Tiểu sử
Hoàng đế Minh Mệnh hay Minh Mạng (明 命) tên huý là Nguyễn Phúc Đảm (Đởm) (阮 福 膽), tước hiệu Tăng Duệ Hoàng Thái tử, sinh ngày 20 tháng 1 năm Tân Hợi (1791), là con thứ tư của Thế tổ Cao hoàng đế và Thuận thiên Cao hoàng hậu Trần thị.
Sách Đại Nam Thực Lục chép:
Trước khi sinh vua, hoàng hậu nằm mơ thấy người thần dâng một cái ấn, sắc đỏ như mặt trời. Vua sinh ra thực ứng vào điềm ấy.(1)
Canh Thân, năm thứ 21 (1800), khi mới 9 tuổi, hoàng tử Phúc Đảm đã được vua cha đưa theo ra trận.
Vua thân đem thủy quân ra Vũng Tàu, cho hoàng tử thứ tư đi theo…(2)
Hoàng tử vốn thông minh, sáng dạ, lại được vua quan tâm, thường xuyên khuyên nhủ học hành nên ngày càng tiến bộ.
Hoàng tử thứ tư 15 tuổi, sẵn tính thông minh, vua thường khuyên học. Một hôm cưỡi thuyền thủ quyển của vua đi chơi xem sông Hương. Vua nghe tin giận. Hoàng tử thứ tư sợ hãi, kíp xin chịu tội. Vua gọi đến trước mặt, đánh mắng. Nguyễn Hoàng Đức và Lê Văn Duyệt cố sức xin không được. Sau đó triệu thị học trách về tội không can ngăn. Rồi sai Lễ bộ Đặng Đức Siêu khiêm sung phụ đạo. Lại sai Hàn lâm thị thư và thị trung cai đội đều hai người ngày ngày vào phủ để xem siêng năng hay trễ nải. Từ đó hoàng tử thứ tư học ngày càng tiến.(3)
Ông là vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn, trị vì từ năm 1820 đến khi qua đời. Minh Mệnh cũng là ông vua có nhiều con nhất trong 13 đời vua Nguyễn (142 người con, gồm 74 hoàng nam và 68 hoàng nữ).
Cai trị
Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh, con trai trưởng của vua Gia Long, mất sớm vào năm 1801. Do từng tiếp xúc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Thiên Chúa giáo Pháp, nên sau khi ông qua đời, vua Gia Long đã không lựa chọn cháu nội – tức con trai của hoàng tử Cảnh – làm người kế vị. Nguyên nhân chính là nhà vua lo ngại sự can thiệp từ phía Pháp vào triều chính thông qua ảnh hưởng tôn giáo.
Dù nhiều đại thần, đặc biệt là Nguyễn Văn Thành, từng lên tiếng phản đối, nhưng Gia Long vẫn quyết định trao quyền kế vị cho Nguyễn Phúc Đảm. Vị hoàng tử này vốn có lập trường chống lại Thiên Chúa giáo và không thiện cảm với người Pháp – một quan điểm tương đồng với nhà vua. Vào năm 1815, Nguyễn Phúc Đảm được phong làm Hoàng thái tử và chuyển đến sống tại điện Thanh Hòa để rèn luyện kỹ năng trị quốc.
Tháng 12 năm Kỷ Mão (đầu năm 1820), vua Gia Long qua đời. Tháng Giêng năm Canh Thìn (1820), Hoàng thái tử húy là Đỏm 膽 lên ngôi, đặt niên hiệu là Minh Mệnh 明 命, bấy giờ ông đã 30 tuổi. Trong thời gian trị vì, vua Minh Mạng tiến hành nhiều thay đổi toàn diện, bao gồm từ công tác nội trị, đối ngoại đến các cải cách xã hội, cũng như việc sắp xếp, điều chỉnh trong hoàng tộc.
Theo các học giả như Nguyễn Phan Quang, Đặng Việt Thủy và Đặng Thành Trung, việc Gia Long lựa chọn Nguyễn Phúc Đảm (tức Minh Mạng) làm người kế vị không chỉ xuất phát từ năng lực cá nhân, mà còn là vì ông kỳ vọng Minh Mạng sẽ thi hành chính sách hạn chế ảnh hưởng của Pháp. Khi còn sống, bản thân Gia Long từng nhận sự trợ giúp của người Pháp nên khó có thể công khai cắt đứt mối liên hệ ấy. Do đó, nhà vua đặt niềm tin vào người kế vị để thực hiện điều mà ông không thể làm khi còn tại vị.
