An Toàn Hoàng hậu (1194-1210)

An Toàn Hoàng hậu (1194-1210)

Thông tin cơ bản

Hoàng hậu nhà Lý

Không rõ xuất thân của An Toàn Hoàng Hậu, chỉ biết bà có người anh Đàm Dĩ Mông từng giữ chức Hỏa đầu dưới thời vua Lý Anh Tông và sau đó được thăng tiến trở thành đại thần.

Tháng 3 năm 1186, dưới triều vua Lý Cao Tông, bà được phong làm An Toàn Nguyên phi, trở thành một trong những phi tần có địa vị cao nhất trong hậu cung.

Đến tháng 7 năm 1194, bà sinh hoàng tử Lý Hạo Sảm. Sự kiện sinh thái tử khiến địa vị của bà càng thêm vững chắc, và ngay trong năm đó, bà được sắc phong làm An Toàn Hoàng hậu.

Biến cố xảy ra vào năm 1209 khi Quách Bốc dẫn quân chiếm Thăng Long, gây nên cuộc loạn được sử gọi là “loạn Quách Bốc”. Trước tình thế nguy hiểm, vua Cao Tông phải chạy lên Quy Hóa (thuộc vùng Lâm Thao ngày nay). Hoàng thái tử Lý Sảm cùng Đàm Hoàng hậu cũng phải rời kinh, chạy về vùng Hải Ấp. Tại đây, hai mẹ con được Trần Lý và Phạm Ngu đón tiếp, Trần Lý đón Thái tử về lập làm Thắng Vương, cùng mưu việc lớn.

Khi chạy loạn về Hải Ấp, Thái tử Lý Hạo Sảm kết hôn với Trần thị, con gái Trần Lý. Đồng thời, các nhân vật trong phe Trần như Trần Lý, Phạm Ngu và Tô Trung Từ đều được trao chức tước để củng cố thế lực.

Nhờ danh nghĩa của Thái tử, họ Trần tập hợp binh lực kéo quân về Thăng Long, đánh bại Quách Bốc và đưa vua Cao Tông trở lại kinh thành. Không lâu sau, Đàm Hoàng hậu và Thái tử cũng được rước về triều. Tuy nhiên, Hoàng hậu tỏ rõ sự không bằng lòng với mối quan hệ mới giữa Thái tử và Trần Thị Dung.

Hoàng thái hậu nhà Lý

Năm 1210, Cao Tông Hoàng đế băng hà. Thái tử Lý Hạo Sảm lên ngôi, tức Lý Huệ Tông. Đàm Hoàng hậu được tôn làm Hoàng thái hậu, sử sách thường gọi bà là Đàm Thái hậu. Đàm Thái hậu là người cứng rắn, đích thân bà cùng Huệ Tông nghe chính sự, lại phong em trai là Dĩ Mông làm Thái sư, cùng Thái hậu trông coi triều chính, Huệ Tông không can dự vào.

Đàm Dĩ Mông là người không có học thức, lại nhu nhược không quyết đoán, mọi việc do Đàm Thái hậu quyết định. Thái hậu là người chỉ nghĩ đến dòng họ và củng cố quyền lực nên không có chính sách gì đối với tình hình quốc gia mà chỉ gia tăng thế lực nhằm củng cố địa vị. Từ đó chính sự nhà Lý càng bất ổn.

Tranh đấu với họ Trần

Ngay sau khi lên ngôi quyền thần, Tô Trung Từ lập tức giết đại thần Đỗ Kính Tu rồi gây chiến với các cựu thần nhà Lý như Đỗ Quảng, Đỗ Thế Qυi và Phí Lệ. Tất cả đều bị ông ta trừ khử, giúp Trung Từ nắm trọn binh quyền. Huệ Tông buộc phải phong ông làm Thái úy và chịu sự khống chế.

Huệ Tông vốn sủng ái Trần Thị Dung, rước bà về kinh phong làm Nguyên phi, đồng thời phong anh bà là Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu.

Năm 1211, Tô Trung Từ bị giết, nhà Lý tạm thoát sự kìm kẹp. Tuy nhiên thế lực triều đình đã suy yếu, phải dựa vào các họ lớn. Đúng lúc ấy, chúa họ Đoàn ở Hồng Châu – Đoàn Thượng – đang tranh chấp với Trần Tự Khánh, liền vu cáo rằng Tự Khánh mưu phản. Huệ Tông tin lời, lại thêm Đàm Thái hậu gièm pha, nên giáng Trần Thị Dung xuống làm Ngự nữ. Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi kéo quân về kinh, được Huệ Tông phong tước hầu và kêu gọi các chư hầu hợp sức đánh Trần Tự Khánh.

