Tiểu sử
Lê Phụ Trần 黎輔陳, còn gọi là Lê Tần 黎秦 ông quê tại Ái Châu, là một danh tướng tiêu biểu dưới triều Trần. Ông từng phục vụ và lập công qua ba triều vua: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông. Trần Bá Chí căn cứ vào Cổ Mai bi ký và Lê triều miêu duệ cho rằng Lê Tần là con Lê Khâm – dòng dõi của hoàng đế Lê Đại Hành. Lê Khâm là một công thần đầu thời Trần, có công giúp Trần Thái Tổ và Thái sư Trần Thủ Độ đánh sứ quân Nguyễn Nộn, được phong tước Thượng vị hầu.
Chính sử hiện không ghi rõ năm sinh và năm mất của ông. Trong Đại Việt sử ký toàn thư, các sự kiện liên quan đến Lê Phụ Trần bắt đầu được ghi từ năm 1250 và dừng lại vào năm 1278, thời điểm Chiêu Thánh công chúa – vợ ông – qua đời.
Sự nghiệp chính trị
Tháng 2 năm 1250, vua Trần Thái Tông bổ nhiệm Lê Phụ Trần giữ chức Ngự sử trung tướng, đồng thời phụ trách Tam ty viện sự.
Đến ngày 12 tháng 12 năm 1257, quân Mông Cổ do Cốt Đãi Ngột Lang (Ngột Lương Hợp Thai) chỉ huy từ Vân Nam tiến xuống theo sông Hồng xâm lược Đại Việt. Trần Thái Tông thân chinh chỉ huy, trực tiếp tham chiến. Trong lúc tình thế quân ta có phần dao động, nhà vua quan sát xung quanh thì thấy chỉ có Lê Phụ Trần cưỡi ngựa xông pha giữa trận tiền, thần sắc bình tĩnh, không hề nao núng. Có người khuyên vua nên dừng lại để điều binh khiển tướng, nhưng Lê Phụ Trần đã khẩn thiết can ngăn: “Hiện nay, bệ hạ chỉ nên xem đây như một ván bài dốc túi. Cần tạm thời rút lui để bảo toàn lực lượng, sao có thể nghe lời nóng vội mà lưu lại nơi nguy hiểm?”
Nghe lời ông, Trần Thái Tông lui quân về giữ sông Lô, còn Lê Phụ Trần đi sau chặn giặc. Khi quân Mông Cổ bắn tên dồn dập, ông đã lấy ván thuyền che cho nhà vua tránh mũi tên. Thế giặc mạnh, quân ta tiếp tục rút về giữ sông Thiên Mạc. Trong giai đoạn này, Lê Phụ Trần thường xuyên bàn bạc với vua về các kế sách cơ mật. Đến ngày 24 tháng 12, sau trận phản công tại Đông Bộ Đầu, quân Mông Cổ phải rút chạy.
Tháng giêng năm 1258, Trần Thái Tông xét công lao, phong Lê Phụ Trần làm Ngự sử đại phu, tước Bảo Văn hầu, và gả Chiêu Thánh công chúa cho ông. Về sự việc này, sử gia Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng vua tôi nhà Trần có phần coi nhẹ lễ nghĩa vợ chồng. Cũng trong tháng giêng năm đó, ông được cử làm sứ thần sang nhà Nguyên, Chu Bác Lãm làm phó sứ. Lúc này nhà Nguyên đòi Đại Việt tăng cống phẩm vô tội vạ. Lê Phụ Trần đã đàm phán và thống nhất lại quy chế: ba năm cống một lần.
Ngày 24 tháng 2 âm lịch năm 1258, Trần Thái Tông nhường ngôi cho con là Trần Hoảng (Trần Thánh Tông) và lui về làm Thái thượng hoàng. Đến tháng 6 năm 1259, Trần Thánh Tông giao cho Lê Phụ Trần chức Thủy quân đại tướng quân.
Tháng 12 năm 1274, ông tiếp tục được phong làm Thiếu sư, kiêm Trừ cung giáo thụ, trở thành thầy dạy của thái tử Trần Khâm (sau này là vua Trần Nhân Tông).
Tháng 3 năm 1278, Chiêu Thánh công chúa qua đời. Từ đó, sử sách không còn ghi chép thêm gì về Lê Phụ Trần.
Gia đình
Vợ: Công chúa Chiêu Thánh Lý thị, tức Lý Chiêu Hoàng (1218-1279). Hai người sống với nhau từ năm 1258 tới năm 1279.
Con trai: Thượng vị hầu Lê Tông.
