Đền Sóc (Sóc Sơn, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Nằm cách không xa thủ đô Hà Nội, chừng 40km về phía Tây Bắc là vùng núi Sóc Sơn, nơi gắn với truyền thuyết anh hùng Thánh Gióng bay về trời sau khi đánh thắng giặc Ân. Giữa một vùng rừng núi bao la, bốn mùa cây cối xanh tươi ấy, đền Sóc nổi bật với vẻ đẹp vừa cổ kính, thâm nghiêm vừa thơ mộng. Quần thể di tích đền Sóc trải từ chân núi lên đỉnh núi Vệ Linh, thuộc địa phận thôn Vệ Linh, xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.

Lịch sử và nhân vật

Người xưa có câu thơ về đền Sóc và Thánh Gióng:

Sóc Sơn là ngọn núi nào
Có ông Thánh Gióng bay vào trời xanh.

Theo đó, Thánh Gióng còn được tôn vinh là Phù Đổng Thiên Vương, Xung Thiên Thần Vương, là một trong bốn vị thánh bất tử (Tứ bất tử: Tản Viên Sơn ThánhPhù Đổng Thiên vươngChử Đồng Tử và Công chúa Liễu Hạnh) trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Núi Sóc là điểm cuối của cuộc hành trình tại trần thế, nơi Gióng ngắm nhìn đất nước lần cuối, để lại áo rồi phi ngựa bay về trời.

Áo Gióng vắt lên cây gỗ trầm, sau thành tên cây “Cởi áo”(1).

Theo truyền thuyết, Vua Hùng đã cho lập đền thờ Thánh Gióng ngay sau khi dẹp xong giặc. Đến cuối đời Đinh, đầu đời Lê, giặc Tống sang xâm lược nước ta, Lê Hoàn (Lê Đại Hành) cùng các tướng sĩ trên đường hành quân chống giặc, đi qua núi Vệ Linh, nghe nói có ngôi miếu thờ Đổng Thiên Vương rất thiêng, vua tôi vào làm lễ cầu xin ngài phù hộ. 

Ngày hôm sau, đánh đến đâu, giặc tan đến đó. Biết rằng lời cầu nguyện tại miếu đã linh ứng, đánh giặc xong, vua tôi về lễ tạ. Vua sai người lấy gốc cây trầm hương làm cốt để đắp tượng ngài và cho xây khu đền như ngày nay. Đồng thời phong thêm hai chữ cho ngài là “Phù” và “Thiên”, tên của ngài được thờ tại đền Sóc là “Phù Đổng Thiên Thiên Vương”. Ngài được thờ hai bát hương: Bát hương đá thời Hùng Vương thứ sáu và bát hương đồng thời Lê. 

Bài viết Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc cho biết:

Qua các nguồn tư liệu, đặc biệt là văn bia niên hiệu Dương Đức (1672) đã đoán định đền được dựng khoảng thời Lê trước năm 1672.(2)

Kiến trúc cảnh quan

Khu di tích lịch sử đền Sóc đã được xây dựng hơn 1.000 năm, trải qua nhiều biến thiên của lịch sử và thời gian, nhiều lần trùng tu, đền vẫn giữ được kiến trúc nghệ thuật độc đáo, cùng nhiều cổ vật có giá trị.

Hiện nay, Khu di tích Đền Sóc bao các hạng mục: Nghi môn, đền Hạ, đền Thượng, chùa Đại Bi, đền Mẫu, nhà khách, khu phụ, chùa Non, nhà bia.

Nghi môn: xây gạch kiểu tứ trụ, hai trụ lớn đỉnh trụ đắp nổi hình bốn chim phượng, đuôi chụm vào nhau, tạo thành hình trái giành cách điệu, bên dưới là các ô lồng đèn, đắp nổi đề tài “tứ linh”, “tứ quý”, thân trụ đắp nổi các câu đối chữ Hán.

Đền Hạ (đền Trình): tọa lạc trên một khu đất cao, dưới chân núi Vệ Linh, tương truyền đền được dựng để thờ thần linh thổ địa nơi Thánh Gióng dừng chân khi dẹp xong giặc Ân, trước khi bay về trời. Đền có kết cấu kiểu chữ “Nhị”, nằm ở bên trái lối đi vào di tích gồm Đại bái và Hậu cung.