Trong khi đó, Tự Khánh đang mở rộng thế lực, đánh chiếm nhiều vùng, đặc biệt là Hồng Châu; từ Lạng Châu đến núi Tam Trĩ hầu như nằm trong tay họ Trần. Nghe tin Trần Thị Dung bị thất thế, ông kéo quân đến bến Tế Giang, áp sát Thăng Long để bảo vệ.

Đàm Thái hậu nghi ngờ Tự Khánh có ý lật ngôi, nên ra tay tàn độc: bà sai dìm chết ba hoàng tử—Nhân Quốc vương, Lục hoàng tử và Thất hoàng tử—rồi đem xác vứt ra ngoài thành. Quần thần ai nấy sợ hãi, không dám can gián. Nhờ thế ngôi vị Huệ Tông tạm thời an toàn, không lo bị thay thế.

Nhận thấy họ Trần đang mạnh lên, Huệ Tông buộc các quan phải nghe lệnh Tự Khánh. Nhưng đồng thời ông và Đàm Thái hậu vẫn bí mật tìm cách tiêu diệt họ Trần.

Đầu năm 1213, Thái hậu âm thầm liên kết các tướng ở đạo Phù Lạc và Bắc Giang, hẹn ngày phát binh đánh Tự Khánh. Đến kỳ hạn, các tướng Phan Thế và Ngô Mãi tiến quân đến cửa Đại Hưng. Tự Khánh khi ấy đang ở bến Đại Thông, liền kéo quân vào kinh, tiến thẳng cấm thành, đốt cầu Ngoạn Thiềm rồi rút về Đại Thông.

Sau khi kiểm soát gần toàn bộ vùng hạ lưu sông Hồng và sông Đáy (trừ Đại Hoàng), Tự Khánh tiếp tục mở rộng lên Quốc Oai – nơi vốn do Nguyễn Tự quản lý. Khi Nguyễn Tự mất, phó tướng Nguyễn Cuộc lên thay. Trần Tự Khánh tiến quân, dụ hàng được Nguyễn Cuộc, khiến thanh thế họ Trần ngày càng lớn mạnh.

Lý Huệ Tông cùng Thái sư Đàm Dĩ Mông tự dẫn quân phối hợp với lực lượng Hồng Châu để đánh Trần Tự Khánh. Khi đến Mễ Sở, họ gặp quân họ Trần do Vương Lê và Nguyễn Cải chỉ huy. Chưa giao chiến, chỉ mới nghe quân họ Trần hò reo xung phong, quân triều đình đã tan vỡ. Vương Lê và Nguyễn Cải thu được thuyền rồng. Ở hướng Bắc Giang, cánh quân của Đàm Dĩ Mông tới bến An Diên thì bị Trần Thừa đánh bại.

Cùng lúc đó, Trần Thủ Độ và Trần Hiến Sâm tấn công từ tả ngạn, đánh bại thêm quân triều đình. Tại Quốc Oai, Phan Lân và Nguyễn Nộn tiếp tục đánh thắng Đoàn Cấm, Vũ Hốt của Hồng Châu. Thế lực suy sụp, Lý Huệ Tông phải chạy lên Lạng Châu.

Tự Khánh chiếm kinh đô rồi gửi thư lên Lạng Châu thanh minh: ông khởi binh vì dân oán giận triều đình, muốn trừ loạn chứ không chống vua, xin Huệ Tông trở lại kinh để yên lòng dân. Tuy nhiên vua không chấp nhận. Không đón được vua, Tự Khánh lập Huệ Văn vương (con Lý Anh Tông) lên ngôi.

Mưu hại Trần Thị Dung

Năm 1216, Trần Thị Dung trước là Ngự nữ sau được phong làm Thuận Trinh Phu nhân. Thái hậu nhiều lần mắng bà là giặc và ép Huệ Tông đuổi đi. Bà thậm chí cho người bỏ độc vào thức ăn của con dâu, nhưng Huệ Tông phát hiện nên tự chia phần ăn và giữ Trần Thị Dung ở cạnh mình.

Căm ghét chưa nguôi, Thái hậu lại sai mang chén thuốc độc bắt phu nhân tự tử. Huệ Tông ngăn lại, rồi đêm đó đưa Trần Thị Dung lẻn bỏ trốn tìm đến quân của Tự Khánh. Trên đường phải nghỉ lại nhà tướng Lê Mịch, rồi được Vương Lê mang thuyền đón về Cứu Liên. Huệ Tông truyền gọi Tự Khánh đến chầu.

