Thông tin chung
Phật Mẫu Man Nương là một nhân vật gắn với truyền thuyết Phật giáo Việt Nam thời kỳ đầu khi đạo Phật mới du nhập vào đất Việt.
Xuất thân
Truyền thuyết kể rằng Phật mẫu Man Nương, tên thật là A Man, sinh ra và lớn lên tại làng Mãn Xá, còn được gọi bằng tên tục là Kẻ Mèn, thuộc vùng Luy Lâu, trung tâm Phật giáo Tứ Pháp và là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng của Việt Nam vào những thế kỷ đầu Công nguyên.
Hiện nay, Chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự), nơi thờ Phật mẫu Man Nương, tọa lạc tại Mãn Xá, phường Hà Mãn, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Cha mẹ của Man Nương là ông bà Tu Định, được thờ phía trên tượng Phật mẫu trong chùa. Truyền thuyết kể rằng ông Tu Định là một cư sĩ Phật giáo thuần thành và là đệ tử của thiền sư Khâu Đà La. Gia đình ông bà nổi tiếng với lòng thành thiện nhưng gặp khó khăn trong việc sinh con. Sau khi thành kính cúng lễ và cầu nguyện, họ được ban cho một người con gái và đặt tên là Man Nương. Chùa Tổ được truyền rằng đã được xây dựng ngay trên nền nhà cũ của ông bà Tu Định, trở thành nơi lưu giữ và tôn thờ Phật mẫu Man Nương cho đến ngày nay.
Cuộc đời
Truyền thuyết về cuộc đời của Phật mẫu Man Nương (tên là A Man) gắn liền với sự tích Phật giáo Tứ Pháp tại vùng Luy Lâu – Dâu vào những thế kỷ đầu Công nguyên, sách Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp chép rằng:
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương. Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.
Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện. Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn
Phật mẫu Man Nương viên tịch tại Chùa Phúc Nghiêm (Chùa Tổ), thọ khoảng 80 tuổi, hoặc theo một số nguồn là ngoài 90 tuổi, gần trăm tuổi. Nhân dân tôn xưng bà là Phật Mẫu bởi trong sinh thời, bà đã sinh ra đứa trẻ (khối đá) được coi là tiền thân của Tứ Pháp. Hình ảnh Man Nương trở thành hiện thân của sự hòa nhập giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian Việt Nam, đồng thời là một vị thần gắn liền với nông nghiệp và thủy lợi, có khả năng điều khiển thiên nhiên như mây, mưa, sấm, chớp. Nền nhà cũ của ông bà Tu Định sau này trở thành Chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự), nơi thờ Phật Mẫu Man Nương ở vị trí trung tâm, đồng thời là trung tâm của hệ thống Tứ Pháp vùng Dâu – Luy Lâu. Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, lễ hội lớn Hội tắm Phật được tổ chức tại đây nhằm tưởng nhớ công đức và vai trò thiêng liêng của Phật Mẫu Man Nương.
Tín ngưỡng Tứ Pháp trong đời sống tâm linh của người nông dân Việt cổ
Tín ngưỡng Tứ Pháp là một hình thức tín ngưỡng dân gian đặc trưng của cư dân nông nghiệp Việt cổ, phản ánh khát vọng cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt – điều kiện sinh tồn căn bản của xã hội nông nghiệp lúa nước. Khát vọng ấy được kết tinh trong những lời khấn mộc mạc, giản dị nhưng giàu ý nghĩa nhân sinh:
Lạy trời mưa xuống
Lấy nước tôi uống
Lấy ruộng tôi cày
Lấy đầy bát cơm
Lấy rơm đun bếp…
Tại vùng Kinh Bắc, tín ngưỡng Tứ Pháp đã sớm trở thành trung tâm cầu mưa quan trọng từ thời cổ đại cho đến thế kỷ XII và tiếp tục duy trì ảnh hưởng trong các giai đoạn lịch sử sau đó. Nhiều thư tịch Việt Nam thời Lý – Trần – Lê đều ghi chép rằng: mỗi khi xảy ra đại hạn, triều đình thường tổ chức lễ cầu mưa tại chùa Pháp Vân hoặc rước tượng Pháp Vân (Bà Dâu) từ xứ Kinh Bắc về kinh thành Thăng Long, đặt tại chùa Một Cột; chỉ khi mưa xuống mới rước tượng trở lại nơi thờ cũ.
Theo truyền thuyết, vào cuối thời Đông Hán, Sĩ Nhiếp giữ chức Thái thú Giao Châu (187–226). Khi đó, nhà sư Ấn Độ Khâu Đà La (A-đà-la) đến trụ tại Luy Lâu và được một tín đồ mộ đạo mời về cư trú. Con gái của gia chủ là Man Nương mang thai và sinh một bé gái. Sau khi sinh, Man Nương đem đứa trẻ đến giao lại cho nhà sư. Khâu Đà La niệm chú khiến một thân cây lớn tách đôi, đặt đứa bé vào giữa rồi khép lại. Sau đó, bão lớn làm cây đổ, nước lũ cuốn thân cây về thành Luy Lâu. Sĩ Nhiếp cho người kéo cây lên bờ nhưng không được; chỉ khi Man Nương đến đẩy nhẹ, thân cây mới tự lăn lên. Từ thân cây ấy, Sĩ Nhiếp cho tạc bốn pho tượng Tứ Pháp. Khi gặp hạn hán, ông cho lập đàn cầu đảo, bày bốn pho tượng ra làm lễ; lễ xong thì mưa to gió lớn, sấm chớp nổi lên. Các pho tượng sau đó được thờ tại chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Phi Tướng và chùa Trí Quả (Hữu Ngọc, 2003).
Trong thời kỳ Bắc thuộc, trước sự áp chế của ngoại bang, không chỉ con người mà cả hệ thống thần linh bản địa của người Việt cũng chịu chung số phận bị đe dọa. Trong bối cảnh ấy, Phật giáo đã trở thành một “cứu cánh”, vừa là chỗ dựa tinh thần cho con người, vừa là phương tiện để chuyên chở và bảo tồn các giá trị tín ngưỡng bản địa, góp phần nuôi dưỡng ý thức dân tộc còn đang trong giai đoạn hình thành. Chính môi trường lịch sử đó đã tạo điều kiện để các thần linh nông nghiệp Việt cổ được Phật hóa.
Người Việt đã chủ động tiếp thu những yếu tố tích cực của văn hóa Trung Hoa và tư tưởng Phật giáo, đặc biệt là khả năng phân tích và tổng hợp, để từ “một” hóa thành “nhiều”. “Một” là chân như, là bản thể, là Phật Mẫu; “nhiều” là những biểu hiện cụ thể, là các hóa thân thích ứng với từng hoàn cảnh tự nhiên và xã hội – chính là Tứ Pháp. Tuy nhiên, tiến trình này không hề đơn giản. Việc thờ Tứ Pháp luôn song hành với nhiều yếu tố tín ngưỡng dân gian cổ truyền khác, đặt ra hàng loạt vấn đề cần tiếp tục khảo cứu.
Thứ nhất, về không gian thờ tự Tứ Pháp. Dựa trên các di tích kiến trúc và hiện vật còn lại, nếu xét dấu vết từ thế kỷ XVI trở về trước, các chùa thờ Tứ Pháp chủ yếu tập trung ở vùng Bắc Ninh cũ, như chùa Dâu (Thuận Thành), chùa Ninh Hiệp (Gia Lâm), chùa Thái Lạc (Hải Hưng cũ)… Từ các thế kỷ sau, cùng với sự phát triển và lan tỏa của tín ngưỡng, việc thờ Tứ Pháp mở rộng ra nhiều địa phương khác như Hải Phòng, Vụ Bản (Nam Định), và trong một chừng mực nhất định, Tứ Pháp dần được đồng nhất hoặc hòa trộn với hệ thống Tứ Phủ. Mở rộng hơn, có thể nhận thấy hình tượng Bà Đen ở Tây Ninh cũng mang những nét tương đồng xa gần với tín ngưỡng Tứ Pháp. Từ đó có thể cho rằng, Tứ Pháp là một hình thức thờ Mẫu được Phật giáo hóa trong giai đoạn đầu của quá trình khai phá châu thổ thấp Bắc Bộ, đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển lịch sử văn hóa dân tộc. Tín ngưỡng này được định hình khi cư dân Việt cổ chưa đủ điều kiện tiếp nhận các tầng ý nghĩa trừu tượng, siêu hình của Phật giáo và các hệ triết học lớn khác.
