Thân thế
Trần Khánh Dư quê ở Chí Linh, Hải Dương, cha là Thượng tướng Trần Phó Duyệt. Khi còn thiếu thời, rất ít chuyện ghi chép về ông. Ông có công lớn trong hai cuộc kháng chiến chống Nguyên lần 2 và 3, tiêu diệt đoàn thuyền lương quân Nguyên ở Vân Đồn năm 1288, tham gia chinh phục Chiêm Thành năm 1312 nhưng bị sử sách phê phán vì tính tham lam, thô bỉ thể hiện qua câu nói “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng thì có gì là lạ?”.
Thiên tử nghĩa Nam
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên – Mông lần thứ nhất năm 1258, Trần Khánh Dư lập công lớn khi lợi dụng sơ hở của đối phương để tập kích và đánh tan một bộ phận quân giặc. Sau chiến công này, ông tiếp tục được giao dẹp loạn người Man ở miền núi và giành thắng lợi vang dội. Nhờ đó, ông được nhận làm Thiên tử nghĩa nam và phong Phiêu Kỵ đại tướng quân – một chức vụ vốn chỉ dành cho hoàng tử. Chính vì mang danh nghĩa con nuôi của hoàng đế, ông mới được ban tước vị đặc biệt này. Từ đó, Trần Khánh Dư liên tục được thăng thưởng, từ Quan nội hầu lên đến Thượng vị hầu, nắm quyền Phán thủ.
Tuy nhiên, việc vị hoàng đế nhà Trần nào nhận Trần Khánh Dư làm nghĩa tử đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Năm Nhâm Ngọ, Thiệu Bảo thứ 4 (1282)… Lần trước quân Nguyên sang xâm lược, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư nhân lúc giặc sơ hở mà đánh úp. Thượng hoàng khen ông có trí lược, lập làm Thiên tử nghĩa nam”. Ở đoạn này, sử ký đang ghi kỷ Trần Nhân Tông, vì vậy “Thượng hoàng” nhiều khả năng là Trần Thánh Tông.
Tuy nhiên, nếu đối chiếu sự kiện “lần trước quân Nguyên vào cướp” với chiến công của Trần Khánh Dư, thì thời điểm hợp lý phải là năm 1257, khi Ngột Lương Hợp Thai đem quân xâm lược Đại Việt. Để có đủ tuổi tác và khả năng lập công trong trận này, Trần Khánh Dư tối thiểu phải ngang tuổi Trần Thánh Tông (khi ấy khoảng 18 tuổi). Như vậy, người có khả năng nhận ông làm nghĩa tử hơn phải là Trần Thái Tông, chứ không phải Trần Thánh Tông. Nhưng nếu ông thực sự sinh khoảng năm 1240 (tương đương tuổi Thánh Tông), thì đến năm mất 1340, tuổi thọ lên tới gần 100 một con số khó thuyết phục trong bối cảnh thời trung đại.
Vì vậy, đến nay vẫn chưa thể xác định chắc chắn hoàng đế nào đã nhận Trần Khánh Dư làm Thiên tử nghĩa nam. Sách Lịch triều hiến chương loại chí cho rằng đó là Trần Thánh Tông, nhưng các nguồn tư liệu hiện có vẫn chưa đủ để đưa ra một kết luận hoàn toàn chính xác.
Thông dâm với Thiên Thụy công chúa
Sau khi có được địa vị trong triều, Trần Khánh Dư lại vướng vào vụ án gian dâm với Thiên Thụy công chúa người đã được hứa gả cho Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Thời điểm đó, Hưng Vũ vương vốn là hậu duệ danh giá và có công lớn trong kháng chiến, nên được Thượng hoàng chọn làm phò mã của công chúa.
Sự việc Trần Khánh Dư thông dâm với Thiên Thụy công chúa khi bị phát giác đã gây chấn động. Dù triều Trần không lạ với việc kết thông hôn trong hoàng tộc, nhưng hành vi tư thông của Trần Khánh Dư bị xem là vi phạm nghiêm trọng chuẩn mực luân lý gây ảnh hưởng đến thể diện hoàng gia. Vua Trần Thánh Tông vì lo ngại làm phật ý Hưng Đạo vương nên kết án ông đánh đến chết. Tuy nhiên, Thánh Tông lại bí mật ra lệnh cho quân lính đập nhẹ vào đầu gông, giúp Trần Khánh Dư thoát chết. Theo luật lệ đương thời, nếu người bị phạt qua được 100 roi mà không chết thì được coi là “trời tha”, và vì vậy ông mới thoát chết.
Dẫu thoát chết, Trần Khánh Dư vẫn bị tước bỏ toàn bộ binh quyền, tịch thu gia sản và bị đày về Chí Linh, phải sống bằng nghề đốt than, bán củi để mưu sinh.