Đón được vua, Tự Khánh liền phế Nguyên vương mà ông từng lập trước đó. Tháng 12/1216, Trần Thị Dung được tôn làm Thuận Trinh Hoàng hậu.

Tháng 4 cùng năm, loạn lại nổi lên ở Cảo Xã do Đỗ Át và Đỗ Nhuế cầm đầu. Huệ Tông dựa vào Lý Bát nhưng không dẹp được, đành quay về nhờ họ Trần. Tự Khánh sai Vương Lê đưa thủy quân đi rước vua về Cứu Liên.

Từ đây, họ Trần nắm toàn bộ quyền lực: Tự Khánh làm Thái úy, Trần Thừa giữ chức Nội thị phán thủ, Trần Liễu, Phùng Tá Chu, Lại Linh đều được phong tước, con Tự Khánh là Trần Hải được phong vương. Có thế lực trong tay, Tự Khánh quyết đánh dẹp các thế lực chống đối như Bắc Giang vương Nguyễn Nộn, Hiền Tín vương Lý Bát, Hồng hầu Đoàn Văn Lôi và Hà Cao ở Quy Hóa.

Cuối đời

Lý Huệ Tông mắc bệnh rồi hóa cuồng, triều chính hoàn toàn rơi vào tay họ Trần. Ông truyền ngôi cho con gái là Chiêu Thánh Công chúa (Lý Chiêu Hoàng) và đi tu ở chùa Phù Liệt.

Năm 1225, Chiêu Hoàng cùng cha xuất gia. Năm sau, Huệ Tông bị Trần Thủ Độ bí mật sát hại. Chiêu Hoàng theo sắp đặt của Trần Thủ Độ kết hôn với Trần Cảnh và sau đó nhường ngôi, mở đầu triều Trần.

Kết cục của Đàm Thái hậu không được sử sách ghi lại.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Empress An Toan (1194–1210)

Empress of the Ly Dynasty

The origins of Empress An Toan are unknown. It is only recorded that she had an elder brother, Dam Di Mong, who once served as Hoa dau under King Ly Anh Tong and later rose through the ranks to become a high-ranking minister.

In the third lunar month of 1186, during the reign of King Ly Cao Tong, she was granted the title An Toan Nguyen phi, becoming one of the highest-ranking consorts in the imperial harem.

In the seventh lunar month of 1194, she gave birth to Prince Ly Hao Sam. The birth of the heir further solidified her status, and in that same year she was granted the rank of Empress An Toan.

The 1209 Crisis

In 1209, Quach Boc led troops to seize Thang Long, sparking what the chronicles call the “Quach Boc Rebellion.” Facing grave danger, King Cao Tong fled to Quy Hoa (in the region of present-day Lam Thao). The Crown Prince Ly Sam and Empress Dam also left the capital, fleeing to Hai Ap. There, mother and son were received by Tran Ly and Pham Ngu. Tran Ly brought the crown prince to his residence and set him up as Thang Vuong, joining in plans for restoring order.

While in refuge at Hai Ap, Prince Ly Hao Sam married Tran Thi, the daughter of Tran Ly. Members of the Tran faction—Tran Ly, Pham Ngu, and To Trung Tu—were granted ranks and titles to strengthen their political standing.

Under the crown prince’s authority, the Tran family gathered forces, marched on Thang Long, defeated Quach Boc, and escorted King Cao Tong back to the capital. Soon afterward, Empress Dam and the crown prince were also brought back. However, the empress showed clear displeasure toward the prince’s new relationship with Tran Thi Dung.

Empress Dowager of the Ly Dynasty

In 1210, Emperor Cao Tong passed away. Crown Prince Ly Hao Sam ascended the throne as Ly Hue Tong. Empress Dam was elevated to Empress Dowager, commonly referred to in the chronicles as Dowager Dam.

Dowager Dam was strong-willed. She participated directly in state affairs alongside Hue Tong and appointed her brother, Di Mong, as Thai su, granting him authority to oversee court administration. The king himself had little involvement.

Dam Di Mong lacked education and was indecisive; all matters were decided by the empress dowager. Focused solely on advancing her lineage and consolidating power, she implemented no policies addressing national instability. Instead, her actions destabilized the Ly government even further.