  • Đại bái: hướng Nam, gồm 05 gian, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, trang trí hàng hoa chanh, hai đốc mái đắp trụ diêm. Phía trước mở cửa bức bàn kiểu thượng song hạ bản. Trang trí trên kiến trúc tập trung ở các bức cốn nách, đầu bẩy, con rường với các hoạ tiết hình rồng lá, văn mây, hoa lá, kỹ thuật chạm nổi.
  • Hậu cung: xây trên nền cao hơn nền Đại bái 25cm, xung quanh nền bó vỉa gạch, gồm 03 gian chạy ngang, nối với nhà đại bái bằng một khoảng sân nhỏ lát gạch đất nung, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, phía dưới trang trí hàng hoa chanh chạy suốt nóc mái.

Đền Thượng: nằm trên một khu đất cao tựa lưng vào núi Vệ Linh, phía trước có hồ nước, gồm: Nghi môn, Tiền tế, Trung cung và Hậu cung.

  • Nghi môn: kiểu tứ trụ, đỉnh trụ đắp nổi hình bốn chim phượng, đuôi chụm vào nhau, đầu quay bốn hướng tạo thành hình trái giành cách điệu, các ô lồng đèn bên dưới trang trí “tứ linh”; “tứ quý”, thân trụ đắp nổi các câu đối chữ Hán.
  • Tiền tế: 05 gian 02 chái, bộ khung gỗ gồm 6 thức vì kiểu chồng rường, giá chiêng hạ kẻ. Trang trí tập trung ở các bức cốn nách với nghệ thuật chạm nổi rồng chầu, vân mây, lá lật, văn dấu hỏi, chữ triện, phượng hàm thư, văn hình học, mang phong cách nghệ thuật cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Gian giữa đặt một hương án và các đồ thờ tự, hai gian bên đặt ngựa thờ và tượng quan Hoàng.
  • Trung cung: gồm 02 gian dọc, mái lợp ngói mũi hài, mặt bằng bốn hàng chân, các cột gỗ tạo tròn kiểu thượng thu – hạ thách, đặt trên các chân tảng đá xanh. Các bộ vì kiểu chồng rường giá chiêng, hai bộ vì hồi kiểu Vì cốn ván bưng kín. Trang trí tập trung ở các thanh rường chạm nổi hình lá lật, vân mây.
  • Hậu cung:  03 gian, 02 dĩ, xây tường bao, dạng bốn mái, lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh. Các bộ vì kết cấu chồng rường giá chiêng hạ kẻ không trang trí. Nền nhà lát gạch Bát Tràng. Phía trên các gian đều treo những bức cửa võng trang trí rồng chầu mặt trời, chim trĩ, hoa dây.

Đền Mẫu: hướng Nam, kiến trúc chính kiểu chữ Nhị, gồm Tiền tế và Hậu cung. Tiền tế 03 gian, trên nền cao hơn mặt sân 45cm, tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, phía trước xây hai trụ biểu kiểu trụ lồng đèn, đỉnh trụ đắp nổi hình trái giành, phần lồng đèn có trang trí hoa văn. Các bộ vì kèo gỗ kiểu giá chiêng chồng rường trụ chống tiền kẻ hậu bẩy, nối liền với hậu cung. Tiền tế nối với Hậu cung bằng hệ thống máng lớn, đặt trên bẩy nối liền giữa các cột cái. Hậu cung 01 gian 02 dĩ, tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta, bốn bộ vì kèo gỗ kiểu giá chiêng trụ chống, các gian được nối với nhau bằng hệ thống xà đai.

Chùa Đại Bi: nằm trên một khu đất cao, dưới chân núi Vệ Linh, tương truyền chùa được xây dựng trên mảnh đất nơi Thánh Gióng đã dừng chân, trước khi bay về trời. Chùa có kết cấu kiểu chữ “Đinh” gồm: Tiền đường và Thượng điện.

