Khái quát
Cho đến thời điểm này, ba danh nhân văn hóa lừng danh của Việt Nam: Nguyễn Trãi (1380 – 1442), Nguyễn Du (1765 – 1820) và Hồ Chí Minh (1890 – 1969) đã được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hóa thế giới. Trong ba danh nhân này, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người rất thích Truyện Kiều của Nguyễn Du và Người thường vận dụng trong nhiều hoàn cảnh cụ thể. Trong Di chúc, Người viết: “Còn non, còn nước, còn người/ Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”; hoặc trong diễn văn kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Người nói: “Công ơn Đảng như bể rộng trời cao/ Ba mươi năm ấy biết bao nhiêu tình”; hoặc khi đón Tổng thống Xucácnô sang thăm nước ta: “Bây giờ mới gặp nhau đây/Mà lòng đã chắc những ngày thanh niên”. Rồi khi tiễn vị nguyên thủ quốc gia này lên máy bay, Người đã đọc câu Kiều: “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm”…
Không riêng gì Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu Truyện Kiều mà hầu như người Việt Nam nào cũng yêu, cũng nhớ ít nhất dăm câu thơ Kiều của thi hào Nguyễn Du. Mà những câu thơ ấy đã ăn sâu vào trong máu thịt đến nỗi khi đọc câu thơ ấy, người ta không nhớ đến tác giả. Nhà thơ Tế Hanh có viết bài thơ “Bài học nhỏ về nhà thơ lớn” kể lại một kỷ niệm khi ông về huyện Nghi Xuân quê hương của thi hào. Lúc ông hỏi thăm một bà cụ nhà của Nguyễn Du nơi đâu thì bà cụ ngớ người ra: “Nguyễn Du nào tôi chẳng nhớ tên?”. Nhưng khi nói, đó là người viết kiệt tác Truyện Kiều thì bà cụ vội vã chỉ đường ngay và đọc luônmấy đoạn thơ Kiều, kể luôn vanh vách về cuộc đời thăng trầm của Kiều. Từ đó, nhà thơ Tế Hanh ngẫm nghĩ: “Bà cụ không nhớ tên Nguyễn Du, có gì đâu đáng trách/ Một cái tên như bao cái tên thường/ Nhưng cụ đã gửi lòng trong áng sách/ Theo dõi đời Kiều từng đoạn từng chương…/ Cuộc gặp gỡ tình cờ đem cho tôi bài học/ Như thể qua hai trăm năm nhà thơ nhắn lại bây giờ/ -Hãy đi con đường vào trái tim bạn đọc/ Người ta có thể quên tên người làm thơ, nhưng đừng để quên thơ…”.
Theo thông báo của Hội đồng Hòa bình thế giới số ra tháng 12/1964, trong phiên họp tại Berlin (Cộng hòa Dân chủ Đức) từ ngày 6 đến ngày 9/12/1964, Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới đã chính thức quyết nghị kỷ niệm 200 năm năm sinh thi hào Nguyễn Du trong năm 1965, cùng với 8 danh nhân văn hóa khác trên thế giới: Nhà thơ Quintus Horatius Flaccus (La Mã) trước công nguyên; nhà thơ Dante Alighieri (Ý); nhà thơ Lomonosov (Nga); nhà thông thái Ai Hayssam (Ả Rập); nhà cải cách xã hội Jan Hus (Tiệp Khắc); nhà soạn nhạc Sibelius (Phần Lan); nhà thơ Yeats (Ialăng) và nhà y học Finlay (Cu Ba). Bấy giờ trong hoàn cảnh đất nước còn chiến tranh nhưng cả hai miền Nam – Bắc đều tổ chức trọng thể đón nhận sự kiện vẻ vang này.
Tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra quyết định số 135TTg/Vg thành lập Ban tổ chức kỷ niệm Nguyễn Du mà trưởng ban là ông Hoàng Minh Giám – Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin, cùng lúc Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ra chỉ thị “Về việc kỷ niệm Nguyễn Du”. Tại miền Nam, trong vùng giải phóng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng thành lập Ban tổ chức kỷ niệm Nguyễn Du mà trưởng ban là bác sĩ Phùng Văn Cung. Trong vùng tạm chiếm, ngày 3/10/1965 tại Sài Gòn, giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch – Tổng ủy viên Văn hóa Xã hội kiêm Ủy viên Giáo dục của chế độ cũ đã đọc diễn văn khai mạc Tuần lễ kỷ niệm 200 năm năm sinh Nguyễn Du. Cùng lúc, nhiều nước như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Rumani, Bungary, Ba Lan, Đức, Miến Điện, Cu Ba, Pháp v.v… cũng tổ chức kỷ niệm thi hào đất Việt với nhiều hoạt động phong phú và đây cũng là dịp Truyện Kiều được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Trong lịch sử văn học Việt Nam, không có quyển sách nào có số phận lạ lùng như Truyện Kiều. Cho đến nay chưa ai có thể thống kê được tác phẩm này đã in đến lần thứ bao nhiêu, có bao nhiêu dị bản.