Con gái: Ứng Thụy công chúa Lê Ngọc Khuê
Lời bình của sử thần
Sử thần trong Đại Việt sử kí toàn thư nhận định: “Lê Phụ Trần thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm. Còn như quân Thiên thuộc (tức là quân Thiên vũ) mà cấm không được vào học”
Dưới thời Lê Thánh Tông, nhà vua định lệnh khuyến khích trung nghĩa: “Trung thần nghĩa sĩ như Lê Phụ Trần, (Trần) Khát Chân triều trước, Đào Biểu triều này, quan phụ trách và quan phủ huyện tìm lấy một người cháu nội, hay cháu gọi bằng chú bác của các vị đó, xét thực tâu lên sẽ trao cho một chức nhàn tản…”
Tài liệu tham khảo
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Grand Admiral of the Navy – Le Phu Tran
Biography
Le Phu Tran (黎輔陳), also known as Le Tan (黎秦), was a prominent general under the Tran dynasty and originated from Ai Chau. He served and made distinguished contributions under three reigns: Tran Thai Tong, Tran Thanh Tong, and Tran Nhan Tong.
Based on the Co Mai bi ky and the Le trieu mieu due, Tran Ba Chi asserts that Le Tan was the son of Le Kham, a descendant of Emperor Le Dai Hanh. Le Kham was a meritorious official in the early Tran period who assisted Tran Thai To and Grand Preceptor Tran Thu Do in defeating the warlord Nguyen Non, and was granted the title Thuong vi hou.
Official histories do not record his birth or death year. In the Dai Viet su ky toan thu, entries concerning Le Phu Tran begin in 1250 and end in 1278, when his wife, Princess Chieu Thanh, passed away.
Political Career
In February 1250, King Tran Thai Tong appointed Le Phu Tran as Ngu su trung tuong and placed him in charge of the Tam ty vien su.
On the 12th day of the 12th lunar month, 1257, Mongol forces under the command of Cot Dai Ngot Lang (Ngot Luong Hop Thai) advanced from Yunnan along the Red River to invade Dai Viet. Tran Thai Tong personally led the army into battle. When the Vietnamese forces were wavering, the king observed that only Le Phu Tran charged forward on horseback, calm and unshaken amid the frontline chaos. Some advised the king to halt and reorganize the troops, but Le Phu Tran urgently intervened:
“Your Majesty must treat this as a decisive wager. We must temporarily withdraw to preserve our strength—how could we heed rash advice and remain in danger?”
Following his counsel, Tran Thai Tong withdrew to defend the Lo River, while Le Phu Tran stayed behind to cover the retreat. Amid a barrage of Mongol arrows, he used a plank from a boat to shield the king. As the enemy pressed harder, the Vietnamese forces retreated again to the Thien Mac River. During this period, Le Phu Tran frequently discussed strategic plans with the king. On the 24th day of the 12th month, after the counterattack at Dong Bo Dau, the Mongols were forced to withdraw.
In the first lunar month of 1258, in recognition of his service, Tran Thai Tong promoted him to Ngu su dai phu, granted him the title Bao Van hou, and gave him Princess Chieu Thanh in marriage.
Regarding this matter, historian Ngo Si Lien remarked that the Tran court at times placed insufficient importance on marital ethics.
Also in the first month of 1258, he was appointed envoy to the Yuan dynasty, with Chu Bac Lam as deputy envoy. At this time, the Yuan court demanded excessive tribute from Dai Viet. Le Phu Tran successfully negotiated and re-established a fixed schedule: tribute once every three years.
On the 24th day of the second lunar month, 1258, Tran Thai Tong abdicated in favor of his son Tran Hoang (Tran Thanh Tong) and became Retired Emperor (Thai thuong hoang).
In June 1259, Tran Thanh Tong appointed Le Phu Tran as Grand Admiral of the Navy (Thuy quan dai tuong quan).
In December 1274, he was further promoted to Thieu su, concurrently serving as Tru cung giao thu, becoming the tutor of Crown Prince Tran Kham (later Emperor Tran Nhan Tong).
In March 1278, Princess Chieu Thanh died. After this point, historical records no longer mention Le Phu Tran.
Family
-
Wife: Princess Chieu Thanh Ly thi, also known as Ly Chieu Hoang (1218–1279). They lived together from 1258 until her death in 1279.
-
Son: Thuong vi hou Le Tong
-
Daughter: Ung Thuy Princess Le Ngoc Khue
Assessments by Historians
The Dai Viet su ky toan thu records:
“Le Phu Tran possessed valor and strategy surpassing all in the army; alone on horseback he charged into danger. Yet his literary talent was sufficient to instruct the crown prince. This shows that the Tran dynasty appointed officials according to their abilities. As for the Thien thuoc troops, they were prohibited from receiving education.”