  • Tiền đường: hướng Nam, trên nền cao hơn mặt sân 30cm, xung quanh bó vỉa gạch, gồm 05 gian, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, trang trí hàng hoa chanh, hai đốc mái đắp trụ diêm. Trang trí trên kiến trúc tập trung vào các bức cốn nách, đầu bẩy, con rường với đề tài hình rồng, hoa lá, vân mây.
  • Thượng điện: 02 gian, chạy dọc về phía sau nối hồi với gian giữa tiền đường, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh dưới trang trí hàng hoa chanh chạy suốt nóc mái. Mặt bằng bốn hàng chân, cột gỗ tròn kiểu thượng thu – hạ thách. Các bộ vì đỡ mái kết cấu kiểu chồng rường – hạ kẻ.

Nhà bia: nằm trên núi nhỏ (núi Bia), xây bằng gạch, kiểu phương đình bốn mái. Một tấm bia đá xanh tám mặt cao 2,5m đặt ở chính giữa nhà bia, đồng thời có chức năng chống đỡ phần mái của nhà.   

Chùa Non: toạ lạc hướng Nam trên sườn núi ở phía Tây Bắc khu đền Sóc, có quy mô kiến trúc khá bề thế, mặt bằng kiến trúc kiểu chữ Đinh, gồm: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà khách.

Hiện vật

Tượng đài Thánh Gióng nhìn từ dưới chân núi Vệ Linh sừng sững và hiên ngang tọa lạc trên đỉnh núi Đá Chồng với kích thước khổng lồ: chiều cao 11,07m, độ vươn ra 16m, nặng 85 tấn.

Tại chùa Non Nước có tượng Phật Tổ đúc bằng đồng cao 6,5m, nặng 30 tấn, là pho tượng đại Phật liền khối lớn nhất Đông Nam Á.

Sự kiện và lễ hội 

Người núi Sóc nhớ ơn thánh, mở hội ba ngày, từ mồng 6 đến mồng 8 tháng Giêng, trong đó ngày bẩy tháng Giêng là chính hội.

Tháng giêng giỗ thánh Sóc Sơn,
Tháng ba giỗ tổ Hùng Vương nhớ về!

Ngoài ra, hội Gióng còn được tổ chức ở nhiều nơi: đền Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội), Hội Gióng Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Tây), Hội Gióng Xuân Đỉnh (Từ Liêm, Hà Nội),…

Xếp hạng

Năm 1962, Quần thể di tích đền Sóc được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia.

Đến ngày 31/12/2014, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định công nhận Quần thể di tích đền Sóc là Di tích Quốc gia đặc biệt.

Năm 2010, Lễ hội Gióng ở Đền Sóc còn được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Chú thích

[1] PGS Lê Trung Vũ, Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội, 2001, tr 567.
[2] Bài viết Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền Sóc, Website Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch – Cục di sản Văn hoá, xem ngày 18/11/2024.

Tham khảo

  1. PGS Lê Trung Vũ (2001), Lễ hội Thăng Long, Nxb Hà Nội. 
  2. GS Vũ Ngọc Khánh (2007), Đền miếu Việt Nam, Nxb Thanh Niên. 
  3. Văn Quảng (2009), Văn hóa tâm linh Thăng Long – Hà Nội, Nxb Lao Động.
  4. Giang Quân, Phan Tất Liêm (2004), Dấu tích Kinh Thành, Nxb Hà Nội.

__________________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and Location

Roughly 40 kilometers northwest of Hanoi lies the mountainous region of Soc Son, associated with the legend of the national hero Saint Giong ascending to heaven after defeating the An invaders. Amid vast forests green all year, Soc Temple stands out—at once ancient, solemn, and poetic. The temple complex extends from the foot to the summit of Ve Linh Mountain, within Ve Linh Hamlet, Phu Linh Commune, Soc Son District, Hanoi.

History and Personage

An old verse remembers Soc Son and Saint Giong:

Soc Son—what mountain is this,

Where Saint Giong soared into the blue sky.

Saint Giong—venerated as Phu Dong Thien Vuong and Xung Thien Than Vuong—is one of the Four Immortal Deities (Tu Bat Tu: Tan Vien Son Thanh, Phu Dong Thien Vuong, Chu Dong Tu, Princess Lieu Hanh) in Vietnamese folk belief. Mount Soc is the final station of his earthly journey—where Giong gazed upon the realm one last time, left his robe, and rode into the heavens.

