會任命為住持;官民合力大規模重修:正殿、祖堂、母堂、觀音殿、石橋與外部景觀等。

全區採**「工」字式佈局,坐西南向東北**,面朝狀呈阮秉謙祠。中軸為三寶殿,右為祖堂,左為母堂,為北方古寺之典型。

三門為重檐兩層、八脊飛檐之制,額題浮雕「清史寺」。

三寶殿(約 500 平方米)為「丁」字形:前殿五楹、後殿三楹並兩側廂房,通長 21 米。牆為紅磚砌,屋脊龍首翹角,飾李陳風格之靈獸紋;山牆作斗柱三級收分;正脊塑雙龍戲日。前殿五楹皆鐵力木構,主階兩側石龍欄盤曲而莊嚴;木構刨光素面,少雕飾。

堂內門窗皆鐵力木,色調沉穩清肅。祖堂為「二」字式:前殿五楹、後殿五楹(約 300 平方米)。

文物

為大乘叢林,佛像陳設有序:

  • 第一層:三世佛(過去、現在、未來)。
  • 第二層:阿彌陀三尊(中阿彌陀,左右為觀世音、大勢至)。
  • 第三層:觀音坐山(單尊)。
  • 第四層:千手千眼觀音居中,兩側為送子觀音。
  • 第五層:彌勒居中;最下層為九龍座與釋迦初生。

    其中彌勒像(高 1.2 米)尤為醒目:左跏右垂,左手持如意珠,右手按股,袒胸腹豐,笑容可掬,風格屬黎中興(十八世紀)。

前殿佛壇之前立勸善、懲惡二像;右側設十天王(十像同制,戴平天冠、執笏,近年迎入);左側為德翁壇與普賢壇。

祖堂另有九尊祖像,其中一尊(高 1.25 米)體量較大,通體棕黑,結跏趺坐、雙手按股、著深色長袍,十八世紀製。

其他文物:銅鐘一口(高 1.4 米,徑 0.60 米),阮朝明命十七年鑄,銘「清史鐘靈寺」五大字;兩方碑(後黎、阮朝),記東庵古寺廟修繕捐名;祖師塔一座(數十年前建);並有香案、香筒、甌瓶等供器,多為地方信眾所獻。

寺域尚存四百餘年古塔與早期供器、靈獸;大額書**「萬德圓彰」**。楹聯:

  • 左聯:「照啟菴寺,陳朝崇拜,歸依田門福。」
  • 右聯:「高鐘靈玄,清史敬尊,信仰旺群生。」

等級與認定

清史寺為大乘佛教重鎮,為地方修學涵養德慧之所,承載越南佛教與民族文化之精神資產。

2005 年 10 月 24 日獲海防市人民委員會核定為市級歷史文化遺跡。

參考資料

  • 《佛事線上》,〈清史寺——北部平原文化古剎〉,2021-02-10。
  • 《海防古寺》,第二冊,海防出版社,2017 年,21–23 頁。
5/5 (6 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin
Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)