Và cũng chưa ai có thể thống kê được đã có bao nhiêu tập sách, bài viết nghiên cứu về Nguyễn Du và Truyện Kiều hoặc có bao nhiêu sáng tác của người đời sau đã lấy cảm hứng từ Nguyễn Du và Truyện Kiều. Nguyễn Du cất tiếng khóc chào đời tại kinh đô Thăng long (Hà Nội) tự Tố Như, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Lam liệp hộ. Dòng dõi Nguyễn Du quê gốc ở làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (nay Hà Tây) nhưng từ thế kỷ thứ XVI vì lý do chính trị nên tổ tiên thi hào phải chạy vào làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) lập nghiệp và nổi tiếng thành đạt:
Bao giờ ngàn Hống hết cây
Sông Rum hết nước họ này hết quan
Thân thế
Thân phụ Nguyễn Du là Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (1668-1776) là nhà thơ, nhà sử học lừng danh, từng giữ chức Tể tướng rồi làm Thượng thư bộ Hộ ngất ngưởng trên danh vọng, đó là một nhân vật mà trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú nhận xét: “Ông có tài lược văn võ, trải thờ ba triều, quanh quẩn chỗ ngự đài, vào làm tướng văn ra làm tướng võ, ở ngôi Tể tướng 15 năm, xếp đặt gọn mọi việc bề bộn, đối xử tiếp ứng lúc nào cũng như lúc nào, Ân vương (Trịnh Doanh) thường khen là người có đức vọng tài trí. Ông là bậc nguyên lão trong nước, làm rường cột cho triều đình, công cao danh vọng, đương thời ai cũng khen ngợi”. Ông Nguyễn Nghiễm có nhiều vợ. Chánh thất là bà Đặng Thị Dương – người “nâng khăn sửa túi” cho Nguyễn Nghiễm lúc mới 16 xuân xanh, sinh được hai con là Nguyễn Khản và Nguyễn Điều. Còn bà vợ thứ ba của ông là Trần Thị Tần (1740-1778), người trấn Kinh Bắc (nay Bắc Ninh) kém ông 32 tuổi đã sinh được một gái và bốn trai là Nguyễn Trụ, Nguyễn Nễ, Nguyễn Du và Nguyễn Ức. Là con thứ bảy của Nguyễn Nghiễm nên thuở nhỏ mọi người gọi Nguyễn Du là cậu Chiêu Bảy.
Thời niên thiếu, Nguyễn Du sống tại kinh thành Thăng Long trong gia đình đại quý tộc. Sau này, cháu ruột Nguyễn Du là nhà thơ Nguyễn Hành (1771-1823) có cho biết lúc ấy: “Trước cửa, những người xe ngựa võng lọng chầu chực hàng ngày; trong nhà, hạng nô bộc cũng được ăn thịt, mặc áo gấm”. Nhưng Nguyễn Du sống trong nhung lụa không dài. Năm ông lên 10 thì cha mất, năm 12 tuổi thì mẹ cũng về suối vàng, phải về sống với ông anh cả cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản. Lúc này, ông Khản đang giữ chức Tả thị lang bộ Hình kiêm Hiệp trấn xứ Sơn Tây, nhưng chỉ vài năm sau thì cơ nghiệp này cũng “bèo dạt mây trôi”. Để hiểu thêm những bước thăng trầm của dòng họ Nguyễn Du trong thời gian:
Khi xưa phong gấm rủ là
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường
Cuộc đời
thì ta phải lật lại những trang “thâm cung bí sử” của thời đó. Sự việc như sau: Nắng chiếu thẳng vào trong phủ chúa, Ân vương Trịnh Sâm (1737-1782), quê Thanh Hóa, con trai của Minh đô vương Trịnh Doanh, mới vươn vai thức dậy. Ông bực mình, gọi thái giám Khuê Trung hầu vào, mắng: “Đêm qua, ta cho gọi Ngọc Khoan vào hầu, sao ngươi lại đưa Ngọc Hoa thay thế?”. Quan thái giám liền sụp lạy: “Bẩm, thần đáng tội chết nhưng xin chúa thượng tha lỗi, vì mấy hôm nay thần cứ băn khoăn mãi về giấc mộng của Ngọc Hoa. Nàng có tâm sự với chị nàng bên cung của Ân vương là nằm mộng thấy thần nhân ban cho tấm lụa hồng, trên có vẽ cái đầu rồng màu đen. Điềm ấy chắc sinh thánh nhân. Vì thế, khi chúa thượng cho vời Ngọc Khoan thì thần cứ nghĩ là Ngọc Hoa…”. Ấy là quan thái giám nhận tiền đút lót của Ngọc Hoa mà bịa ra như thế! Nghe lời phân bua, Trịnh Sâm nhếch mép: “Rồng là biểu tượng của nhà vua, nhà chúa, nhưng lại là rồng vẽ chứ không phải rồng thật. Đã thế, chỉ có đầu mà không có đuôi thì chẳng phải là điềm lành…”