Đối nội
Minh Mệnh được xem là một vị vua năng động, quyết đoán, tinh thông nho học, hiểu biết, coi trọng học vấn và là nhà chính trị, quân sự tài ba.
Tác giả Trần Trọng Kim cũng viết trong Việt Nam sử lược:
Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn, có tính hiếu học và lại hay làm, phàm có việc gì, ngài cũng xem xét đến và có chấu phê rồi mới được thi hành.(4)
- Quốc hiệu Đại Nam
Vua Minh Mạng từng gửi yêu cầu tới triều đình Mãn Thanh xin đổi quốc hiệu từ “Việt Nam” sang “Đại Nam”, hàm ý chỉ một quốc gia rộng lớn ở phương Nam. Mặc dù đề nghị này không được Mãn Thanh chính thức phê chuẩn, nhưng đến ngày 15 tháng 2 năm 1839, khi nhận thấy sức mạnh của triều đình phương Bắc đã suy giảm, Minh Mạng đã tuyên bố chính thức sử dụng quốc hiệu “Đại Nam”. Tên gọi này được duy trì cho đến năm 1945.
Theo Đại Nam thực lục, vào năm Mậu Tuất (1838, niên hiệu Minh Mạng thứ 19), Nguyễn Văn Lượng – Thự Ngự sử đạo Nam Ngãi – đã dâng sớ đề nghị đặt quốc hiệu. Việc này khiến Minh Mạng khiển trách và cách chức ông. Đến tháng 3 âm lịch, ngày Giáp Tuất, triều đình mới chính thức định quốc hiệu là “Đại Nam” (大南). Ý của Minh Mạng là muốn làm rõ rằng quốc hiệu “Việt Nam” do Gia Long đặt, vốn đầy đủ là “Đại Việt Nam” nhưng thường gọi tắt là “Đại Việt”, khác với các triều đại Đại Việt trước đây. Vì vậy, ông quyết định đổi thành “Đại Nam” để xác lập sự phân biệt rõ ràng.
- Quân sự
Hoàng đế Minh Mệnh đặc biệt chú trọng quân sự và quốc phòng, nhiều lần trực tiếp thị sát thao trường và đặt chế độ duyệt tuyển định kỳ. Ngay từ năm 1820, ông cải tổ quân đội thành các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh và pháo thủ binh; trong đó bộ binh là nòng cốt, gồm kinh binh (đóng tại kinh thành, tỉnh trọng yếu, chia thành bốn doanh: Thần Cơ, Tiền Phong, Long Vũ, Hổ Uy) và cơ binh (quân của các địa phương).
Minh Mệnh cũng tăng cường trang bị vũ khí, pháo lớn, voi, ngựa và thuyền chiến, đặc biệt bổ sung nhiều tàu biển bọc đồng như Phấn Bằng, Thụy Long, Linh Phượng… giúp thủy quân kiểm soát vùng biển và đảo xa. Ở các vị trí trọng yếu ven biển hoặc gần kinh đô, ông cho xây các pháo đài như Trấn Hải, Định Hải, Điện Hải và thường xuyên cử thuyền tuần tra Hoàng Sa, Trường Sa để bảo vệ chủ quyền.
- Kinh tế
Hoàng đế Minh Mệnh luôn quan tâm đời sống nhân dân, coi trọng phát triển kinh tế với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh”. Ông ban hành nhiều chính sách như khuyến khích khai hoang, lấn biển; đẩy mạnh thủy lợi, đào sông thoát lũ; hoàn thiện đê điều Bắc Bộ; đo đạc, lập địa bạ toàn quốc; cải cách chế độ thuế đinh, điền, muối, mỏ, sản vật, buôn bán và cảng biển; khai mở nhiều ngành sản xuất mới.