Under King Le Thanh Tong, the court issued edicts to encourage loyalty and righteousness:
“Loyal and righteous officials such as Le Phu Tran, (Tran) Khat Chan of the previous dynasty, and Dao Bieu of this dynasty—local officials must select one paternal grandson or nephew of these men. After verification, he shall be granted a sinecure position…”
References
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
Tiếng Pháp
Thuy Quan Dai Tuong Quan Le Phu Tran
Biographie
Le Phu Tran 黎輔陳, également appelé Le Tan 黎秦, originaire d’Ai Chau, fut l’un des généraux les plus éminents de la dynastie Tran. Il servit avec distinction sous trois règnes successifs : Tran Thai Tong, Tran Thanh Tong et Tran Nhan Tong. Selon Tran Ba Chi, se fondant sur le Co Mai bi ky et le Le trieu mieu due, Le Tan serait le fils de Le Kham, descendant de l’empereur Le Dai Hanh. Le Kham fut un功臣 des débuts de la dynastie Tran, ayant aidé Tran Thai To et le Thai su Tran Thu Do à vaincre le sứ quân Nguyen Non, ce qui lui valut le titre de Thuong vi hau.
Les chroniques officielles ne précisent ni l’année de naissance ni l’année de décès de Le Phu Tran. Dans le Dai Viet Su Ky Toan Thu, son nom apparaît pour la première fois en 1250 et disparaît en 1278, année du décès de son épouse, la princesse Chieu Thanh.
Carrière politique
En février 1250, le roi Tran Thai Tong le nomma Ngu su trung tuong, chargé simultanément des affaires du Tam ty vien su.
Le 12 décembre 1257, les armées mongoles commandées par Cot Dai Ngot Lang (Ngot Luong Hop Thai) descendirent du Yunnan et envahirent le Dai Viet en suivant le fleuve Rouge. Tran Thai Tong dirigea personnellement les opérations. Alors que les troupes vietnamiennes commençaient à vaciller, le souverain observa que seul Le Phu Tran restait sur son cheval au cœur de la mêlée, calme et inébranlable. Certains conseillers exhortèrent le roi à s’arrêter pour réorganiser les forces, mais Le Phu Tran insista :
« À présent, Votre Majesté doit considérer cette bataille comme un pari décisif. Il faut se retirer temporairement pour préserver l’armée ; comment pourrait-on céder à des conseils téméraires et rester dans ce lieu de péril ? »
Sur ses conseils, Tran Thai Tong se replia vers la rivière Lo, tandis que Le Phu Tran couvrait la retraite. Sous les tirs de flèches mongoles, il utilisa une planche de bateau pour protéger le roi. Face à la puissance de l’ennemi, l’armée dut continuer de se retirer vers la rivière Thien Mac. Durant cette période, Le Phu Tran participa régulièrement aux délibérations secrètes avec le souverain. Le 24 décembre, après la contre-attaque de Dong Bo Dau, les Mongols furent contraints de se retirer.
En janvier 1258, Tran Thai Tong récompensa ses mérites en le nommant Ngu su dai phu, lui attribua le titre de Bao Van hau, et lui donna en mariage la princesse Chieu Thanh. À ce sujet, l’historien Ngo Si Lien critiqua la cour Tran pour avoir négligé les convenances conjugales.
Ce même mois, Le Phu Tran fut envoyé en ambassade auprès de la cour Yuan, avec Chu Bac Lam comme vice-ambassadeur. Les Yuan exigeaient alors une augmentation excessive du tribut de Dai Viet. Le Phu Tran négocia fermement et rétablit une règle stable : un envoi de tribut tous les trois ans.
Le 24 février 1258 (calendrier lunaire), Tran Thai Tong abdiqua en faveur de son fils Tran Hoang (Tran Thanh Tong) et devint Thai thuong hoang. En juin 1259, Tran Thanh Tong nomma Le Phu Tran au poste de Thuy quan dai tuong quan (Grand général de la marine).
En décembre 1274, il fut promu Thieu su, cumulant la fonction de professeur du prince héritier Tran Kham — futur empereur Tran Nhan Tong.
En mars 1278, la princesse Chieu Thanh décéda. À partir de cette date, les chroniques ne rapportent plus aucun détail sur Le Phu Tran.
Famille
-
Épouse : Princesse Chieu Thanh Ly thi, c’est-à-dire Ly Chieu Hoang (1218–1279). Ils vécurent ensemble de 1258 à 1279.