Struggles with the Tran Clan

Upon rising to power, To Trung Tu immediately executed the high official Do Kinh Tu and then attacked senior Ly officials such as Do Quang, Do The Qui, and Phi Liet. All were eliminated, allowing Trung Tu to monopolize military power. Hue Tong had no choice but to grant him the title Thai uy and submit to his control.

Hue Tong, who favored Tran Thi Dung, summoned her to the capital and promoted her to Nguyen phi, while granting her brother Tran Tu Khanh the title Chuong Thanh hau.

In 1211, To Trung Tu was killed, temporarily freeing the Ly court from his domination. However, the central government was already weakened and forced to rely on powerful regional clans. At this time, Doan Thuong, the lord of the Doan clan in Hong Chau, who was embroiled in conflict with Tran Tu Khanh, accused Tu Khanh of treason. Believing the accusation—and influenced by the slander of Dowager Dam—Hue Tong demoted Tran Thi Dung to Ngu nu. Doan Thuong and Doan Van Loi were summoned to the capital, granted noble titles, and mobilized by Hue Tong to launch a cooperative assault against Tran Tu Khanh.

Meanwhile, Tu Khanh was expanding his influence, capturing numerous territories, especially Hong Chau; the region from Lang Chau to Mount Tam Tri was effectively under Tran control. When he heard that Tran Thi Dung had fallen from favor, he advanced to Te Giang near Thang Long to protect her.

Suspecting that Tu Khanh intended to seize the throne, Dowager Dam acted ruthlessly: she ordered the drowning of three princes—Nhan Quoc Vuong, the Sixth Prince, and the Seventh Prince—and had their bodies thrown outside the city gates. Terrified, none of the courtiers dared to protest. Hue Tong’s position was temporarily secured from being replaced.

Realizing the Tran clan was growing stronger, Hue Tong compelled the court to obey Tu Khanh’s commands. Nevertheless, he and Dowager Dam continued to secretly plot the destruction of the Tran faction.

In early 1213, the empress dowager covertly allied with commanders from Phu Lac and Bac Giang, setting a date to attack Tu Khanh. At the appointed time, generals Phan The and Ngo Mai marched toward the Dai Hung Gate. Tu Khanh, then stationed at Dai Thong, immediately moved troops into the capital, penetrated the forbidden city, burned the Ngoan Thiem Bridge, and withdrew again to Dai Thong.

After securing nearly the entire downstream region of the Red River and the Day River (except Dai Hoang), Tu Khanh moved on to pacify Quoc Oai, formerly under the command of Nguyen Tu. Upon Nguyen Tu’s death, his deputy Nguyen Cuoc succeeded him. Tu Khanh advanced, persuaded Cuoc to surrender, and thereby further strengthened Tran power.

Ly Hue Tong and Thai su Dam Di Mong personally led troops in alliance with the forces of Hong Chau to attack Tran Tu Khanh. Upon reaching Me So, they encountered Tran troops commanded by Vuong Le and Nguyen Cai. Before any fighting occurred, the morale of the Tran troops was enough to make the royal army collapse. Vuong Le and Nguyen Cai captured the royal dragon boat. In the Bac Giang sector, Dam Di Mong’s forces were defeated at An Dien by Tran Thua.

Meanwhile, Tran Thu Do and Tran Hien Sam attacked from the left bank, routing the royal forces. At Quoc Oai, Phan Lan and Nguyen Non defeated Doan Cam and Vu Hot of Hong Chau. With their forces collapsing, Ly Hue Tong fled to Lang Chau.

Tu Khanh seized the capital and sent a letter to Lang Chau declaring that he had raised troops because the people resented the Ly government and he wished to eradicate disorder, not oppose the king. He invited Hue Tong to return to stabilize the realm. The king refused. Unable to bring the king back, Tu Khanh installed Prince Hue Van (son of Ly Anh Tong) as a replacement.

The Attempt to Kill Tran Thi Dung

In 1216, Tran Thi Dung—formerly a palace attendant—was granted the title Thuan Trinh phu nhan. The empress dowager repeatedly insulted her as a traitor and pressured Hue Tong to expel her. She even ordered poison to be placed in her daughter-in-law’s food, but Hue Tong discovered the plot and shared the meal himself, keeping Tran Thi Dung by his side.

Unable to contain her hatred, Dowager Dam sent a bowl of poison and ordered the consort to commit suicide. Hue Tong intervened, and that night he secretly escorted Tran Thi Dung out of the palace. They fled to seek protection under Tu Khanh’s army. Forced to rest at the home of general Le Mich, they were later ferried to Cuu Lien by Vuong Le. Hue Tong summoned Tu Khanh to receive him.