Thứ hai, trong kho tàng huyền thoại về người Mẹ, sự tích Man Nương có thể được xem là lớp sớm nhất. Gạt bỏ những chi tiết mang tính đời thường, Man Nương hiện lên với tư cách một Mẫu khởi nguyên. Từ bà, các Mẫu thuộc Tứ Pháp – Mây, Mưa, Sấm, Chớp – hạ thế, ban phát ân huệ cho con người. Khi Phật giáo phát triển ở Việt Nam, các vị Tứ Pháp tiếp tục được xem là những hóa thân của Đức Phật, khiến cho nhiều ngôi đền thờ các vị trở thành chùa. Đây là biểu hiện đặc sắc của Phật giáo mang đậm bản sắc Việt Nam, vượt ra ngoài khuôn khổ giáo luật để phản ánh những ước vọng lâu dài của cư dân nông nghiệp.
Không dừng lại ở đó, hình tượng Mẫu còn “nhập thân” vào Phật đài, khiến nhiều hình tượng Phật và Bồ Tát mang hình thức nữ giới. Tiêu biểu nhất là Quan Âm – vốn mang hình tượng nam ở Ấn Độ – nhưng khi vào Việt Nam đã được nữ tính hóa với nhiều dạng thức khác nhau như Bà Chúa Ba chùa Hương, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Tống Tử…, được dân gian gọi chung bằng danh xưng Phật Bà. Song song với không gian thờ Phật, điện thờ Mẫu vẫn luôn tồn tại độc lập, thường được bố trí trong khuôn viên chùa, tại các nhà phụ phía sau hoặc một dãy nhà ngang. Thực tế sinh hoạt tín ngưỡng cho thấy, nhiều nơi việc thờ Mẫu diễn ra sôi động đến mức khiến không ít nhà sư, đặc biệt là sư nữ, dành nhiều tâm lực cho điện Mẫu hơn cả chính điện Phật. Thực chất, điện Mẫu ở đây bao hàm một hệ thống thờ tự hoàn chỉnh từ Tứ Phủ Công Đồng đến Tứ Phủ Thánh Cô, Thánh Cậu.
Thứ ba, vấn đề đặt ra là: Tứ Pháp là ai? Có ý kiến cho rằng Tứ Pháp chính là Đức Phật, và cách hiểu này không hoàn toàn sai. Tuy nhiên, trước hết cần khẳng định rằng, Tứ Pháp nguyên là các thần linh nông nghiệp, được hình thành khi người Việt cổ lấy nghề trồng lúa làm nền tảng sinh kế, sau khi rời xa rừng núi, từ bỏ lối sống săn bắt – hái lượm. Trong hệ thống này, Man Nương giữ vị trí Phật Mẫu, mang nhiều đặc điểm của thần nước, thần phúc lành, là Mẹ của các thần liên quan đến hiện tượng tự nhiên, phảng phất hình ảnh Mẹ Xứ Sở.
Cụ thể:
- Pháp Vân: Thần tạo mây
- Pháp Vũ: Thần tạo mưa
- Pháp Lôi: Thần tạo sấm
- Pháp Điện: Thần tạo chớp
Đây là những vị thần “vì con người mà được sinh ra”. Đáng chú ý, các ngôi chùa nơi Tứ Pháp ngự trị đều mang tên gọi dân gian như chùa Bà Dâu, chùa Bà Đậu, chùa Bà Dàn, chùa Bà Tướng. Trong Phật điện, bên cạnh tượng Phật và Bồ Tát, ở vị trí trung tâm luôn là pho tượng lớn nhất – tượng Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Dàn, Bà Tướng. Các tượng này không ngồi trên tòa sen mà được đặt trong ngai, sơn màu cánh gián hoặc nâu sẫm – màu của đất phù sa châu thổ Bắc Bộ, đồng thời cũng là màu áo truyền thống của tăng ni miền Bắc. Phải chăng đây chính là biểu hiện sinh động của sự đan xen, hỗn dung văn hóa giữa Phật giáo và tín ngưỡng nông nghiệp cổ truyền?
Chính vì vậy, lễ hội tại các chùa Tứ Pháp thường được tổ chức vào đầu tháng Tư âm lịch, trùng với ngày Phật Đản (mồng 8 tháng 4):
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.
Do ý nghĩa sâu sắc và bền vững của Tứ Pháp trong nhận thức cộng đồng, các chùa liên quan luôn được quan tâm trùng tu, bảo tồn, trở thành những trọng điểm về nghệ thuật tạo hình của Phật giáo Việt Nam.
Thứ tư, về chùa Tổ của Tứ Pháp. Trong Phật điện chùa Pháp Vân hiện còn thờ một pho tượng đá nhỏ đặt trong khám gỗ, được cho là tượng Đức Thạch Quang, gắn với huyền tích Man Nương. Sự tích này được ghi chép sớm nhất trong Việt Điện U Linh (1339) và được trình bày chi tiết trong Cổ Châu Phật bản hạnh. Theo đó, Man Nương – “người Man”, tức người bản địa – là con gái của ông bà Tu Định, những cư sĩ tu tại gia ở làng Mãn Xá (cách chùa Dâu khoảng 1–2 km). Tại đây, từ lâu đã có chùa thờ Phật Mẫu Man Nương, được coi là chùa Tổ của hệ thống Tứ Pháp. Hàng năm, lễ hội được tổ chức đồng loạt tại cả năm chùa vào ngày mồng 8 tháng 4. Bốn pho tượng Tứ Pháp được rước về chùa Tổ bái vọng Mẹ, sau đó lần lượt trở về nơi thờ tự của mình.
Ngày nay, khó có thể hình dung chính xác diện mạo các chùa Tứ Pháp Việt cổ. Theo nhà nghiên cứu Phật học Nguyễn Lang, những ngôi chùa sớm nhất của Việt Nam chỉ là những “chùa nhà” nhỏ bé, khiêm nhường, chủ yếu làm bằng gỗ, tương tự các am sau này. Chùa Tổ và hệ thống chùa Tứ Pháp hẳn cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Hệ thống chùa Tứ Pháp tồn tại đến ngày nay là một di sản văn hóa lớn mà cha ông để lại. Tín ngưỡng Tứ Pháp với tư cách là một tín ngưỡng bản địa được Phật giáo hóa đã mở đầu cho một nét độc đáo trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam. Không chỉ là một hình thức tín ngưỡng đơn lẻ, Tứ Pháp đã trở thành một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, một sinh hoạt tín ngưỡng cộng đồng, phản ánh sinh động một phương diện quan trọng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.
Mối giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh
Trong tiến trình lịch sử hàng nghìn năm hình thành và phát triển, đời sống xã hội nói chung và đời sống tâm linh nói riêng của người Việt đã trải qua nhiều biến đổi sâu sắc. Bên cạnh các tôn giáo lớn được du nhập vào Việt Nam như Phật giáo, Nho giáo, Kitô giáo, hay những tôn giáo nội sinh ra đời trên mảnh đất này như Cao Đài, Hòa Hảo, còn tồn tại song song và phổ biến rộng rãi nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian. Chính sức sống bền bỉ và khả năng lan tỏa sâu rộng của các loại hình tín ngưỡng ấy trong cộng đồng dân cư đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của đông đảo học giả trong và ngoài nước.
Có thể nhận thấy rằng, tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là sản phẩm văn hóa đặc thù của người Việt, được hình thành trong mối quan hệ mật thiết với tự nhiên và xã hội. Nền tảng của hệ thống tín ngưỡng này gắn liền với phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước, mô hình gia đình tiểu nông lấy phụ quyền làm trung tâm, cùng môi trường sinh hoạt làng xã khép kín. Trên cơ sở những đặc trưng văn hóa và tư duy riêng, trong quá trình lịch sử, người Việt đã tiếp nhận và dung hợp nhiều yếu tố văn hóa – tinh thần ngoại sinh để bồi đắp, làm giàu thêm đời sống tinh thần của mình, đồng thời khẳng định bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.
Trong một loại hình tín ngưỡng cụ thể, có thể nhận diện nhiều lớp văn hóa khác nhau được tích hợp hoặc chồng lấn lên nhau. Chính quá trình tiếp nhận và dung hợp ấy đã tạo nên khả năng tự điều chỉnh linh hoạt của tín ngưỡng dân gian, giúp chúng không ngừng vận động, thích nghi với thực tiễn đời sống, qua đó giữ vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người Việt.
Tín ngưỡng thờ Mẫu có thể được hiểu là một loại hình tín ngưỡng dân gian tổng hợp, được cấu thành từ nhiều lớp tín ngưỡng khác nhau như thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần và tín ngưỡng Tam phủ – Tứ phủ. Điểm cốt lõi của tín ngưỡng này là niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu – đấng bảo trợ cho sự sinh tồn, sinh sôi và phát triển của con người.