His robe was said to be hung on an agarwood tree, later called the “Coi Ao” tree.

According to legend, King Hung established a temple for Saint Giong immediately after the victory. In the late Dinh and early Le periods, during the Song invasion, King Le Hoan (Le Dai Hanh) and his generals, on campaign, passed Ve Linh and heard of a sacred shrine to Dong Thien Vuong; they entered to pray for protection. The next day, they won wherever they fought. After the triumph, the king returned to give thanks, ordered the saint’s statue core carved from agarwood root, and built the temple complex. He further conferred two honorifics—“Phu” and “Thien”—so the full cult title became Phu Dong Thien Thien Vuong. Two incense burners are venerated: a stone burner from the Sixth Hung King and a bronze burner from the Le dynasty.

Inscriptional sources—especially a stele dated to the Duong Duc era (1672)—indicate the temple was likely established during the Le period before 1672.

Architecture and Landscape

The Soc Temple Historic Complex has existed for over a millennium. Despite historical upheavals and multiple restorations, it preserves distinctive architectural artistry and valuable antiquities. The complex comprises: Gate (Nghi Mon), Lower Temple (Den Ha), Upper Temple (Den Thuong), Dai Bi Pagoda, Mother Temple (Den Mau), guesthouse, auxiliary zone, Non Pagoda, and Stele Pavilion.

  • Gate (Nghi Mon): brick, four-post (tu tru) form; finials sculpted as four phoenixes with converging tails; lantern panels below with Four Sacred Animals and Four Seasons motifs; shafts bear raised Han-script couplets.

  • Lower Temple (Den Ha / Den Trinh): on elevated ground at the foot of Ve Linh; traditionally venerates the local earth deities where Saint Giong paused before ascending. Plan in double “II” (Nhi) layout, comprising Great Hall (Dai Bai) and Sanctum (Hau Cung).

    • Great Hall: south-facing; five bays; gable-end solid walls with “armrest” shoulders; clay tiles; ridge in “nail” style; friezes of citrus-flower beads; timber members carved in relief with leaf-dragons, cloud scrolls, and floral motifs.

    • Sanctum: raised 25 cm above the Great Hall; three lateral bays; clay-tile roof; continuous citrus-bead frieze beneath the ridge.

  • Upper Temple (Den Thuong): on higher ground backing Ve Linh; a pond in front; includes Gate, Front Hall (Tien Te), Middle Hall (Trung Cung), Rear Sanctum (Hau Cung).

    • Front Hall: five bays, two lean-tos; six trusses with stacked purlins (chong ruong) and jia-cheng framing; rich reliefs on spandrels—dragons adoring the sun, cloud scrolls, leaf-scrolls, meanders, seal script, phoenix-with-scroll, and geometric patterns (late 19th–early 20th century style). Central bay holds an altar table and cult objects; side bays house votive horses and the statue of Quan Hoang.

    • Middle Hall: two longitudinal bays; “shoe-nose” tiles; four-post layout; round timber columns (tapered top, flared base) on green-stone plinths; stacked-purlin trusses; end trusses are boarded. Carved cloud and leaf-scrolls on purlins.

    • Rear Sanctum: three bays, two side compartments; four-slope roof; clay tiles; stacked-purlin frames without decoration; Bat Trang floor tiles; above each bay hang pierced-and-gilded door-screens with dragons adoring the sun, pheasants, and vine-scrolls.

  • Mother Temple (Den Mau): south-facing; principal block in double “II” layout with Front Hall and Sanctum. Front Hall (three bays) raised 45 cm; lantern-style posts with gourd finials; jia-cheng stacked-purlin frames; large gutters linking to the sanctum. Sanctum: one bay, two side cells; four timber frames tied by ring-beams.

  • Dai Bi Pagoda: at the foot of Ve Linh, on the site where Saint Giong is said to have paused; “Dinh” (T-shaped) plan: Front Hall and Upper Sanctuary.

    • Front Hall: south-facing; five bays; citrus-bead friezes; spandrels and brackets with dragon, floral, and cloud reliefs.

    • Upper Sanctuary: two longitudinal bays; stacked-purlin frames; “nail”-type ridge with citrus-bead frieze.