Upon receiving the king, Tu Khanh deposed the puppet prince Hue Van whom he had previously installed. In the twelfth lunar month of 1216, Tran Thi Dung was elevated to Thuan Trinh Hoang hau.

In the fourth lunar month of the same year, a rebellion broke out in Cao Xa under Do At and Do Nhue. Hue Tong relied on Ly Bat but failed to suppress it and was forced to turn again to the Tran. Tu Khanh ordered Vuong Le to lead the navy to escort the king back to Cuu Lien.

From this point forward, the Tran clan monopolized political power: Tu Khanh became Thai uy, Tran Thua served as Noi thi phan thu, Tran Lieu, Phung Ta Chu, and Lai Linh were granted noble ranks, and Tu Khanh’s son Tran Hai was made a prince. With authority firmly in hand, Tu Khanh sought to eliminate opposing forces such as Nguyen Non of Bac Giang, Hien Tin Vuong Ly Bat, Hong Hau Doan Van Loi, and Ha Cao of Quy Hoa.

Final Years

Ly Hue Tong suffered from mental illness and descended into madness; real power fell entirely into Tran hands. He abdicated in favor of his daughter, Princess Chieu Thanh (Ly Chieu Hoang), and retired to Phu Liet Pagoda.

In 1225, Chieu Hoang and her father took the tonsure. The following year, Hue Tong was secretly killed by Tran Thu Do. Chieu Hoang, following his arrangements, married Tran Canh and later ceded the throne to him, marking the beginning of the Tran dynasty.

The fate of Empress Dowager Dam is not recorded in historical sources.

References

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Tiếng Pháp

An Toan Hoang hau (1194–1210)

Imperatrice de la dynastie Ly

On ne connaît pas l’origine familiale d’An Toan Hoang hau ; seule information được ghi nhận là bà có un frère, Dam Di Mong, qui avait d’abord exercé la fonction de Hoa dau sous le règne du roi Ly Anh Tong avant d’être promu au rang de grand dignitaire.

En mars 1186, sous le règne de Ly Cao Tong, elle fut élevée au rang d’An Toan Nguyen phi, devenant l’une des concubines les plus haut placées dans le harem royal.

En juillet 1194, elle donna naissance au prince Ly Hao Sam. La naissance de l’héritier renforça encore son statut, et dans la même année, elle fut officiellement consacrée An Toan Hoang hau.

La fuite vers Hai Ap et l’ascension du clan Tran

En 1209, lorsque Quach Boc mena ses troupes pour occuper Thang Long — un événement que les chroniques appellent la « rébellion de Quach Boc » — le roi Ly Cao Tong dut fuir vers Quy Hoa (région correspondant aujourd’hui à Lam Thao). Le prince héritier Ly Sam et la reine Dam durent également quitter la capitale et se réfugier à Hai Ap. Là, eux deux furent accueillis par Tran Ly et Pham Ngu. Tran Ly fit revenir le prince pour l’élever au rang de Thang Vuong, préparant la reprise du pouvoir.

Durant cette période, le prince Ly Hao Sam épousa Tran Thi Dung, fille de Tran Ly. Par la même occasion, les figures du clan Tran — dont Tran Ly, Pham Ngu et To Trung Tu — reçurent titres et fonctions pour consolider leur autorité.

Sous le nom du prince héritier, les forces du clan Tran rallièrent des troupes, marchèrent sur Thang Long, écrasèrent la rébellion de Quach Boc, et ramenèrent le roi Ly Cao Tong à la capitale. Peu de temps après, Dam Hoang hau et le prince héritier furent également reconduits au palais. Cependant, la reine manifesta clairement son mécontentement devant la nouvelle union entre le prince et Tran Thi Dung.

Hoang thai hau de la dynastie Ly

En 1210, le roi Cao Tong mourut. Le prince héritier Ly Hao Sam monta sur le trône sous le nom de Ly Hue Tong. Dam Hoang hau fut érigée en Hoang thai hau et les chroniques la désignent souvent comme Dam Thai hau.

Femme énergique et autoritaire, elle assistait personnellement Hue Tong dans la gestion des affaires d’État et fit nommer son frère Dam Di Mong au rang de Thai su, l’un des plus hauts postes du gouvernement. De fait, ce furent la reine-mère et son frère qui administraient le royaume, tandis que Hue Tong ne jouait qu’un rôle effacé.

Dam Di Mong manquait d’instruction et de fermeté, laissant Dam Thai hau décider de tout. Son action politique ne visait qu’à renforcer l’influence de son clan, au détriment des besoins du pays. Dès lors, la situation du royaume Ly devint de plus en plus instable.