Trong hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu, các Nữ thần được thờ phụng có thể là nhiên thần như Thần Sấm, Thần Mây, Thần Mưa, Thần Chớp (Tứ Pháp), Mẹ Lúa, Mẹ Chim, Mẹ Cá…; cũng có thể là các nhân thần – những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại được thần thánh hóa như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Ỷ Lan, Hai Bà Trưng, Bà Triệu…
Thờ Mẫu thần là bước phát triển từ tín ngưỡng thờ Nữ thần, trong đó chỉ những nữ thần mang chức năng sinh nở, nuôi dưỡng và che chở sự sống mới được tôn xưng là Mẫu. Danh xưng “Mẫu” gắn liền với vai trò sinh thành, chăm sóc và giáo dưỡng con người. Trong khi đó, trong hệ thống thờ Nữ thần vẫn tồn tại những nữ thần không bao hàm yếu tố sinh sản, như các “bà cô” – những người phụ nữ chết trẻ, không chồng con.
Tín ngưỡng thờ Tam phủ – Tứ phủ được xem là trình độ phát triển cao của tín ngưỡng thờ Mẫu. Ở cấp độ này, quá trình “chưng cất” hay chắt lọc từ tín ngưỡng đa thần đã hình thành một hệ thống các vị Mẫu cơ bản, bao gồm: Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải và Mẫu Địa Tiên Thánh Mẫu. Bốn vị Mẫu này đại diện cho bốn không gian vũ trụ – địa lý khác nhau: Mẫu Cửu Thiên cai quản vùng trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản rừng núi, Mẫu Thoải cai quản sông nước và Mẫu Địa cai quản mặt đất.
Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, tín ngưỡng thờ Mẫu không ngừng tiếp nhận ảnh hưởng từ nhiều hệ thống tín ngưỡng và tôn giáo khác như tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần tự nhiên, Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo.
Phật giáo được truyền vào Việt Nam từ những năm đầu Công nguyên bằng con đường hòa bình. Những tư tưởng từ bi, hỷ xả, vị tha trong giáo lý Phật giáo có nhiều điểm tương đồng với tinh thần nhân ái, bao dung, yêu thương và đùm bọc lẫn nhau trong đạo lý truyền thống của người Việt. Chính vì vậy, Phật giáo đã nhanh chóng hòa nhập với các tín ngưỡng bản địa như tục thờ Mẹ hay thờ Nữ thần, trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cư dân nông nghiệp Việt Nam. Hình tượng Man Nương trong Cổ Châu Phật bản hạnh là minh chứng sinh động cho sự gặp gỡ và dung hợp này.
Dưới ảnh hưởng của Phật giáo, các nữ thần nông nghiệp như Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn đã được Phật hóa, trở thành các Phật Bà trong hệ thống Tứ Pháp, vẫn mang đậm yếu tố cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng sinh sôi của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước: Pháp Vân (Mây), Pháp Vũ (Mưa), Pháp Lôi (Sấm), Pháp Điện (Sét).
Sự ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ Nữ thần thể hiện rõ nét trước hết ở không gian thờ tự của các ngôi chùa Tứ Pháp. Trong chính điện của các chùa này, tượng các nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Chớp được đặt ở vị trí trung tâm, với kích thước lớn, trong khám thờ trang trọng; trong khi tượng Phật Thích Ca, Bồ Tát, La Hán, Kim Cương chỉ được đặt ở vị trí phụ, phía ngoài. Điều này cho thấy sự đan xen giữa niềm tin vào các nữ thần bản địa và niềm tin Phật giáo, tạo nền tảng để Phật giáo xác lập vị trí trong cộng đồng người Việt.
Trung tâm của hệ thống chùa Tứ Pháp là chùa Tổ – nơi thờ Phật Mẫu Man Nương, nhân vật được nhiều học giả ví như hình ảnh “Mẹ Xứ sở” của người Việt. Ở hình tượng Man Nương, không chỉ hội tụ lòng từ bi, sự cứu độ đối với cộng đồng trong hoàn cảnh thiên tai, hạn hán, mà còn thể hiện tư cách của một Phật Mẫu – một vị Phật mang hình hài người mẹ, gần gũi, bao dung và che chở cho con người.
Sự hình thành và phát triển của hệ thống chùa Tứ Pháp vì thế vừa phản ánh sức sống mạnh mẽ của tín ngưỡng bản địa, vừa thể hiện xu hướng đề cao vai trò của nữ thần và người mẹ trong văn hóa nông nghiệp lúa nước. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, sự xuất hiện của Man Nương trong truyền thuyết và hệ thống chùa Tứ Pháp trong thực tế đã đánh dấu bước chuyển quan trọng của Phật giáo ở Việt Nam, từ “Phật giáo tại Việt Nam” sang “Phật giáo Việt Nam”. Nếu Man Nương là biểu hiện tiêu biểu cho sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Nữ thần trong giai đoạn đầu du nhập, thì Thánh Mẫu Liễu Hạnh lại là hình ảnh tiêu biểu cho sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu vào thế kỷ XVI.
Trong tâm thức dân gian, Liễu Hạnh là một trong Tứ Bất Tử, là Mẹ, là thần chủ của hệ thống Tam phủ – Tứ phủ. Nếu các Mẫu Thượng Thiên, Thoải, Thượng Ngàn, Địa lần lượt cai quản các miền trời, nước, rừng núi và mặt đất, thì Mẫu Liễu Hạnh là vị thần cai quản nhân gian – thế giới của con người. Đồng thời, Mẫu Liễu Hạnh còn có khả năng hóa thân vào các vị Mẫu khác để điều hòa các lực lượng tự nhiên, mang lại cuộc sống mưa thuận gió hòa cho nhân dân. Chính vì vậy, bà là một nhân thần được người Việt đặc biệt tôn kính.
Nhiều học giả đã chỉ ra các yếu tố dung hợp Tam giáo trong truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh. Tuy nhiên, trên hết, sự hình thành hình tượng này phản ánh nhu cầu tâm linh sâu sắc của người Việt. Ở Thánh Mẫu Liễu Hạnh, người dân tìm thấy hình ảnh một người Mẹ vừa gần gũi, vừa mang phẩm chất của một vị Bồ Tát: ban phúc, ban lộc cho người hiền lương, cứu giúp người nghèo khổ, đồng thời trừng phạt kẻ gian ác, bất công.
Do đó, việc kết thúc truyền thuyết bằng chi tiết Thánh Mẫu quy y Phật pháp – “Ta là công chúa Quỳnh Hoa ở Cung Tiên, thấy đạo Phật từ bi nên muốn quy y tụng niệm” – không phải là điều ngẫu nhiên. Chi tiết này đã góp phần lý giải hiện tượng trong nhiều ngôi chùa làng hiện nay, ban thờ Mẫu được đặt chung trong không gian thờ Phật, với quan niệm Mẫu đã quy y và trở thành Phật Mẫu.
Trong kết cấu chùa chiền ở đồng bằng Bắc Bộ, thường thấy sự kết hợp giữa không gian thờ Phật, thờ Mẫu và thờ thần thánh, được bài trí theo các mô thức khác nhau như tiền Phật hậu thần, tiền thần hậu Phật, hoặc cùng tồn tại song song trong một chỉnh thể thống nhất, có phân định chính – phụ.
Từ đó có thể khẳng định rằng, sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian, đặc biệt là tín ngưỡng thờ Mẫu, không chỉ xuất phát từ đặc điểm giáo lý của Phật giáo mà còn gắn chặt với nhu cầu tâm linh của người Việt. Việc tiếp nhận tín ngưỡng thờ Mẫu thông qua các truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã góp phần quan trọng bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của ngôi chùa trong đời sống tâm linh cộng đồng người Việt.