Được trọng dụng trong kháng chiến chống Nguyên lần ba (1287-1288)
Lúc đó, thuyền vua đỗ ở bến Bình Than, nước triều rút, gió thổi mạnh, có chiếc thuyền lớn chở than củi, người lái thuyền đội nón lá, mặc áo ngắn. Vua chỉ và bảo quan thị thần: “Người kia chẳng phải là Nhân Huệ vương đó sao?”.
Lập tức sai người chèo thuyền nhỏ đuổi theo. Đến cửa Đại Than thì kịp. Quân hiệu gọi: “Ông lái ơi, có lệnh vua triệu”.
Khánh Dư trả lời: “Lão là người buôn bán, có việc gì mà phải triệu”. Quân hiệu trở về tâu thực như thế. Vua bảo: “Đúng là Nhân Huệ đấy, ta biết người thường tất không dám nói thế”.
Vua lại sai nội thị đi gọi. Khánh Dư mặc áo ngắn, đội nón lá đến gặp vua. Vua nói: “Nam nhi mà đến nỗi này thì thực là cùng cực rồi”, bèn xuống chiếu tha tội cho ông. Khánh Dư lên thuyền lạy tạ. Vua ban cho áo ngự, cho ngồi các hàng dưới các vương, trên các công hầu, cùng bàn việc nước, nhiều điều hợp ý vua.
Trần Khánh Dư có công lớn trong việc đánh tan đạo binh thuyền chở lương thực, khí giới của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy vào tháng 12 năm 1287, góp phần làm xoay chuyển tình thế chiến tranh.
Tháng 5 năm 1312, ông theo Trần Anh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành. Trận này quân Đại Việt bắt được chúa Chiêm Thành là Chế Chí đem về.
Viết lời tựa sách
Không chỉ giỏi võ, Trần Khánh Dư còn có kiêm tài văn. Ông là người viết lời tựa cho cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép lại lời tựa ấy.
Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết.
Ngày xưa Cao Dao làm sĩ sư mà không ai dám trái mệnh, đến Vũ Vương, Thành Vương nhà Chu làm tướng cho Văn Vương, Vũ Vương, ngầm lo sửa đức, để lật đổ nhà Thương mà dấy nên vương nghiệp, thế là người giỏi cầm quân thì không cần phải bày trận vậy. Vua Thuấn múa mộc và múa lông trĩ mà họ Hữu Miêu đến chầu, Tôn Vũ nước Ngô đem ngươi đẹp trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở mạnh, phía bắc uy hiếp nước Tấn, nước Tần, nổi tiếng chư hầu, thế là người khéo bày trận không cần phải đánh vậy. Đến Mã Ngập nước Tấn theo bát trận đồ, đánh vận động hàng ngàn dặm, phá được Thụ Cơ Năng để thu phục Lương Châu. Thế gọi là người đánh giỏi không bao giờ thua vậy.
Cho nên trận nghĩa là “trần”, là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, Hoàng Đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế. Gia Cát xếp đá sông làm bát trận đồ, Vệ Công sửa lại làm thành Lục hoa trận. Hoàn Ôn lập ra Xà thế trận có vẽ các thế trận hay, trình bày thứ tự, rõ ràng, trở thành khuôn phép. Nhưng người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm, chưa từng biến đổi. Như Lý Thuyên có soạn những điều suy diễn của mình, những người đời sau cũng không hiểu ý nghĩa. Cho nên Quốc công ta[3] mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực.
Sách gồm đủ ngũ hành tương ứng, cửu cung suy nhau, phối hợp cương nhu, tuần hoàn chẵn lẻ. Không lẫn lộn âm với dương, thần với sát, phương với lợi, sao lành, hung thần, ác tướng, tam cát, ngũ hung, đều rất rõ ràng, ngang với Tam Đại, trăm đánh trăm thắng. Cho nên, đương thời có thể phía bắc trấn ngự Hung Nô, phía nam uy hiếp Lâm Ấp.
Thờ tự
Đình Quan Lạn là nơi thờ tự Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, đình tọa lạc tại xã đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, cách thành phố Cẩm Phả khoảng 35 km. Vị trí của đình được đánh giá là đắc địa, với mặt trước hướng ra biển và ba ngọn núi tạo thành bức bình phong tự nhiên, phía sau tựa vào năm quả núi, tạo nên thế đất “Tiền Tam Thai, Hậu Ngũ Nhạc” hiếm có trong kiến trúc tín ngưỡng truyền thống.
Đền gốm tại thuộc Ninh Giàng, phường Cổ Thành, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương là nơi thờ Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Prince of Humanity and Benevolence Tran Khanh Du (?-1340)
Background
Tran Khanh Du was born in Chi Linh, Hai Duong, to Father Thuong Tuong Tran Pho Duyet. Few records exist of his early life. He gained fame in the second and third wars against the Mongol-Yuan invasions, notably destroying enemy supply ships at Van Don in 1288 and participating in the 1312 campaign against Champa. He was criticized in historical records for his greed and coarseness, exemplified by his statement: “A general is an eagle, soldiers are ducks; using ducks to feed eagles is no surprise.”