Lutte contre le clan Tran

Aussitôt devenu quyen than, To Trung Tu élimina le grand dignitaire Do Kinh Tu, puis entra en conflit avec d’autres anciens ministres Ly tels que Do Quang, Do The Qui et Phi Le, qu’il fit tous éliminer. Il concentra ainsi tout le pouvoir militaire entre ses mains. Hue Tong fut contraint de le nommer Thai uy.

Toujours attaché à Tran Thi Dung, Hue Tong la fit revenir à la cour et lui conféra le titre de Nguyen phi, tout en attribuant à son frère Tran Tu Khanh la dignité de Chuong Thanh hau.

En 1211, To Trung Tu fut tué, soulageant temporairement la cour Ly. Cependant, l’autorité royale était déjà trop affaiblie et dépendait largement de grands seigneurs régionaux. C’est alors que Doan Thuong, seigneur de Hong Chau, en conflit avec Tran Tu Khanh, accusa ce dernier de complot. Hue Tong, influencé par Dam Thai hau, dégrada Tran Thi Dung au rang de Ngu nu. Doan Thuong et Doan Van Loi marchèrent sur la capitale, reçurent titres et honneurs, et appelèrent les autres chư hau à combattre Tran Tu Khanh.

Pendant ce temps, Tu Khanh élargissait sa puissance, prenant le contrôle de nombreuses régions, dont Hong Chau ; de Lang Chau jusqu’au mont Tam Tri, presque tout passait sous son autorité. Apprenant la disgrâce de Tran Thi Dung, il mena son armée jusqu’au port de Te Giang, menaçant directement Thang Long.

Craignant que Tu Khanh n’usurpe le trône, Dam Thai hau agit avec cruauté : elle fit noyer trois princes royaux — Nhan Quoc vuong, Luc hoang tu et That hoang tu — puis jeta leurs corps hors des murailles. La cour, terrifiée, n’osa pas intervenir. Ainsi, la position de Hue Tong fut temporairement assurée.

Constatant la montée du clan Tran, Hue Tong força les ministres à suivre les ordres de Tu Khanh, tout en cherchant secrètement, avec Dam Thai hau, à éliminer ce dernier.

Au début de 1213, la reine-mère complota avec des généraux de Phu Lac et Bac Giang, fixant un jour pour attaquer Tu Khanh. Mais lorsque les troupes de Phan The et Ngo Mai se dirigèrent vers la porte Dai Hung, Tu Khanh — alors à Dai Thong — fit irruption dans la capitale, incendia le pont Ngoan Thiem, puis se retira.

Après avoir dominé presque tout le bas bassin des fleuves Hong et Day (sauf Dai Hoang), Tu Khanh avança vers Quoc Oai, région gouvernée par Nguyen Tu. À la mort de Nguyen Tu, son adjoint Nguyen Cuoc prit sa place. Tu Khanh marcha contre lui, le persuada de se rendre, ce qui renforça encore la puissance du clan Tran.

Ly Hue Tong et Thai su Dam Di Mong se mirent à la tête d’une armée pour s’allier à Hong Chau et combattre Tu Khanh. À Me So, ils rencontrèrent les troupes Tran dirigées par Vuong Le et Nguyen Cai : au simple son des clameurs ennemies, les soldats de la cour se dispersèrent. Vuong Le et Nguyen Cai s’emparèrent du bateau royal. Plus au nord, la flotte conduite par Dam Di Mong fut défaite à An Dien par Tran Thua.

Au même moment, Tran Thu Do et Tran Hien Sam attaquèrent depuis la rive gauche du fleuve, écrasant les troupes royales. À Quoc Oai, Phan Lan et Nguyen Non vainquirent Doan Cam et Vu Hot de Hong Chau. Débordé, Ly Hue Tong dut fuir vers Lang Chau.

Tu Khanh occupa la capitale et envoya une lettre au roi pour s’expliquer : il prétendait lever des troupes pour apaiser la colère du peuple et éliminer les fauteurs de troubles, non pour renverser le trône. Hue Tong refusa cependant de revenir. Ne pouvant faire revenir le souverain, Tu Khanh fit proclamer roi Hue Van vuong, fils de Ly Anh Tong.