Thờ phụng
Các di tích thờ Phật mẫu Man Nương chủ yếu tập trung tại vùng đất phát tích của Phật giáo Tứ Pháp là Luy Lâu (nay thuộc Thuận Thành, Bắc Ninh) và lan tỏa sang các vùng lân cận thông qua hệ thống thờ Tứ Pháp. Trung tâm thờ cúng Phật Mẫu là Chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự) tọa lạc tại Mãn Xá, phường Hà Mãn, thị xã Thuận Thành, Bắc Ninh, thuộc quần thể chùa Tứ Pháp vùng Luy Lâu. Chùa được xây dựng trên nền nhà cũ của ông bà Tu Định, thân phụ và thân mẫu của Man Nương, sau khi hai người hiển Thánh. Phật Mẫu Man Nương được thờ ở vị trí trung tâm tòa thượng điện, tượng bà tọa thiền trên tòa sen cao gần 1,70m, phía trên là tượng ông bà Tu Định, góc bên phải thượng điện thờ sư tổ Khâu Đà La. Khối đá linh thiêng Thạch Quang Phật, vốn là người con gái của Man Nương được đặt vào cây Dung Thụ, sau này được tôn thờ tại Chùa Dâu cùng tượng Pháp Vân, cũng xuất phát từ Chùa Tổ. Chùa Tổ hiện được công nhận là di tích cấp Quốc gia từ năm 2001, còn lưu giữ nhiều cổ vật như tượng thờ, bia đá, sắc phong triều Khải Định, cùng các di tích gắn với sự tích bà như Giếng Man Nương và ao Mắt Rồng.
Phật Mẫu Man Nương cũng là mẹ của bốn pho tượng Phật nữ Tứ Pháp: Pháp Vân (Thần Mây), Pháp Vũ (Thần Mưa), Pháp Lôi (Thần Sấm) và Pháp Điện (Thần Chớp/Sét), được tạc từ thân cây Dung Thụ nơi bà gửi đứa con Phật. Hệ thống Tứ Pháp bao gồm bốn ngôi chùa ở Thuận Thành: Chùa Dâu thờ Pháp Vân, đồng thời là nơi thờ Thạch Quang Phật; Chùa Đậu thờ Pháp Vũ (hiện tượng thời Pháp thuộc tượng Pháp Vũ để tại Chùa Dâu); Chùa Tướng thờ Pháp Lôi; và Chùa Dàn thờ Pháp Điện. Hàng năm, vào ngày mồng 8 tháng Tư âm lịch, các tượng Tứ Pháp từ ba làng Đậu, Tướng, Dàn được rước về Chùa Dâu gặp Pháp Vân, sau đó cùng về Chùa Tổ để thăm Mẹ Man Nương, tạo thành mối liên kết mẹ-con bền chặt.
Ngoài quần thể Tứ Pháp ở Thuận Thành, các di tích thờ Phật Mẫu Man Nương còn xuất hiện ở nhiều địa phương khác. Trước cửa Chùa Thiên Định (Chùa Dâu) có mả Man Nương hay mả Thánh Mẫu, lưu giữ dấu tích tưởng niệm bà. Chùa Bà Đanh ở thôn Đanh, xã Ngọc Sơn, huyện Kim Bảng, Hà Nam, cũng thờ Tứ Pháp và có truyền thuyết tương đồng với Phật Mẫu Man Nương, gắn với vai trò nữ thần nông nghiệp điều khiển thiên nhiên. Một số nơi ở Hưng Yên như xã Dị Sử (Đương Hào), xã Cầu Tu, Đặng Xá (Ân Thi) và xã Bình Kiều (Đông Yên) cũng lập đền hoặc chùa thờ Pháp Vân, trong đó Chùa Pháp Vân ở Đặng Xá nổi tiếng linh ứng, được triều đình cầu đảo nhiều thời kỳ.
Sự tồn tại và duy trì của Chùa Tổ (Phúc Nghiêm Tự) cùng quần thể Tứ Pháp (Dâu, Đậu, Tướng, Dàn) cho thấy Phật Mẫu Man Nương là hình tượng trung tâm của tín ngưỡng Phật giáo bản địa sơ khai, biểu trưng cho sự hòa quyện giữa Phật giáo Ấn Độ với tín ngưỡng thờ Nữ thần và Thần Nông nghiệp của người Việt.
Hệ thống tự viện thờ tự Tứ Pháp
Nhóm Tứ Pháp Bắc Ninh
Hệ thống Tứ Pháp nguyên thủy và đầy đủ nhất nằm ở vùng Dâu nay thuộc thị xã Thuận Thành, Bắc Ninh:
- Chùa Dâu (tên chữ là Diên Ứng, Cổ Châu, Thiền Định) ở phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, thờ Pháp Vân, còn gọi là Bà Dâu
- Chùa Đậu tên chữ là Thành Đạo tự ở xã Thanh Khương và phường Hà Mãn, thờ Pháp Vũ, còn gọi là Bà Đậu
- Chùa Tướng (chùa Phi Tướng) tên chữ là Phi Tướng Đại Thiền tự ở phường Thanh Khương, thị xã Thuận Thành, thờ Pháp Lôi, còn gọi là Bà Tướng
- Chùa Dàn (chùa Dàn Câu) tên chữ là Trí Quả tự nằm ở thôn Phương Quan, phường Trí Quả, thờ Pháp Điện, còn gọi là Bà Dàn
- Chùa Tổ tên chữ là Phúc Nghiêm tự thờ Man Nương, mẹ của Tứ pháp.
- Chùa Đậu ở Bắc Ninh đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, nên pho tượng Pháp Vũ đem về thờ chung trong chùa Dâu. Ngoài ra còn có Chùa Huệ Trạch (Chùa Dàn Xuân Quan) cũng ở phường Trí Quả, gần chùa Trí Quả, chùa này thờ Pháp Thông Vương Phật trưởng quản Tứ Pháp. Cũng tại chùa Xuân Quan, năm 2004 người ta phát hiện tấm bia cổ nhất Việt Nam được biết đến gọi là Bia “Xá Lợi Tháp Minh”, nói về việc vua Tùy Văn Đế cấp xá lợi cho chùa Thiền Chúng ở Giao Châu.
Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nội
- Chùa Keo (Sùng Nghiêm) nằm ở xã Kim Sơn, huyện Gia Lâm thờ Pháp Vân, nên gọi là bà Keo
- Chùa Nành (Ninh Hiệp) xã Ninh Hiệp thờ Pháp Vân, gọi là bà Nành
- Chùa Sét (Đại Bi) nằm ở thôn Giáp Lục, xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì (nay là phường Tân Mai, quận Hai Bà Trưng), thờ cả Tứ Pháp
- Chùa Đậu (Thường Tín) thờ Pháp Vũ
- Ngoài ra ở Thanh Trì có chùa Pháp Vân, chùa Pháp Vũ.
Nhóm Tứ Pháp ở Hưng Yên
Xã Lạc Hồng:
- Chùa Thái Lạc thờ Pháp Vân
- Chùa Hồng Cầu thờ Pháp V
- Chùa Nhạc Miếu thờ Pháp Lôi
- Chùa Hồng Thái thờ Pháp Điện
Xã Lạc Đạo:
- Chùa Thôn Cầu thờ Pháp Vân
- Chùa Hoằng thờ Pháp Vũ
- Chùa Hướng Đạo thờ Pháp Lôi
- Chùa Tân Nhuế thờ Pháp Vân
Nhóm Tứ Pháp ở Hà Tây (cũ)
- Chùa Pháp Vân (xã Văn Bình, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vân
- Chùa Văn Hội (xã Văn Bình, huyện Thường Tín) thờ Pháp Lôi
- Chùa Đậu (Hà Nội) (chùa Thành Đạo, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín) thờ Pháp Vũ
- Chùa Pháp Vũ (xã Yên Sở, huyện Hoài Đức)
Nhóm Tứ Pháp ở Hà Nam
- Chùa Quế Lâm (chùa Bến, nên gọi là bà Bến), chùa Do Lễ, chùa Thôn Bốn, chùa Tiên thờ Pháp Vân, chùa Trinh Sơn, chùa Đặng Xá, chùa Bảo Sơn (chùa Bà Đanh) thờ Pháp Vũ (nên gọi là bà Đanh)
- Chùa Nứa thờ Pháp Lôi
- Chùa Bầu thờ Pháp Điện (gọi là bà Bầu)
- Các chùa khác như chùa Quyển Sơn (Thi Sơn, Kim Bảng), chùa Thanh Nộn, chùa Phú Viên, chùa và đình làng Lạt Sơn (xã Thanh Sơn, huyện Kim Bảng), chùa Chanh Thôn (Văn Xá, Kim Bảng) có phối tự thờ Tứ Pháp trong thần điện. Tại Hà Nam, Tứ Pháp đã được gọi bằng những cái tên nôm na thân mật. Dân làng Đanh Xá gọi Pháp Phong (gió) là bà Đanh (chùa Bà Đanh), dân làng Quế Lâm gọi Pháp Vân là bà Bến (chùa Quế Lâm), dân thành phố Phủ Lý gọi Pháp Điện là bà Bầu (chùa Bà Bầu)…
Một số vị trí thờ Pháp Phong
Chùa Bà Đanh ở Hà Nam thờ Pháp Phong (không biết tại sao trước đây bảng giới thiệu người ta vẫn ghi rõ là Pháp Phong, giờ bị gạch bỏ đổi thành vân). Trên núi Gôi (thị trấn Gôi, Vụ Bản, Nam Định) cũng có đền thờ Pháp Phong (ý kiến của PGS. TS. Trần Lâm Biền). Chùa Hạ Kỳ (Nghĩa Thịnh, Nghĩa Hưng, Nam Định) thờ Tứ Pháp, với thứ tự được tôn vinh là: nhất Phong, nhì Vũ, tam Vân, tứ Điện. Một nhà nghiên cứu trong một cuốn sách cũng hai lần nói đến Pháp Phong (Trần Lâm Biền, Con đường tiếp cận lịch sử, NXB Văn hoá Thông tin, H, 2013, tr. 48, 291)…
Trong các chùa thờ những nữ thần này, tượng của các nữ thần được tạc với kích thước to lớn hơn rất nhiều so với các tượng Phật. Hệ thống chùa Tứ pháp là chứng tích cho sự kết hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thủy ở Việt Nam.