Thiên Tử Nghĩa Nam
During the first Mongol-Yuan invasion in 1258, Tran Khanh Du exploited enemy weaknesses to ambush and defeat a portion of the invaders. He was then assigned to suppress local mountain tribes, achieving significant victories. As a result, he was honored as Thien Tu Nghia Nam and appointed Phieu Ky Dai Tuong Quan, a title normally reserved for royal princes. His status as an adopted son of the emperor justified this special rank. He was subsequently promoted from Quan Noi Hau to Thuong Vi Hau, controlling military administration (Phan Thu).
However, historical sources disagree on which emperor adopted him. Dai Viet Su Ky Toan Thu records: “In the Nhâm Ngọ year, Thieu Bao 4th reign (1282)… During the previous Mongol invasion, Nhân Huệ Vương Tran Khanh Du exploited enemy weakness and ambushed them. The retired emperor praised his strategy and made him Thien Tu Nghia Nam.” This passage seems to reference Tran Nhan Tong, suggesting the “retired emperor” may be Tran Thanh Tong. Yet, correlating events suggest it could have been Tran Thai Tong. If he was born around 1240, he would have been nearly 100 at death in 1340, which is improbable. Therefore, the exact adopting emperor remains uncertain.
Scandal with Princess Thien Thuy
After gaining court position, Tran Khanh Du was involved in an affair with Princess Thien Thuy, betrothed to Hung Vu Vuong Tran Quoc Nghien, son of Hung Dao Dai Vuong Tran Quoc Tuan. The affair caused a scandal. Although the Tran court tolerated intermarriage within the royal family, his conduct violated moral norms, affecting royal prestige. King Tran Thanh Tong, wary of angering Hung Dao Vuong, sentenced him to death but secretly instructed guards to lightly strike his head, allowing him to survive. Under contemporary law, surviving 100 lashes without dying was considered divine pardon.
Despite surviving, he was stripped of all military authority, his property confiscated, and exiled to Chi Linh, forced to earn a living by burning coal and selling firewood.
Role in the Third Mongol Invasion (1287–1288)
During the third invasion, Tran Khanh Du notably attacked supply ships led by Truong Van Ho in December 1287, helping to shift the war’s momentum. In May 1312, he accompanied King Tran Anh Tong to campaign against Champa, capturing the Cham lord Che Chi.
Preface Writing
Tran Khanh Du was also literate. He wrote the preface for Van Kiep Tong Bi Truyen Thu by Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan. Dai Viet Su Ky Toan Thu records this preface, emphasizing strategy, battlefield tactics, and military wisdom.
Worship
Several sites honor Tran Khanh Du:
- Dinh Quan Lan: dedicated to Prince of Humanity and Benevolence Tran Khanh Du, located on Quan Lan island, Van Don district, Quang Ninh province, about 35 km from Cam Pha city. Its site is strategically positioned with a sea-facing front and natural mountain backdrop.
- Ceramic temple: in Ninh Giang Residential Area, Co Thanh ward, Chi Linh city, Hai Duong province, also venerates Tran Khanh Du.
References
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Tran Khanh Du (?-1340), Prince Nhan Hue
Origine et famille
Tran Khanh Du était originaire de Chi Linh, Hai Duong. Son père était le général Tran Pho Duyet. Peu de détails sont connus sur sa jeunesse. Il se distingua lors des deuxième et troisième guerres contre les Mongols, détruisant la flotte de ravitaillement de Van Don en 1288 et participant à la conquête de Chiem Thanh en 1312. Il fut critiqué par les annales pour sa cupidité et sa brutalité, exprimée par sa phrase : « Le général est un aigle, les soldats sont des canards ; utiliser les canards pour nourrir l’aigle, quoi de plus normal ? ».
Héros militaire sous la dynastie Tran
Lors de la première invasion mongole en 1258, Tran Khanh Du exploita les faiblesses de l’ennemi pour remporter une victoire. Il fut nommé « fils adopté du roi » (Thien Tu Nghia Nam) et général de cavalerie volante (Phieu Ky Dai Tuong Quan), un titre normalement réservé aux princes. Cette filiation royale lui permit d’obtenir des promotions successives jusqu’à devenir haut fonctionnaire militaire.
Cependant, l’identité exacte de l’empereur qui l’adopta reste débattue. Les annales Dai Viet Su Ky Toan Thu mentionnent que c’était sous le règne de Tran Nhan Tong ou Tran Thanh Tong. Certaines analyses suggèrent que Tran Thai Tong pourrait être l’empereur adoptif.