Tentatives d’élimination de Tran Thi Dung

En 1216, Tran Thi Dung — alors Ngu nu — fut promue Thuan Trinh phu nhan. Dam Thai hau, qui la haïssait, l’insulta à plusieurs reprises en la traitant de « rebelle » et força Hue Tong à tenter de l’éloigner. Elle alla même jusqu’à faire empoisonner ses repas, mais Hue Tong s’en aperçut et partagea la nourriture avec elle, la gardant près de lui.

Toujours déterminée à la tuer, Dam Thai hau envoya ensuite une coupe de poison en lui ordonnant de se donner la mort. Hue Tong intervint de nouveau et fit secrètement conduire Tran Thi Dung vers les troupes de Tu Khanh. Sur la route, elle se réfugia chez le général Le Mich et fut finalement récupérée par bateau par Vuong Le pour être menée à Cuu Lien. Hue Tong convoqua alors Tu Khanh.

Ayant ramené le roi, Tu Khanh fit déposer Hue Van vuong, qu’il avait lui-même installé auparavant. En décembre 1216, Tran Thi Dung fut proclamée Thuan Trinh Hoang hau.

En avril de cette même année, une nouvelle rébellion éclata à Cao Xa, dirigée par Do At et Do Nhue. Hue Tong chercha l’aide de Ly Bat mais échoua, et dut revenir solliciter les Tran. Tu Khanh envoya Vuong Le à la tête d’une flotte pour escorter le roi à Cuu Lien.

Dès lors, le clan Tran détenait toute l’autorité : Tu Khanh devint Thai uy, Tran Thua fut nommé Noi thi phan thu, Tran Lieu, Phung Ta Chu et Lai Linh reçurent des titres, tandis que Tran Hai — fils de Tu Khanh — fut fait prince. Avec ce pouvoir, Tu Khanh entreprit d’éliminer les forces hostiles : Nguyen Non, Ly Bat, Doan Van Loi et Ha Cao.

Fin de règne

Ly Hue Tong sombra dans la folie, livrant entièrement le pouvoir aux Tran. Il abdiqua en faveur de sa fille, la princesse Chieu Thanh (Ly Chieu Hoang), puis se retira au monastère de Phu Liet.

En 1225, Chieu Hoang devint nonne, suivant son père. L’année suivante, Hue Tong fut secrètement exécuté par Tran Thu Do. Sous son influence, Chieu Hoang épousa Tran Canh et lui céda le trône, inaugurant la dynastie Tran.

Le sort final de Dam Thai hau n’est mentionné dans aucune chronique.

Références

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

Tiếng Trung

安全皇后(1194–1210)

李朝皇后

關於安全皇后的出身史籍無明確記載,只知其兄譚以蒙(Dam Di Mong)曾在李英宗時任火頭,後逐漸升遷為朝廷大臣。

1186 年三月,在李高宗朝,皇后被冊封為 安全原妃,成為後宮中地位最高的嬪妃之一。

1194 年七月,她生下皇子 李昊嗓(Ly Hao Sam)。太子出生使其地位更加穩固,同年被冊立為 安全皇后。

「郭卜之亂」與避走海邑

1209 年,郭卜(Quach Boc)率兵攻佔昇龍,引發史稱「郭卜之亂」。情勢危急,李高宗奔往歸化(今臨濤一帶),皇太子李嗓與安全皇后也離京逃往海邑。二人於此受到陳利(Tran Ly)與范虞(Pham Ngu)接應。陳利迎太子回立為 勝王,共圖大計。

避亂海邑期間,太子李昊嗓與陳利之女陳氏(Tran Thi)成婚。同時,陳利、范虞與蘇中慈(To Trung Tu)等陳氏勢力人物也受封任,以鞏固在太子身邊的權勢。

憑藉太子的名義,陳氏集結兵力返回昇龍,擊敗郭卜,迎李高宗復位。不久,安全皇后與太子也被迎回京城。然而皇后明顯對太子與陳氏之新關係頗為不滿。

李朝皇太后

1210 年,李高宗駕崩,皇太子即位為李惠宗(Ly Hue Tong)。安全皇后被尊為 皇太后,史稱 譚太后(Dam Thai Hau)。

譚太后性格剛強,她與惠宗共同聽政,並封其弟譚以蒙為太師,使其與太后共同掌政,惠宗反而不預聞政事。

譚以蒙缺乏學識,性格懦弱,多事皆由譚太后決斷。太后一心維護其家族與鞏固權力,不顧國政,使李朝政局更加動盪。

與陳氏的權力鬥爭

托中慈(蘇中慈 To Trung Tu)成為權臣後,立即殺大臣杜敬修(Do Kinh Tu),又與李朝舊臣如杜廣(Do Quang)、杜世規(Do The Quy)、費烈(Phi Liet)等交戰,並將其全部除滅,由此掌握兵權。惠宗被迫封他為太尉,受其挾制。