Tham khảo
- Đỗ Thị Hảo (1984), Các Nữ Thần Việt Nam, Nxb Phụ Nữ.
- Nguyễn Hữu Vinh – Trần Đình Hoành (2015), Lĩnh Nam chích quái bình giải, Ebook https://dotchuoinon.com/wp-content/uploads/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf.
- Nguyễn Hữu Thụ, Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 4, Năm 2009.
- Ý nghĩa Phật giáo qua sự tích “Tứ Pháp chùa Dâu” (Kỳ 1), Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 24/06/2020.
- Thiện Tâm, Chùa Bà Đanh – Ngôi chùa thiêng thờ Tứ Pháp gắn với truyền thuyết Phật mẫu Man Nương, Báo Pháp luật.
- Phùng Thị An Na, Tín ngưỡng dân gian vùng Đồng bằng Sông Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, đăng ngày 16/10/2016.
- Phật Mẫu Man Nương, Wikipedia.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Phat Mau Man Nuong is a figure associated with early Vietnamese Buddhist legends, dating back to the period when Buddhism was first introduced into Vietnam.
Origins
According to legend, Phat Mau Man Nuong, whose real name was A Man, was born and raised in Man Xa village, also popularly known as Ke Men, in the Luy Lau region. Luy Lau was the center of the Tu Phap Buddhist cult and one of the most important Buddhist centers in Vietnam during the first centuries of the Common Era. Legend holds that in the 2nd century, Man Nuong lived in Man Xa, Sieu Loai district, present-day Thuan Thanh (Bac Ninh).
Today, To Pagoda (Phuc Nghiem Tu), where Phat Mau Man Nuong is worshipped, is located in Man Xa, Ha Man ward, Thuan Thanh town, Bac Ninh province. Man Nuong’s parents were Mr. and Mrs. Tu Dinh, who are worshipped above the statue of Phat Mau in the pagoda. According to legend, Mr. Tu Dinh was a devout Buddhist layman and a disciple of the monk Khau Da La. Although known for their virtue, the couple suffered from childlessness. After sincerely making offerings at the pagoda, they were granted a daughter, whom they named Man Nuong. It is believed that To Pagoda was built on the former site of their house, becoming the place where Phat Mau Man Nuong has been venerated to this day.
Life
The legend of Phat Mau Man Nuong (named A Man) is closely associated with the Tu Phap Buddhist tradition in the Luy Lau–Dau region during the early centuries of the Common Era. The work Linh Nam chich quai by Tran The Phap records the following account:
During the reign of Emperor Hien of the Han dynasty, the prefect Si Nhiep established his headquarters on the southern bank of the Binh Giang River (now the Thien Duc River). South of the citadel stood Phuc Nghiem Pagoda, where a monk from the Western Regions named Gia La Do Le resided. He possessed miraculous powers, such as standing on one leg, and was revered as a great master, attracting many followers seeking the Dharma.
At that time, there was a girl named Man Nuong whose parents had passed away, leaving her extremely poor. She came to the pagoda with sincere devotion to study Buddhism. Because she stuttered and could not chant sutras with the assembly, she worked in the kitchen, washing rice, preparing vegetables, and cooking for the monks and visitors.
One night in mid–fifth lunar month, Man Nuong finished cooking porridge, but the monks had not yet completed their chanting. While waiting by the kitchen doorway, she fell asleep. When the chanting ended, the monk Gia Le stepped over her body, after which Man Nuong mysteriously became pregnant. After three or four months, she returned home in shame, while Gia Le also left in embarrassment.
Man Nuong later stayed at a pagoda at a river junction, where she gave birth to a baby girl. She sought out Gia Le to return the child. One night, she placed the baby at the base of a tree at a crossroads, saying, “I entrust this child to the Buddha; keep her and she will attain Buddhahood.” Before departing, Gia Le gave Man Nuong a staff and instructed her: “If drought occurs, plant this staff into the ground to bring water and save the people.” Man Nuong respectfully accepted and returned to live at the pagoda.
During a severe drought, she planted the staff into the earth, and water gushed forth abundantly, saving the people.
When Man Nuong was over eighty years old, the tree associated with the child fell and drifted to the riverbank near the pagoda, where it remained stuck. Villagers attempted to chop it for firewood, but all axes broke. More than three hundred villagers tried unsuccessfully to move it. When Man Nuong came to wash her hands and lightly pulled the tree, it moved. Astonished, the villagers had craftsmen carve four Buddha statues from the wood. When they reached the section where the baby had been placed, it had transformed into an extremely hard stone. The stone was thrown into the river, emitting a brilliant light before sinking, and the craftsmen all perished. The villagers invited Man Nuong to perform rites and retrieved the stone for worship. Gia Le named the four statues Phap Van, Phap Vu, Phap Loi, and Phap Dien. Devotees from all regions gathered to celebrate with music and dance, forming what became known as the Bathing the Buddha Festival, which continues today.
Phat Mau Man Nuong passed away at Phuc Nghiem Pagoda (To Pagoda), at approximately eighty years old, or according to some sources, over ninety. She was revered as Phat Mau because she gave birth to the being (later transformed into stone) regarded as the precursor of the Tu Phap deities. Man Nuong embodies the integration of Indian Buddhism with indigenous Vietnamese Mother Goddess worship and is associated with agriculture and water control, possessing power over clouds, rain, thunder, and lightning.
Each year, on the eighth day of the fourth lunar month, the grand Bathing the Buddha Festival is held to commemorate her sacred role and contributions.
The Tu Phap Belief in the Spiritual Life of Ancient Vietnamese Farmers
The Tu Phap belief is a distinctive folk religion of ancient Vietnamese agricultural communities, reflecting the aspiration for favorable weather and abundant harvests—essential conditions for wet-rice farming. This aspiration is expressed in simple yet profound prayers:
O Heaven, let the rain fall,
So I may drink water,
So I may plow my fields,
So my bowl may be filled with rice,
So straw may fuel my stove…
In the Kinh Bac region, Tu Phap worship became a major rain-invoking center from antiquity through the 12th century and remained influential thereafter. Vietnamese historical records from the Ly, Tran, and Le dynasties note that during droughts, the court would conduct rain-invoking rituals at Phap Van Pagoda or escort the Phap Van statue to the capital Thang Long, returning it only after rainfall.
According to legend, in the late Eastern Han period, the Indian monk Khau Da La resided at Luy Lau. Man Nuong became pregnant and gave birth to a daughter, whom Khau Da La placed within a split tree trunk. After floods carried the tree to Luy Lau, only Man Nuong could move it, from which four Tu Phap statues were carved. Rituals invoking these statues produced storms and rain.
Under foreign domination, Buddhism served as both spiritual refuge and a vehicle for preserving indigenous beliefs. Vietnamese agricultural deities were thus gradually Buddhistized.
Tu Phap represents a Buddhistized form of Mother Goddess worship: “one” primordial essence manifested as “many” adaptive incarnations—clouds, rain, thunder, and lightning. This synthesis marked a critical stage in Vietnamese cultural history.
Worship
Sites venerating Phat Mau Man Nuong are concentrated in Luy Lau (Thuan Thanh, Bac Ninh) and spread through the Tu Phap system. The central shrine is To Pagoda (Phuc Nghiem Tu), built on the former home of her parents Tu Dinh. Man Nuong is worshipped at the center of the main sanctuary, seated in meditation on a lotus pedestal nearly 1.7 meters high. Above her are statues of her parents; to the right is Khau Da La.
The sacred stone Thach Quang Phat, originating from her child, is now worshipped at Dau Pagoda. To Pagoda was designated a National Monument in 2001 and preserves statues, steles, royal decrees, Man Nuong Well, and Dragon Eye Pond.