Trong 20 năm trị vì, nhiều vùng đất mới được khai khẩn như Tiền Hải (Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình); hoàn thành sông Vĩnh Tế, sông Cửu An; ruộng đất và dân số tăng. Nhiều máy móc phục vụ sản xuất và đời sống được chế tạo, đặc biệt năm 1839 đóng thành công tàu thủy hơi nước đầu tiên trong nước. Nhà vua còn lập nhà dưỡng tế, bãi bỏ hủ tục tiến thú rừng, kiểm soát giá lương thực, chống đầu cơ, giảm thuế, cứu trợ và cho vay lúa giống, góp phần ổn định nông nghiệp và đời sống dân sinh.
- Văn hóa giáo dục
Vua Minh Mệnh rất coi trọng học vấn và khoa cử, bản thân là một học giả sáng tác thơ văn, biên soạn sách, luôn khuyến khích quần thần đọc và biên tập sách vở, trọng dụng người tài. Năm 1820, ông ban chiếu sưu tầm sách cũ trong dân gian, khuyến khích nộp hoặc cho sao chép để lưu trữ, có thưởng cho người cung cấp. Nhờ đó, nhiều tác phẩm giá trị được dâng như Gia Định thông chí, Bản triều ngọc phả, Khai quốc công nghiệp diễn chí… Các năm sau, triều đình tiếp tục biên soạn nhiều bộ sử, điển chế lớn như Khâm định vạn niên thư, Lịch triều hiến chương loại chí, Liệt thánh thực lục, Hội điển toát yếu; lập Quốc sử quán, sửa tông miếu, thống nhất đo lường, y phục, đặt tên đường phố và hoàn thiện Hoàng thành.
Về giáo dục, năm 1821, ông cho xây Quốc tử giám, gồm Giảng đường, Di luân đường và khu ở cho tôn sinh, giám sinh; định lại các chức Tế tửu, Tư nghiệp.
Vua Thánh Tổ mới lên ngôi ngài đã lo việc làm sách vở, ngai đặt ra Quốc sử quán góp nhặt những chuyện làm quốc sử. Ngài lại lưu ý về việc tưởng lệ cho những người làm ra sách vở. Bởi vậy, ngài xuống chiếu: hệ ai tìm được sách vũ hay làm ra sách mới thì được ban thưởng.(5)
Cũng năm đó, mở ân khoa thi Hương đầu tiên dưới triều Minh Mệnh; năm sau mở khoa thi Tiến sĩ đầu tiên triều Nguyễn, đồng thời cải cách quy chế thi cử: 3 năm một khoa, đổi danh hiệu Hương cống thành Cử nhân, Sinh đồ thành Tú tài, bổ sung hạng Phó bảng. Dưới thời ông, triều đình tổ chức 6 khoa thi Tiến sĩ (1822, 1826, 1829, 1832, 1835, 1838), lấy đỗ 56 Tiến sĩ và 20 Phó bảng.
- Bộ máy chính trị
Ngay khi lên ngôi, Hoàng đế Minh Mệnh đã cải tổ và bổ sung nhiều cơ quan trong bộ máy hành chính: đổi Văn thư phòng thành Nội các; lập Cơ mật viện, Đô sát viện, Tôn nhân phủ; chỉnh đốn Lục Bộ, đặt thêm các Khoa; sắp xếp lại quan chế, phẩm trật, lương bổng; bổ sung chức danh và quy định viên ngạch cho từng đơn vị. Cuộc cải cách hành chính lớn nhất diễn ra năm 1831–1832, chia lại địa hạt cả nước, đổi các trấn, đạo thành tỉnh, lập bộ máy quan lại và quy tắc làm việc.
Nhà vua cũng đặt lại nghi thức thiết triều, quy định quy trình tấu việc, ban hành “Lục đầu bài”, định quy thức văn bản và chế độ châu bản. Ông đích thân duyệt hầu hết các văn kiện quan trọng, yêu cầu Lục Bộ trình cả những tấu sớ không phù hợp để tránh bỏ sót. Các chiếu chỉ ban bố phải được niêm yết công khai tại Phu Văn Lâu, đồng thời mở thêm trạm dịch để đẩy nhanh việc truyền đạt công văn.