惠宗偏愛陳氏美人陳氏玉蓉(Tran Thi Dung),迎其入京封為原妃,又封其兄陳嗣慶(Tran Tu Khanh)為章成侯。

1211 年,托中慈被殺,李朝暫時脫離其控制。但朝廷勢弱,不得不依賴諸大族。此時洪州段氏(段尚 Duan Thuong)與陳嗣慶爭鬥,遂誣告嗣慶謀反。惠宗信之,加以譚太后挑撥,遂貶陳氏玉蓉為御女。

段尚、段文雷(Duan Van Loi)率兵入京,被惠宗授爵,並號召諸侯共擊陳嗣慶。

其時,陳嗣慶勢力迅速擴張,攻佔多地,尤其控製了洪州,從瑯州至三豸山大多落入陳氏之手。聞陳氏玉蓉失勢,他率軍至濟江、逼近昇龍以保護。

譚太后懷疑嗣慶圖謀篡位,遂狠心下令溺死三位皇子——仁國王、六皇子與七皇子——並棄屍城外。群臣畏懼,不敢諫言。惠宗之位因而暫保。

見陳氏勢大,惠宗不得不命群臣聽從陳嗣慶之令,但他與太后仍暗中謀滅陳氏。

1213 年初,太后暗聯扶樂、北江諸將,約期出兵討嗣慶。期至,藩將范世、吳邁率軍至大興門。嗣慶時在大通,遂入京突進禁城,焚燒娛恬橋後撤回大通。

掌控自紅河、瀨河下游諸地後,嗣慶繼續北上國槐,該地素由阮序管轄;序死後,副將阮局繼任。陳嗣慶進兵招降之,使陳氏實力大增。

李惠宗與太師譚以蒙親率兵與洪州勢力合擊陳嗣慶。至米舍,遇陳軍王黎(Vuong Le)與阮改(Nguyen Cai)所領部隊。未及交鋒,僅聞陳軍喊殺聲,朝軍即潰散;王黎等還奪得龍舟。北江方面,譚以蒙至安延津時被陳承(Tran Thua)擊敗。

同時,陳守度(Tran Thu Do)、陳憲森(Tran Hien Sam)自左岸出兵,又破朝軍。國槐地區,藩將范蘭、阮嫩又擊敗洪州之段感、武忽,朝廷勢力土崩瓦解,惠宗只得奔往瑯州。

嗣慶入據京城,上書瑯州辯稱起兵因民怨朝廷,欲除亂非逆君,請惠宗返京安民。然惠宗不許。迎不到皇帝,嗣慶遂立 惠文王(Huy Van Vuong)(李英宗之子)為帝。

圖害陳氏玉蓉

1216 年,陳氏玉蓉曾為御女,被封為 順貞夫人。太后多次辱罵其為「賊」,逼惠宗將其趕走。太后甚至派人投毒於其食,但為惠宗發覺,他與之分食以保她,堅令其留在身邊。

譚太后怨恨不息,再令夫人服毒自盡。惠宗極力阻止,夜裡帶陳氏潛逃投奔陳嗣慶,途中暫宿將領黎覓之家,後由王黎以舟接往救聯。惠宗乃召嗣慶入朝。

迎得惠宗後,嗣慶廢去先前所立的惠文王。1216 年十二月,陳氏玉蓉被尊為 順貞皇后。

同年四月,草社地區由杜丐、杜芮所率之亂再起。惠宗依靠李八,無力平定,只得再求陳氏。嗣慶命王黎率水軍迎帝返救聯。

自此,陳氏掌控全部權力:嗣慶為太尉,陳承為內侍判首,陳柳(Tran Lieu)、馮佐周(Phung Ta Chu)、賴靈(Lai Linh)皆受封爵,嗣慶之子陳海(Tran Hai)亦封王。勢力既定,嗣慶著手討伐北江王阮嫩、賢信王李八、洪侯段文雷、歸化之河高等諸勢力。

晚年

李惠宗患病失智,朝政完全落入陳氏之手。他傳位於女兒 昭聖公主(李昭皇),自己至扶烈寺出家。

1225 年,昭皇與父同為出家人。次年,惠宗被陳守度秘殺。昭皇依守度之安排下嫁陳煚(Tran Canh),後讓位於陳煚,開創陳朝。

譚太后的結局史籍無載。

參考資料

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (33)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)