Phat Mau Man Nuong is regarded as the mother of the four female Buddha figures of Tu Phap:
- Phap Van (Cloud)
- Phap Vu (Rain)
- Phap Loi (Thunder)
- Phap Dien (Lightning)
Each year, on the eighth day of the fourth lunar month, the Tu Phap statues are ceremonially reunited with their mother at To Pagoda.
The Tu Phap Pagoda System
Bac Ninh Group
- Dau Pagoda (Phap Van – Lady Dau)
- Dau Pagoda (Thanh Dao Tu) – Phap Vu
- Tuong Pagoda – Phap Loi
- Dan Pagoda – Phap Dien
- To Pagoda – Man Nuong
Hanoi Group
- Keo Pagoda – Phap Van
- Nanh Pagoda – Phap Van
- Set Pagoda – Tu Phap
- Dau Pagoda (Thuong Tin) – Phap Vu
Hung Yen Group
Multiple pagodas worshipping each Tu Phap deity across Lac Hong and Lac Dao communes.
Ha Tay (former)
Pagodas dedicated to Phap Van, Phap Vu, and Phap Loi.
Ha Nam Group
Numerous pagodas, including Ba Danh Pagoda, worship Tu Phap under local names.
In these pagodas, statues of the female deities are significantly larger than Buddha statues, demonstrating the fusion of Buddhism with indigenous agrarian beliefs.
References
- Đỗ Thị Hảo (1984), Các Nữ Thần Việt Nam, Nxb Phụ Nữ.
- Nguyễn Hữu Vinh – Trần Đình Hoành (2015), Lĩnh Nam chích quái bình giải, Ebook https://dotchuoinon.com/wp-content/uploads/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf.
- Nguyễn Hữu Thụ, Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 4, Năm 2009.
- Ý nghĩa Phật giáo qua sự tích “Tứ Pháp chùa Dâu” (Kỳ 1), Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 24/06/2020.
- Thiện Tâm, Chùa Bà Đanh – Ngôi chùa thiêng thờ Tứ Pháp gắn với truyền thuyết Phật mẫu Man Nương, Báo Pháp luật.
- Phùng Thị An Na, Tín ngưỡng dân gian vùng Đồng bằng Sông Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, đăng ngày 16/10/2016.
- Phật Mẫu Man Nương, Wikipedia.
Tiếng Trung (中文)
基本信息
佛母曼娘是與越南佛教早期傳說相關的人物,時期為佛教剛傳入越南之時。
出身
傳說中,佛母曼娘,真名阿曼,出生並成長於滿舍村,又俗稱“乞孟”,位於儒樓地區,該地是四法佛教的中心,也是越南公元初期重要的佛教中心之一。根據傳說,二世紀時,曼娘居住在滿舍,隸屬於順城縣(今北寧省)。
目前,供奉佛母曼娘的祖寺(福嚴寺)位於北寧省順城鎮滿舍坊哈滿。曼娘的父母為屠定夫婦,供奉於佛母像上方。傳說屠定是一位虔誠的佛教居士,也是禪師邱陀羅的弟子。屠定夫婦以善良聞名,但育子不易。因虔誠參拜寺廟,他們獲得一名女兒,取名曼娘。據說祖寺建於屠定夫婦舊宅之上,至今仍是保存與供奉佛母曼娘的地方。
生平
佛母曼娘(阿曼)的傳說生平與儒樓-蔬地區四法佛教的歷史密切相關。《嶺南摭怪》記載:
漢獻帝時,太守是士燮,治所位於平江河南岸(今天德河)。城南有佛寺,名福嚴寺,有西方來的僧人,號伽羅圖黎住持此寺,能單足站立,眾人敬稱尊師,紛紛前來學道。
當時有一名叫曼娘的孤女,家貧父母已亡,也前來學佛。她口吃,不能與眾人誦經,常在廚下淘米、拾菜、為僧侶及遠方來客烹飪。五月中旬,夜短,曼娘煮的粥已熟,而僧人尚未誦經完,無法吃粥。曼娘坐在廚門旁,不料睡著了。僧人誦經完畢,各自回房。曼娘睡在廚門中,伽黎師經過她身邊,曼娘自然動胎。三四個月後,曼娘羞愧回寺外,伽黎師亦羞而離去。曼娘到達一座三叉河口的寺廟,留在那裡,滿月時生下一女,尋找伽黎師交還。夜晚,她抱著女孩至路旁大樹下說:“我寄托此佛子,你保管將來成佛道。”伽黎師與曼娘告別,給她一根杖,說:“我贈你此物,你回家,如遇大旱,用杖插地,可引水救民。”曼娘恭敬受命,回寺居住。遇大旱,杖插地,自然水湧,民眾受益。
曼娘八十餘歲時,那杖倒下漂至寺前河口,停留不動。村民見狀欲砍作柴,但斧皆斷,三百多人合力仍搬不動。曼娘下河洗手試拉,杖遂移動。眾人驚異,請曼娘將其拉上岸,命工匠雕刻四尊佛像。伐木至放置女孩處,發現已化為堅硬石塊,斧皆崩裂。眾人將石塊投入河中,一道光芒閃起,片刻後石沉水底,工匠皆死。村民邀曼娘參拜,派漁民打撈上岸,供奉於寺中。伽黎師為四尊佛像命名:法雲、法雨、法雷、法電。各地善男信女常聚寺中遊戲歌舞,稱佛浴會,至今仍有。
佛母曼娘圓寂於福嚴寺(祖寺),享年約八十歲,或據一些資料為九十餘歲,近百歲。民間尊稱她為佛母,因生前生下的孩子(石塊)被視為四法之前身。曼娘形象象徵印度佛教與越南民間母神信仰的融合,同時是農業與水利之神,能操控雲、雨、雷電。屠定夫婦舊宅後成祖寺(福嚴寺),供奉佛母曼娘於中央,亦是蔬-儒樓地區四法系統的中心。每年農曆四月初八舉行佛浴大祭,以紀念佛母曼娘的功德與神聖地位。
四法信仰在越南古代农民精神生活中的地位
四法信仰是越南古代农业社会特有的一种民间信仰形式,反映了农民对风调雨顺、五谷丰登的根本生存愿望。这种愿望凝结于质朴而深刻的祈祷词中:
天降甘霖
有水饮用
有田可耕
饭满一碗
柴草生灶…
在京北地区,四法信仰自古即为重要的祈雨中心,自古代延续至十二世纪,并在后世持续发挥影响。越南李、陈、黎诸代文献均记载:每遇大旱,朝廷常在法云寺举行祈雨仪式,或迎请法云像(“婆道”)入升龙一柱寺,待雨降后再迎回原寺。
传说东汉末年,士燮任交州太守(187–226),印度僧人丘陀罗至卢楼弘法,寄居于虔诚信徒家中。信徒之女曼娘怀孕生女,后将女交于僧人。丘陀罗念咒,使大树裂开,将婴儿置于其中。后暴风骤雨,树倒漂至卢楼城,士燮命人拉树不动,曼娘轻推即上岸,遂刻成四尊四法佛像。每遇旱灾,设坛祈雨,必得雷雨交作(Hữu Ngọc,2003)。
在北属时期,本土神灵亦与民众同遭外来压迫,佛教遂成为精神依托,并成为保存本土信仰的重要载体,使越南古老农业神灵得以“佛教化”。
越南人主动吸收佛教与中华文化中积极因素,将“一”化为“多”:“一”为真如、本体、佛母;“多”为顺应自然与社会的具体化身,即四法。然而四法信仰始终与民间信仰并存,形成复杂而值得持续研究的体系。
四法的具体神格:
- 法云:司云之神
- 法雨:司雨之神
- 法雷:司雷之神
- 法电:司电之神
这些神灵“为人而生”,其寺庙多以民间名称称呼,如婆道寺、婆豆寺、婆将寺、婆栏寺。佛殿中,四法女神像位居中央,体量最大,端坐宝座而非莲台,色泽似北部冲积土,体现佛教与农业信仰的文化交融。
供奉
佛母曼娘的主要供奉遺跡集中於四法佛教發源地儒樓(今北寧省順城),並通過四法供奉系統延伸至鄰近地區。佛母中心供奉地為祖寺(福嚴寺),位於北寧省順城鎮滿舍坊,屬儒樓四法寺群。寺建於曼娘父母屠定舊宅,兩人後被尊奉為聖。佛母曼娘供奉於正殿中央,坐於高約1.7米蓮座上,正上方為屠定夫婦像,右角供奉祖師邱陀羅。靈石佛(曼娘女兒化石)置於榕樹,後供奉於蔬寺,與法雲像同源,始於祖寺。祖寺自2001年起被列為國家級文物,保存多件古物,如佛像、石碑、啟定朝聖旨及與曼娘傳說相關的遺跡,如曼娘井與龍眼池。
佛母曼娘亦為四尊女佛——四法之母的母親:法雲(雲神)、法雨(雨神)、法雷(雷神)、法電(閃電神),均雕於曼娘托育孩子的榕樹。四法系統包括順城四寺:蔬寺供奉法雲,亦供靈石佛;豆寺供奉法雨(法屬時期法雨像置於蔬寺);將寺供奉法雷;單寺供奉法電。每年農曆四月初八,三村(豆、將、單)四法像會集蔬寺,再返回祖寺朝見曼娘,形成母子聯繫。
除順城四法寺群外,佛母曼娘供奉遺跡亦分布於多地。天定寺(蔬寺)門前有曼娘或聖母墓,保存其紀念痕跡。河南金榜縣玉山社班庵寺供奉四法,傳說與佛母曼娘相同,象徵掌控自然的農業女神。興安省的一些地區,如異史社(當豪)、橋涂社、鄧舍(恩施)、平喬社(東延)亦建有法雲廟或寺,其中鄧舍法雲寺靈驗,歷朝多次朝廷祈求。
祖寺(福嚴寺)及四法寺群(蔬、豆、將、單)的存在與延續表明,佛母曼娘是原始本土佛教信仰的核心形象,象徵印度佛教與越南母神與農業神信仰的融合。
因此,四法寺庙节庆多在农历四月初,与佛诞日重合:
不论百业经商
四月初八须归道会。四法祖寺与寺院体系
法云寺佛殿中至今供奉一尊小型石像,称“石光佛”,与曼娘传说相关。该事最早见于《越殿幽灵》(1339),详载于《古州佛本行》。
祖寺——福严寺——位于满舍村,被视为四法体系的源头。每年四月初八,四法佛像齐聚祖寺拜母后,再归各寺。
学者阮朗指出,越南最早的寺庙多为简朴木构“家寺”,四法祖寺亦当如此。
四法寺院体系至今仍存,是越南文化的重要遗产,标志着佛教从“在越南的佛教”转变为“越南佛教”的关键阶段。
佛教与母神信仰的交融——从佛母曼娘到圣母柳杏
(以下内容完整译述,略为收束表述)
越南精神生活历经多重变迁,佛教、儒教、基督教及本土宗教与民间信仰并存。母神信仰作为越南特有文化形态,根植于稻作农业与村社结构。
母神信仰体系涵盖自然女神、历史神化人物,如四法、稻母、柳杏圣母、瓯姬、二征姐妹等。
佛教的慈悲精神与母神信仰高度契合,使诸多农业女神被佛教化,形成佛母形象。曼娘象征早期融合,而十六世纪的柳杏圣母则代表成熟阶段。
柳杏既为母神,又具菩萨特质,其“归依佛法”的结局解释了佛寺中供奉母神的普遍现象。
由此可见,佛教与母神信仰的融合,既源于教义,也根植于越南人的精神需求,保障了寺庙在民间信仰中的持续生命力。
參考資料
- Đỗ Thị Hảo (1984), Các Nữ Thần Việt Nam, Nxb Phụ Nữ.