Affaire avec la princesse Thien Thuy
Plus tard, Tran Khanh Du fut impliqué dans un scandale avec la princesse Thien Thuy, fiancée au prince Hung Vuong Tran Quoc Nghien, fils du célèbre général Hung Dao Tran Quoc Tuan. Dévoilé, il fut condamné à mort mais sauvé grâce à une intervention discrète de l’empereur. Il perdit toutefois ses droits militaires, ses biens furent confisqués, et il fut exilé à Chi Linh pour vivre modestement.
Rôle dans la troisième guerre contre les Mongols (1287–1288)
En décembre 1287, il joua un rôle crucial dans la destruction des bateaux de ravitaillement ennemis dirigés par Truong Van Ho, ce qui contribua à renverser la situation de la guerre. En mai 1312, il accompagna Tran Anh Tong dans la campagne contre Chiem Thanh et captura le prince Che Chi.
Œuvres littéraires
Tran Khanh Du rédigea la préface du Van Kiep Tong Bi Truyen Thu de Hung Dao Vuong Tran Quoc Tuan. Il était réputé pour sa maîtrise militaire et sa culture littéraire, prônant l’idée que le général habile n’a pas besoin de montrer ses stratégies, et que le stratège expérimenté peut gagner sans combattre.
Culte
Quelques lieux continuent de vénérer Tran Khanh Du :
- Le temple Quan Lan sur l’île de Quan Lan, district de Van Don, Quang Ninh, face à la mer et entouré de montagnes selon la configuration « Tiền Tam Thai, Hậu Ngũ Nhạc ».
- Le temple de la poterie dans le quartier Ninh Giang, commune Co Thanh, ville de Chi Linh, Hai Duong.
Références
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
仁惠王陈庆馀 (Tran Khanh Du)(?–1340)
身世
陈庆馀,海阳(Hai Duong)治志林(Chi Linh)人,父上将陈傅悦(Tran Pho Duet)。幼年事迹少见。曾在第二、第三次抗元战争中立大功,1288年击败元军运粮船队于云屯(Van Don),1312年征服占城(Chiem Thanh),但因贪婪粗鄙言行受史书批评,有言“将军如鹰,民兵如鸭,用鸭养鹰,有何奇哉?”
天子义男
1258年首次抗元,陈庆馀利用敌方疏漏突袭,歼一部敌军,因功被授天子义男,并封飘骑大将军,为专供皇子之职,自此升迁至上位侯,掌判府事。
史书记载其被哪位皇帝收为义子尚有争议。《大越史记全书》曰:“壬午年,绍宝四年(1282)……上次元军入侵,仁惠王陈庆馀乘虚袭击,太上皇赞其智略,立为天子义男。”此处“太上皇”可能为陈圣宗。若对照“上次元军入侵”事件,应为1257年,入侵者为额率合泰(Ngot Luong Hop Thai),陈庆馀至少同陈太宗年龄(约18岁),因此更可能是陈太宗收为义子,而非陈圣宗。但若陈庆馀生于约1240年,至1340年去世,则寿近百岁,中世纪背景下令人质疑。故具体受封皇帝尚未确证,《历朝宪章类志》认为为陈圣宗,但资料不足以完全确定。
与天瑞公主私通
入朝获位后,陈庆馀卷入与天瑞公主奸淫事件,公主原许配兴武王陈国儼(Hung Vu Vuong Tran Quoc Nghien),为兴道大王陈国俊之子。公主配婚为兴武王,史书记载此私通为严重违礼行为,影响皇室名誉,陈圣宗担忧冒犯兴道王,判其死,但暗令兵轻击枷,助其逃生。按律,百鞭未死者为“天赦”,故陈庆馀得以幸免。
虽逃生,仍被罢军权、没收家产,流放至志林,以烧炭、卖柴谋生。
第三次抗元重用(1287–1288)
1287年12月,元军由张文虎指挥运粮,陈庆馀率军破敌,扭转战局。1312年随陈英宗征占城,擒占城主制治归国。
著作与军事理念
陈庆馀亦善文,撰写《万劫宗秘传书》序文,记载于《大越史记全书》。其理念:“善用兵者不必布阵,善布阵者不必战,善战者不败,善败者不死。”
其兵法结合五行、九宫、刚柔、奇正等,明晰分配,战胜北方匈奴、南方林邑,为军事典范。
祀庙
现存供奉陈庆馀的场所:
- 关滩祠(Dinh Quan Lan),位于广宁(Quang Ninh)云屯(Van Don)区关滩岛社(Xa Dao Quan Lan),距锦帕(Cam Pha)市约35公里,地势“前三台,后五岳”。
- 海阳(Hai Duong)志林(Chi Linh)古城区陶庙,亦供奉仁惠王陈庆馀。
参考
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