Minh Mệnh được đánh giá là vị vua chuyên cần, năng động và sáng tạo, với cải cách được so sánh ngang tầm cải cách của Lê Thánh Tông năm 1471. Sử thần Trần Trọng Kim nhận xét: ông là vị vua thông minh, quả cảm, hết lòng lo việc nước, song quá nghiêm khắc, bảo thủ, thiếu khoan dung tôn giáo và đóng cửa với ngoại giao, khiến Đại Nam trở nên cô lập. Vì vậy, chính trị của ông vừa có điểm mạnh, vừa tồn tại hạn chế; khó gọi là “anh quân” hoàn toàn, nhưng cũng không thể xem là “bạo quân”.
Đối ngoại
Ngay khi đăng cơ, Hoàng đế Minh Mệnh đã tiến hành cải tổ sâu rộng bộ máy hành chính, bổ sung nhiều cơ quan mới so với các triều trước. Văn thư phòng được đổi thành Nội các để phụ trách công việc tham mưu; Nội đồ gia đổi thành Nội vụ phủ, Ngoại đồ gia đổi thành Vũ khố. Nhà vua còn thành lập Cơ mật viện, Đô sát viện, Tôn nhân phủ; kiện toàn Lục Bộ, lập thêm các Khoa; quy định lại hệ thống quan chế, phẩm trật, lương bổng; điều chỉnh cơ cấu hầu hết các cơ quan; đặt thêm chức vụ mới và ấn định số lượng quan lại ở từng đơn vị. Nổi bật nhất là cuộc cải cách hành chính quy mô lớn diễn ra trong các năm 1831–1832, khi ông chia lại địa hạt cả nước, đổi các trấn và đạo thành tỉnh, thiết lập bộ máy quan lại cùng quy tắc điều hành.
Về nghi lễ và chế độ làm việc, Minh Mệnh quy định lại nghi thức thiết triều ở điện Thái Hòa, đặt lệ tấu trình và chế độ “Lục đầu bài” cho các nha khi xin trình việc; quy định cách soạn, đệ trình và lưu giữ châu bản. Ông trực tiếp xét duyệt hầu hết các văn bản quan trọng và yêu cầu Lục Bộ báo cáo cả những tấu sớ không phù hợp để tránh bỏ sót hoặc che giấu thông tin. Các chiếu chỉ được ban bố công khai tại Phu Văn Lâu, đồng thời nhà vua cho lập thêm các trạm dịch ở kinh đô và các tỉnh để việc chuyển phát công văn được nhanh chóng.
Minh Mệnh được ghi nhận là vị hoàng đế chuyên cần, quyết đoán và sáng tạo, với những cải cách được giới sử học đánh giá có quy mô và hiệu quả ngang với cải cách của Lê Thánh Tông năm 1471. Sử thần Trần Trọng Kim nhận định, ông là vị vua thông minh, quả cảm, hết lòng lo cho quốc gia, nhưng quá nghiêm khắc, bảo thủ, thiếu khoan dung với tôn giáo và hạn chế ngoại giao, khiến đất nước rơi vào thế cô lập. Do đó, triều chính của ông vừa có nhiều ưu điểm nổi bật, vừa tồn tại những hạn chế rõ rệt; khó coi là bậc minh quân hoàn toàn, nhưng cũng không thể xếp vào hàng bạo chúa.
Qua đời
Tháng 12 năm Canh Tí (1840), ốm nặng, vua cho vời Hoàng tử, các thân công và cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế vào hầu. Vua dụ Trương Đăng Quế rằng: Hoàng tử Trường Khánh Công, lấy về ngôi thứ là hàng trưởng, lấy về đức, về tuổi, nên nối ngôi lớn. Ngươi nên hết lòng hết sức giúp rập, hễ việc gì chưa hợp lộ, ngươi nên dẫn lời nói của ta mà can gián. Xong, nói với Hoàng tử trưởng: Trương Đăng Quế thờ ta đến nay đã 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức của triều đình, ngươi nên đãi ngộ một các trọng hậu, hễ nói gì phải nghe, bày mưu kế gì phải theo…
Nói rồi vua mất, thọ 55 tuổi. Miến hiệu là Thánh Tổ.
Chú thích
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập hai, Nxb Giáo dục, 2006, tr 30.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập hai, sđd, tr 410.
- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, tập hai, sđd, tr 626.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, quyển Hạ, Nhà in Bắc Thành, 1928, tr 166.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, quyển Hạ, sđd, tr 176.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Lê Quý Đôn (1993), Đại Việt thông sử, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.