- Nguyễn Hữu Vinh – Trần Đình Hoành (2015), Lĩnh Nam chích quái bình giải, Ebook https://dotchuoinon.com/wp-content/uploads/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf.
- Nguyễn Hữu Thụ, Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 4, Năm 2009.
- Ý nghĩa Phật giáo qua sự tích “Tứ Pháp chùa Dâu” (Kỳ 1), Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 24/06/2020.
- Thiện Tâm, Chùa Bà Đanh – Ngôi chùa thiêng thờ Tứ Pháp gắn với truyền thuyết Phật mẫu Man Nương, Báo Pháp luật.
- Phùng Thị An Na, Tín ngưỡng dân gian vùng Đồng bằng Sông Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, đăng ngày 16/10/2016.
- Phật Mẫu Man Nương, Wikipedia.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations generales
La Mère Bouddha Man Nuong est un personnage lie aux legends du bouddhisme vietnamien des premiers temps, lorsque le bouddhisme fut introduit au Viet Nam.
Origine
La legende raconte que la Mère Bouddha Man Nuong, de son vrai nom A Man, est nee et a grandi au village de Man Xa, aussi appele Kẻ Men, dans la region de Luy Lau, centre du bouddhisme Tu Phap et l’un des centres bouddhiques importants du Viet Nam aux premiers siecles de l’ere commune. Selon la tradition, au IIe siecle, Man Nuong vivait a Man Xa, district de Sieu Loai, Thuan Thanh (Bac Ninh).
Aujourd’hui, le Chua To (Phuc Nghiem Tu), lieu de culte de la Mère Bouddha Man Nuong, se situe a Man Xa, quartier Ha Man, ville de Thuan Thanh, province de Bac Ninh. Les parents de Man Nuong etaient Tu Dinh et son epouse, veneres au-dessus de la statue de la Mère Bouddha dans le temple. La legende raconte que Tu Dinh etait un laic bouddhiste pieux et disciple du maitre de meditation Khau Da La. Sa famille etait reputee pour sa bonté mais avait des difficultés a avoir des enfants. Apres avoir fait des offrandes avec devotion au temple, ils furent benis d’une fille qu’ils nommerent Man Nuong. La tradition indique que le Chua To fut construit sur l’ancien domicile de Tu Dinh et de son epouse, devenant le lieu de conservation et de culte de la Mère Bouddha Man Nuong jusqu’a aujourd’hui.
Vie
La legende de la vie de la Mère Bouddha Man Nuong (A Man) est liee aux recits bouddhiques de Tu Phap dans la region de Luy Lau – Dau aux premiers siecles de l’ere commune. Le livre « Lĩnh Nam chích quái » de Tran The Phap rapporte :
Sous le regne de l’empereur Hien de la dynastie Han, le chef de province Si Nhiep etablit sa residence au sud de la riviere Binh Giang (aujourd’hui riviere Thien Duc). Au sud de cette cite se trouvait le temple Phuc Nghiem, avec un moine venu de l’Ouest, surnomme Gia La Do Le, qui etait abbé, pratiquant un etonnement : se tenir sur un seul pied. Tous le respectaient et venaient apprendre la doctrine.
A cette epoque, une jeune fille nommee Man Nuong, orpheline et tres pauvre, vint egalement et suivit assiduement les enseignements du Bouddha. A cause de son bégaiement, elle ne pouvait chanter les sutras avec les autres et restait souvent dans la cuisine, lavant le riz, ramassant des legumes et preparant les repas pour les moines et les visiteurs. Au milieu du cinquieme mois, lors d’une courte nuit, le porridge qu’elle preparait fut pret alors que les moines n’avaient pas termine leur chant ; elle s’assit pres de la porte de la cuisine et s’endormit. Les moines rentres dans leurs chambres, le moine Gia Le passa pres d’elle. Man Nuong tomba enceinte. Apres trois ou quatre mois, honteuse, elle retourna au temple et donna naissance a une fille, qu’elle deposa la nuit au pied d’un arbre a un carrefour, disant : « Je confie cet enfant au Bouddha, garde-la et elle atteindra l’illumination ». Gia Le donna a Man Nuong un baton en lui disant : « Si une annee de secheresse arrive, plante ce baton dans la terre et fais couler l’eau pour sauver le peuple ». Elle obeissait, et lors d’une grande secheresse, planta le baton et de l’eau jaillit, sauvant la population.
Lorsque Man Nuong avait plus de quatre-vingts ans, le baton tomba dans la riviere pres du temple. Les villageois essayèrent de le couper pour le bois de chauffe, mais toutes les haches se cassaient. Trois cents personnes essayèrent de le tirer, en vain. Man Nuong alla au rivage pour se laver les mains et, en essayant de tirer, le baton bougea. Etonnes, les villageois le remirent sur la rive et firent sculpter quatre statues de Bouddha. En sciant le bois au niveau de l’enfant, ils trouvèrent une pierre tres dure qui cassa toutes les haches. Ils jetèrent la pierre dans la riviere, un rayon de lumière surgit et les ouvriers moururent tous. Man Nuong fut invitee a presider au culte et la pierre fut retrouvee et doree au temple. Le moine Gia Le nomma les quatre statues : Phap Van, Phap Vu, Phap Loi et Phap Dien. Les fideles venaient de partout pour se rassembler et celebrer, un evenement aujourd’hui connu sous le nom de la fete du Bain de Bouddha.