-
Fils : Thuong vi hau Le Tong
-
Fille : Princesse Ung Thuy – Le Ngoc Khue
Jugements des historiens
Les historiens du Dai Viet Su Ky Toan Thu écrivent :
« Le Phu Tran était le plus courageux des trois armées : seul à cheval, il se jetait au cœur du danger. Ses talents littéraires étaient assez élevés pour instruire le prince héritier. Cela montre que la dynastie Tran confiait les responsabilités en fonction du talent véritable. Quant aux soldats du Thien thuoc (ou Thien vu), leur entrée à l’école fut interdite. »
Sous le règne de Le Thanh Tong, le roi édicta une règle visant à honorer les figures de loyauté :
« Les loyalistes tels que Le Phu Tran, (Tran) Khat Chan de la dynastie précédente, ou Dao Bieu de la dynastie actuelle : que les autorités locales recherchent un petit-fils ou un descendant par les oncles de ces hommes, vérifient leur identité, et leur confèrent une charge honorifique… »
Références
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
Tiếng Trung
水軍大將軍 黎輔陳 (Le Phu Tran)
簡介
黎輔陳 (Le Phu Tran),又名 黎秦 黎秦 (Le Tan),其籍貫在艾州。他是陳朝時期的一位傑出名將,曾在陳太宗 (Tran Thai Tong)、**陳聖宗 (Tran Thanh Tong)及陳仁宗 (Tran Nhan Tong)三朝立下顯赫功勳。陳伯芝根據《古梅碑記》與《黎朝苗裔》推測,黎秦是 黎欽 黎欽 (Le Khom) 之子,而黎欽乃陳朝初期的開國功臣,曾協助陳太祖 (Tran Thai To)與太師 陳守度 陳守度 (Tran Thu Do)討伐割據武將 阮嫩 阮嫩 (Nguyen Non),並受封「上位侯」。
正史未記載黎輔陳的出生與逝世年份。《大越史記全書》中關於他的記載自1250年始,至1278年止,該年正是其夫人**昭聖公主 趙聖公主 (Chieu Thanh cong chua)**逝世之時。
政治生涯
1250年2月,陳太宗 (Tran Thai Tong)任命黎輔陳為御史中丞,兼主管三司院事。
1257年12月12日,蒙古軍由斡帶兀郎 (Cot Dai Ngot Lang)(即斡羅合台 斡羅合台 (Ngo Lương Hop Thai))率領自雲南沿紅河侵入大越。陳太宗親征禦敵。戰況吃緊之際,唯有黎輔陳一人策馬衝鋒、沉著不亂。有人請皇帝留下督戰,但黎輔陳極力勸諫曰:
“如今陛下當以此戰視為背水一擲之局。宜暫時退兵保全力量,不可因一時之勇而陷於危地。”
陳太宗聽從其言,退守瀘江,由黎輔陳殿後掩護。蒙古軍弓弩密集,黎輔陳以舟板為盾,替皇帝遮蔽箭矢。其後大軍再退至天莫河固守,其間黎輔陳與皇帝常議秘策。12月24日,在東步頭反擊成功,蒙古軍被迫撤退。
1258年正月,因功受封御史大夫、保文侯,並被賜婚昭聖公主 李氏 (Ly Chieu Hoang)。史家吳士連 吳士連 (Ngo Si Lien)評論說,陳朝皇帝在此事上「稍乖夫婦之倫」。
同月,他出使元朝,**朱伯覽 朱伯覽 (Chu Bac Lam)為副使。元朝要求大越增加貢品,他交涉後議定三年一貢。
1258年2月24日,陳太宗禪位於太子陳晃 陳晃 (Tran Hoang)(即陳聖宗)。1259年6月,陳聖宗任命黎輔陳為水軍大將軍。
1274年12月,他被拜為少師,兼任儲宮教諭,教授太子陳昑 陳昑 (Tran Kham)(後為陳仁宗)。
1278年3月,昭聖公主去世,自此史籍不再記錄黎輔陳的行跡。
家庭
-
妻:昭聖公主 李氏 (Ly Chieu Hoang)(1218–1279),自1258年至1279年與黎輔陳結縭。
-
子:上位侯 黎宗 黎宗 (Le Tong)
-
女:應瑞公主 黎玉徽 黎玉徽 (Le Ngoc Khue)
史家評論
《大越史記全書》論曰:
“黎輔陳勇略為三軍之冠,一身一馬衝鋒於艱危之際,而其文章學識足以教太子。由此可知陳朝任用人才,皆以能力為本,而不重天屬之軍(天武軍)不得入學之禁。”
在黎聖宗 (Le Thanh Tong)時,朝廷推行獎勵忠義之令:
“如黎輔陳、(陳)割真(即陳克勤)、與本朝陶表等忠臣義士,命地方官尋得其嫡孫或族侄,核實後授以散官……”
參考文獻
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.