  • Stele Pavilion: on Bia Hill; four-roofed phuong dinh in brick; an octagonal green-stone stele (H = 2.5 m) stands centrally and structurally supports the roof.

  • Non Pagoda: south-facing on the north-western slope; substantial “Dinh”-plan ensemble with Triple Gate, Front Hall, Upper Sanctuary, and guesthouse.

Collections and Monuments

  • Saint Giong Monument atop Da Chong peak on Ve Linh: H = 11.07 m, forward reach 16 m, weight 85 tons.
  • Great Bronze Buddha at Non Nuoc Pagoda: H = 6.5 m, weight 30 tons—one of Southeast Asia’s largest single-cast Buddha images.

Festivals and Recognition

The Soc Festival runs three days annually—from the 6th to 8th day of the First Lunar Month, with the 7th as the main day.

A first-month rite for the Saint of Soc Son;

A third-month rite for the Ancestors of Hung Kings we recall.

Other Giong Festivals are held at Phu Dong Temple (Gia Lam, Hanoi), Bo Dau (Thuong Tin, Ha Tay), and Xuan Dinh (Tu Liem, Hanoi).

  • 1962: Soc Temple Complex inscribed as a National Historic–Cultural Site (Viet Nam).

  • 31 December 2014: recognized as a Special National Site by the Prime Minister.

  • 2010: the Giong Festival at Soc Temple inscribed by UNESCO on the Representative List of the Intangible Cultural Heritage of Humanity.


2. Francais

Dénomination et situation

À quelque 40 km au nord-ouest de Hanoï, la région montagneuse de Soc Son est liée à la légende du héros national Saint Giong s’élevant au ciel après avoir vaincu les envahisseurs Ân. Au cœur d’une nature verdoyante toute l’année, le temple de Soc allie ancienneté, solennité et poésie. L’ensemble monumental s’étire du pied au sommet du mont Ve Linh, situé au hameau Ve Linh, commune de Phu Linh, district de Soc Son, Hanoï.

Histoire et personnage

Un ancien quatrain évoque le site et le saint :

Soc Son, quel est ce mont,

Où Saint Giong s’élança vers le ciel bleu.

Saint Giong, honoré sous les titres Phu Dong Thien Vuong et Xung Thien Than Vuong, appartient aux Quatre Divinités immortelles (Tu Bat Tu : Tan Vien Son Thanh, Phu Dong Thien Vuong, Chu Dong Tu, Princesse Lieu Hanh) du panthéon populaire. Le mont Soc marque l’ultime halte terrestre du saint, qui contempla le pays, déposa sa robe et s’éleva vers le ciel. Sa robe, suspendue à un tronc de bois d’agar, donna son nom à l’« arbre Coi Ao ».

La tradition rapporte que le roi Hung érigea un temple aussitôt après la victoire. À la fin des Dinh et au début des Le, lors de l’invasion des Song, le roi Le Hoan (Le Dai Hanh) et ses généraux, en campagne, apprirent l’existence d’un sanctuaire très vénéré dédié à Dong Thien Vuong à Ve Linh ; ils y prièrent pour la protection divine. Le lendemain, la victoire fut totale. Le roi revint alors rendre grâce, fit sculpter le noyau de la statue dans une racine d’agarwood, et ordonna la construction du complexe tel qu’il subsiste. Il conféra au saint deux épithètes supplémentaires, « Phu » (Protecteur) et « Thien » (Céleste), d’où le titre cultuel Phu Dong Thien Thien Vuong. Deux brûle-parfums sont conservés : l’un en pierre de l’époque du sixième roi Hung, l’autre en bronze de la dynastie des Le.

Les sources épigraphiques—en particulier une stèle de l’ère Duong Duc (1672)—indiquent une fondation antérieure à 1672, sous les Le.

Architecture et paysage

Édifié il y a plus de mille ans, le complexe du temple de Soc a connu maintes restaurations tout en préservant une esthétique singulière et de précieux objets. Il comprend : Nghi Mon (porte), temple inférieur (Den Ha), temple supérieur (Den Thuong), pagode Dai Bi, temple de la Mère (Den Mau), maison d’hôtes, annexes, pagode Non, pavillon des stèles.