La Mère Bouddha Man Nuong deceda au Chua Phuc Nghiem (Chua To) a environ 80 ans, ou selon certaines sources, plus de 90 ans. Elle fut venerée comme la Mère Bouddha car elle avait mis au monde l’enfant (la pierre) considéré comme l’antecedent des Tu Phap. Man Nuong symbolise l’integration du bouddhisme indien avec le culte populaire vietnamien des divinités feminines, ainsi qu’une divinite liee a l’agriculture et l’irrigation, capable de controler les elements tels que nuages, pluie, tonnerre et eclairs. L’ancienne maison de Tu Dinh devint le Chua To, lieu central du culte de Man Nuong et du systeme Tu Phap de la region Dau – Luy Lau. Chaque annee, le 8e jour du 4e mois lunaire, se tient la grande fete du Bain de Bouddha pour honorer ses merites et son role sacre.
La croyance des Quatre Lois dans la spiritualite paysanne vietnamienne ancienne
La croyance des Quatre Lois constitue une forme de religion populaire caracteristique des societes agricoles vietnamiennes anciennes, exprimant le desir de pluies favorables et de recoltes abondantes, conditions essentielles de la riziculture. Ce souhait se manifeste dans des prieres simples mais profondes invoquant l’eau, la terre et la subsistance.
Dans la region de Kinh Bac, ce culte fut un centre majeur de prieres pour la pluie depuis l’Antiquite jusqu’au XIIe siecle. Les chroniques des dynasties Ly, Tran et Le rapportent que lors de grandes secheresses, la cour transportait la statue de Phap Van depuis Kinh Bac jusqu’a la capitale Thang Long pour invoquer la pluie.
Sous la domination chinoise, le bouddhisme joua un role de refuge spirituel, permettant de preserver les divinites agricoles locales en les integrant au systeme bouddhique. Ainsi, les divinites agricoles furent progressivement bouddhisees.
Dans ce systeme, Man Nuong occupe la position de Mere Bouddha, entite originelle donnant naissance aux manifestations multiples que sont les Quatre Lois :
- Phap Van : divinite des nuages
- Phap Vu : divinite de la pluie
- Phap Loi : divinite du tonnerre
- Phap Dien : divinite des eclairs
Les pagodes des Quatre Lois portent toutes des appellations feminines populaires et abritent en leur centre des statues feminines imposantes, assises sur des trones et non sur des lotus, symbolisant la terre alluviale et la culture agricole.
Syncretisme entre bouddhisme et culte de la Mere
Le culte de la Mere constitue une religion populaire composite, integrant le culte des deesses naturelles, des Meres divines et le systeme des Trois Palais et Quatre Palais. Sous l’influence du bouddhisme, ces figures feminines furent transformees en Bouddhas feminins, tout en conservant leurs fonctions agricoles et protectrices.
Man Nuong est souvent comparee a une « Mere de la Patrie », incarnant compassion, protection et salut communautaire. Cette dynamique de syncretisme atteint son apogee au XVIe siecle avec la figure de la Sainte Mere Lieu Hanh, autre incarnation majeure de la fusion entre bouddhisme et culte de la Mere.
Culte
Les sites de culte de la Mère Bouddha Man Nuong se concentrent principalement dans la region d’origine du bouddhisme Tu Phap, Luy Lau (aujourd’hui Thuan Thanh, Bac Ninh) et se sont etendus aux regions voisines via le systeme Tu Phap. Le centre est le Chua To (Phuc Nghiem Tu), situe a Man Xa, quartier Ha Man, ville de Thuan Thanh, Bac Ninh, partie du complexe Tu Phap de Luy Lau. Construit sur l’ancienne maison de Tu Dinh et de son epouse, il abrite la statue centrale de Man Nuong en meditation sur un lotus de pres de 1,70 m, au-dessus de laquelle se trouvent les statues de Tu Dinh, et a droite du hall principal, la statue du maitre Khau Da La. La pierre sacrée Thach Quang Phat, ancienne fille de Man Nuong, est placee dans l’arbre Dung Thu et vénérée plus tard au Chua Dau avec Phap Van, origine du Chua To. Le temple est reconnu site national depuis 2001, conservant de nombreux artefacts comme statues, steles, edicts de la dynastie Khai Dinh, et des sites liés a sa legende tels que le puits Man Nuong et l’etang Oeil du Dragon.
Man Nuong est aussi considerée comme la mere des quatre Bouddhas feminins Tu Phap : Phap Van (dieu des nuages), Phap Vu (dieu de la pluie), Phap Loi (dieu du tonnerre) et Phap Dien (dieu des eclairs), sculptés dans l’arbre Dung Thu ou elle deposa son enfant. Le systeme Tu Phap comprend quatre temples a Thuan Thanh : Chua Dau (Phap Van et Thach Quang Phat), Chua Dau (Phap Vu, parfois deplacé durant la periode coloniale), Chua Tuong (Phap Loi), et Chua Dan (Phap Dien). Chaque annee, le 8e jour du 4e mois lunaire, les statues des Tu Phap de trois villages sont rassemblees a Chua Dau pour rencontrer Phap Van, puis retournees au Chua To pour rendre hommage a la Mère Man Nuong, renforçant le lien maternel.
Outre le complexe Tu Phap de Thuan Thanh, des lieux de culte de Man Nuong existent dans plusieurs localites. Devant le Chua Thien Dinh (Chua Dau) se trouve la tombe de Man Nuong ou Sainte Mere. Chua Ba Danh a Ngoc Son, district de Kim Bang, Ha Nam, vénère aussi les Tu Phap avec une legende semblable, liee a la divinite agricole controlant la nature. Dans la province de Hung Yen, des temples sont consacrés a Phap Van, notamment Chua Phap Van a Dang Xa, celebre pour sa reputation de lieu miraculeux.
La preservation du Chua To (Phuc Nghiem Tu) et du complexe Tu Phap (Dau, Dau, Tuong, Dan) montre que la Mère Bouddha Man Nuong est la figure centrale du bouddhisme indigene primitif, symbolisant la fusion entre le bouddhisme indien et le culte vietnamien des divinités feminines et de l’agriculture.
Culte et lieux de veneration
Les sites de culte de la Mere Bouddha Man Nuong sont principalement concentres dans la region de Luy Lau (actuelle Thuan Thanh, Bac Ninh) et s’etendent a de nombreuses provinces du Nord du Viet Nam. Le centre du culte est la Pagode des Origines (Phuc Nghiem Tu), classee monument national depuis 2001.
Man Nuong y est venerée au centre du sanctuaire principal, tandis que ses quatre filles divines, les Bouddhas feminins des Quatre Lois, sont honorees dans les pagodes de Dau, Dau, Tuong et Dan. Chaque annee, leurs statues sont processionnees vers la pagode mere afin de symboliser le lien maternel sacre.
Le reseau des pagodes des Quatre Lois
Le systeme originel le plus complet se situe a Thuan Thanh, Bac Ninh, comprenant la pagode Dau (Phap Van), la pagode Dau (Phap Vu), la pagode Tuong (Phap Loi), la pagode Dan (Phap Dien) et la pagode des Origines (Man Nuong). D’autres groupes existent a Hanoi, Hung Yen, Ha Nam, Ha Tay et Nam Dinh.
Ce reseau de pagodes constitue un temoignage majeur du syncretisme entre bouddhisme et croyances autochtones vietnamiennes, illustrant une etape fondamentale dans la formation du bouddhisme vietnamien en tant que tradition culturelle originale et vivante.
References
- Đỗ Thị Hảo (1984), Các Nữ Thần Việt Nam, Nxb Phụ Nữ.
- Nguyễn Hữu Vinh – Trần Đình Hoành (2015), Lĩnh Nam chích quái bình giải, Ebook https://dotchuoinon.com/wp-content/uploads/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf.
- Nguyễn Hữu Thụ, Đôi điều về sự tiếp xúc giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu qua truyền thuyết Phật Mẫu Man Nương và Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 4, Năm 2009.
- Ý nghĩa Phật giáo qua sự tích “Tứ Pháp chùa Dâu” (Kỳ 1), Tạp chí Nghiên cứu Phật học, đăng tải ngày 24/06/2020.
- Thiện Tâm, Chùa Bà Đanh – Ngôi chùa thiêng thờ Tứ Pháp gắn với truyền thuyết Phật mẫu Man Nương, Báo Pháp luật.
- Phùng Thị An Na, Tín ngưỡng dân gian vùng Đồng bằng Sông Hồng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, đăng ngày 16/10/2016.
- Phật Mẫu Man Nương, Wikipedia.