  • Nghi Mon : porte en brique à quatre piliers (tu tru) ; pinacles sculptés de quatre phénix aux queues convergentes ; panneaux-lanternes ornés des Quatre Animaux sacrés et des Quatre Saisons ; colonnes portant des distiques en caractères Han.

  • Temple inférieur (Den Ha / Den Trinh) : sur terrasse au pied de Ve Linh, dédié aux génies du lieu où Saint Giong s’arrêta avant son ascension ; plan en double « II » (Nhi) avec Grand Hall (Dai Bai) et Sanctuaire (Hau Cung).

    • Grand Hall : cinq travées, murs pignons pleins, tuiles en terre, frises « fleurs d’agrume », reliefs de dragons-feuilles, nuées, rinceaux.

    • Sanctuaire : trois travées latérales, 25 cm plus haut, tuiles en terre, frise continue de perles d’agrume.

  • Temple supérieur (Den Thuong) : adossé à Ve Linh, avec étang d’agrément ; comprend porte, salle antérieure (Tien Te), salle médiane (Trung Cung), sanctuaire arrière (Hau Cung).

    • Salle antérieure : cinq travées, deux appentis ; six fermes à pannes empilées et système jia-cheng ; riche décor (dragons adorant le disque solaire, nuées, feuillages, méandres, caractères sigillaires, phénix au rouleau, motifs géométriques), fin XIXe–début XXe s.

    • Salle médiane : deux travées longitudinales, tuiles « nez de chaussure », colonnes de bois rondes sur bases en pierre verte, fermes empilées, trumeaux latéraux fermés.

    • Sanctuaire arrière : trois travées, deux cellules ; toit à quatre versants, tuiles en terre ; fermes empilées non décorées ; carrelage Bat Trang ; au-dessus, panneaux ajourés dorés (dragons adorant le soleil, faisans, rinceaux).

  • Temple de la Mère (Den Mau) : face au sud, double « II » avec salle antérieure (trois travées, +45 cm) et sanctuaire ; colonnes-lanternes à pinacles en gourde, charpente jia-cheng à pannes empilées, chéneaux monumentaux reliant les nefs.

  • Pagode Dai Bi : au pied de Ve Linh, sur le lieu où Saint Giong se serait arrêté ; plan en « Dinh » (T) avec salle antérieure (cinq travées, riches reliefs) et sanctuaire supérieur (deux travées longitudinales).

  • Pavillon des stèles : sur la colline Bia, pavillon à quatre toits ; une stèle octogonale en pierre verte (H = 2,5 m) au centre sert d’élément porteur.

  • Pagode Non : sur le versant nord-ouest, face au sud, plan « Dinh » d’ampleur avec triple porte, salle antérieure, sanctuaire supérieur, maison d’hôtes.

Collections et monuments

  • Monument de Saint Giong au sommet de Da Chong : H = 11,07 m, porte-à-faux 16 m, poids 85 t.

  • Grand Bouddha de bronze à la pagode Non Nuoc : H = 6,5 m, 30 t, l’une des plus grandes statues monolithes d’Asie du Sud-Est.

Fêtes et classements

La fête de Soc dure trois jours (du 6 au 8 du premier mois lunaire), le 7 étant jour solennel.

En premier mois, on honore le saint de Soc Son ;

En troisième mois, l’on commémore les rois Hung.

D’autres fêtes de Giong ont lieu au temple de Phu Dong (Gia Lam), à Bo Dau (Thuong Tin, Ha Tay) et à Xuan Dinh (Tu Liem, Hanoï).

  • 1962 : classement au patrimoine historique et culturel national.

  • 31 décembre 2014 : reconnaissance en Site national spécial par le Premier ministre.

  • 2010 : la Fête de Giong au temple de Soc inscrite par l’UNESCO sur la Liste représentative du patrimoine culturel immatériel de l’humanité.


3. 繁體中文

名稱與地理位置

距離河內約四十公里西北方之朔山,相傳為民族英雄聖容平殄殷寇後騎鐵馬昇天之地。群山蒼鬱、四時常青,其間之朔廟兼具古樸莊嚴與自然詩意。整體遺址自山麓綿延至衛靈山之巔,屬河內市朔山縣扶靈社衛靈村境內。

歷史與人物

古詩云:

「朔山何處峰,

有聖容飛上碧空。」

聖容尊稱扶董天王、又號沖天神王,為越南民間信仰「四不死神」(傘圓山聖、扶董天王、祝同子、琉幸公主)之一。朔山乃其人間最後駐足之所,臨風顧土、解衣留甲,策馬昇天。相傳其衣曾懸沉香木上,後人稱為「解衣樹」。

傳說雄王於告捷後即建廟祀之。至丁末黎初,宋兵犯境,黎桓(黎大行)率師經衛靈山,聞有奉董天王之靈祠,入廟祈佑;翌日所向皆克。王還禮謝,命以沉香根為骨塑像,營建今之殿宇,並加封「扶」「天」二字,尊號扶董天天王。廟內今存二香爐:其一為雄王六世之石香爐,其一為黎代之銅香爐。

據文獻與碑刻,尤以陽德 (1672)年款石碑為據,可推知本廟創建於黎朝,在1672年前已立。

建築與景觀

朔廟歷史建築群屹立逾千年,歷經滄桑修葺,仍保存獨特之建築藝術與珍貴文物。現有:儀門(四柱門)、下殿(呈殿)、上殿、大悲寺、母廟、客舍、附屬區、嶙雲寺、碑亭。

  • 儀門:磚築四柱式,柱頂塑四鳳合尾之紋;柱間燈箱飾四靈、四季圖;柱身陰刻漢聯。

  • 下殿(呈殿):據傳為聖容昇天前駐足之地祀土境神;平面為**「二」字形**,含大拜殿與後殿。

    • 大拜殿:坐南向,五間制,牆作封火山牆,覆陶瓦,脊作「釘脊」,飾柑花珠;構件浮雕葉龍、雲紋、花卉。

    • 後殿:較大拜殿高25公分,三橫間,陶瓦覆頂,脊下連綿柑花珠帶。

  • 上殿:背倚衛靈山,前臨池水,含儀門、前殿、中殿、後殿。

    • 前殿:五間兩廂,六架重棟(疊梁)與架承;轉角雀替高浮雕:龍蟠日、雲氣、葉翻、回紋、篆書、鳳銜書、幾何紋(十九世紀末—二十世紀初風格)。

    • 中殿:縱向二間,「鞋頭瓦」覆頂,四柱式,圓木柱(上收下放)立於青石礎,上承重棟,山牆端架為板覆。檁、枋飾雲葉紋。

    • 後殿:三間兩次間,四坡頂,陶瓦覆;重棟下昂式,不施彩刻;鋪八𣎴磚;上掛鏤雕貼金棂扇(龍蟠日、雉、蔓草)。

  • 母廟:坐南,主體為**「二」字**,由前殿與後殿組成。前殿三間,高出庭地45公分,設燈籠式柱、葫蘆頂;架承重棟,以大型槽溝銜接後殿。後殿一間兩次間,四架木構以圈梁相連。

  • 大悲寺:位於衛靈山麓,相傳為聖容駐足之地;平面**「丁」字**,由前殿與上殿構成。

    • 前殿:坐南,五間,柑花珠帶飾;雀替、昂、棟樑浮雕龍、雲、花。

    • 上殿:後向二間,陶瓦覆,「釘脊」並飾柑花珠。

  • 碑亭:立於碑山,磚築方亭四頂;中央立八角青石碑(高2.5公尺),兼作承頂構件。

  • 嶙雲寺:在廟區西北坡向南而建,規模宏敞;「丁」字佈局,含三門、前殿、上殿、客舍。

文物與造像

  • 聖容銅像屹立打重峰之巔:高11.07 m,前伸16 m,重85 噸。
  • 單鑄大佛於嫩玉寺:高6.5 m,重30 噸,為東南亞最大整鑄佛像之一。

節慶與銜名

朔廟聖會每歲農曆正月初六至初八舉行,初七為正會。

俗諺云:

「正月祭朔山之聖,

三月憶雄王之祖。」

此外,容聖會亦見於富董廟、部頭、**春頂**等處。

  • 1962年:列為國家級歷史文化遺跡。

  • 2014年12月31日:升格為國家特別遺跡。

  • 2010年:朔廟容聖會入列 UNESCO「人類非物質文化遺產代表作名錄」。

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)