Nào ngờ nhờ ơn “mưa móc” này mà Ngọc Hoa thụ thai, sinh ra quý tử là Trịnh Khải (Tông). Trước tin vui này, bá quan văn võ đem lễ vật đến mừng, nhưng Trịnh Sâm không nhận, thậm chí còn ghét cả đứa con trai mới sinh nữa. Nhưng dù sao, khi có được nam tử thì địa vị của Ngọc Hoa trong cung cũng đã khác trước. Mọi chuyện sẽ đi qua bình thường nếu không có một ngày kia… Một hôm tiệp dư Trần Thị Vinh sai nữ tì Đặng Thị Huệ dâng một khay hoa lên cho Trịnh Sâm. Lập tức, chúa choáng váng, say đắm trước nhan sắc tuyệt trần của Thị Huệ. Từ đó, chúa cho Thị Huệ vào ở ngay trong cung. Do Trịnh Sâm quá cưng chiều nên Thị Huệ ngày càng lộng hành. Gặp chuyện không vừa ý là thị làm mình làm mẩy, vật vã than khóc khiến chúa cũng rối lòng… Chẳng hạn, năm 1774 để khuếch trương thanh thế, Trịnh Sâm sai thống tướng Hoàng Ngũ Phúc vào Nam đánh chúa Nguyễn, rồi thân chinh cầm quân đánh chiếm đất Thuận Hóa, đặt quan cai trị. (Tong số đó có nhà bác học Lê Quý Đôn, chính trong thời gian này đã viết tác phẩm rất có giá trị là Phủ biên tạp lục). Khi trở về Bắc, một trong những chiến lợi phẩm Trịnh Sâm đem về là viên ngọc dạ quang rất quý, thường treo ở đầu khăn làm vật trang sức. Có lần, nhìn thấy Thị Huệ mân mê viên ngọc, chúa nhẹ nhàng: “Nhè nhẹ tay kẻo xây xát!”. Lập tức, thị ném thẳng ngọc xuống đất, tru tréo: “Ngọc này chả là cái gì sất! Vào Quảng Nam kiếm trả chúa một hạt khác là xong! Làm gì mà trọng của khinh người đến thế?”. Trịnh Sâm tái mặt, phải van xin, dỗ dành mãi thị mới nguôi giận…
Chung sống với nhau, Thị Huệ may mắn mang thai. Năm 1777, nàng sinh được một con trai, chúa cưng lắm, đặt tên là Cán và bắt đầu dựa vào người có thế lực trong cung là Quận huy Hoàng Đình Bảo để lập mưu đưa con mình vào ngôi Thế tử. Bấy giờ, cho dù Trịnh Khải đã 15 tuổi, nhưng vì nghe lời Thị Huệ nên Trịnh Sâm vẫn cứ chần chừ…. Nhân lúc Trịnh Sâm bị bệnh, Khải liên kết với quần thần trong triều – trong số này có Nguyễn Khản, anh của Nguyễn Du – lập mưu bắt giam mẹ con Thị Huệ, nhưng không ngờ chúa lành bệnh, mọi việc bại lộ. Thế là Khải bị giáng làm con thứ, bị theo dõi nghiêm ngặt; còn Nguyễn Khản cũng bị cách chức và tống giam. Năm 1781, Trịnh Sâm bị bệnh trĩ và mất, Cán lên nối ngôi và nghiễm nhiên Thị Huệ đạt được ước mơ cao nhất về quyền lực! Tất nhiên, Khải không bó tay trước trước “ván cờ” này. Khải nghĩ đến lực lượng có thể giúp mình đoạt được ngôi báu là quân túc vệ. Nguyên trước đây, khi khởi binh giúp nhà Lê trung hưng, tại đất kinh kỳ, cha con họ Trịnh chỉ dùng lính xứ Thanh, lính xứ Nghệ làm “ưu binh” – bọn lính này cậy mình có công lao nên hễ có chuyện gì bất bình là nổi lên làm loạn. Trịnh Khải biết thế nên cấu kết với chúng để lật Cán. Lật Cán xong, Khải lên ngôi thì Nguyễn Khản được trọng dụng, giữ chức Thượng thư bộ Lại, rồi thăng Tham tụng. Trong thời gian này, năm 1783, Nguyễn Du đi thi hương đậu tam trường, nhưng sau đó không đi thi nữa.
Nhưng việc nước vẫn còn rối ren như canh hẹ. Bọn quân túc vệ ỷ mình có công lớn nên kiêu binh làm loạn, cướp phá khắp nơi, văn thần võ tướng và ngay cả Khải cũng phải bó tay không làm gì được chúng. Về phần Nguyễn Khản thì chúng kéo quân đến phá nhà và ông suýt bị giết chết. Hoảng sợ, ông phải chạy về ẩn náu ở Nghệ An. Dịp này, Tây Sơn đem quân ra đánh Bắc Hà, chấm dứt cơ nghiệp họ Trịnh.
Trong cơn lốc của thời cuộc, Nguyễn Du về ẩn dật ở Thái Bình, quê vợ, sống trong nhà anh vợ là nhà thơ Đoàn Nguyễn Tuấn – đang làm Thị lang bộ Lại triều Tây Sơn. Thời gian này, Nguyễn Du bắt đầu viết những bài thơ chữ Hán, soạn lại thành tập đặt tựa là Thanh Hiên thi tập. Ít lâu sau, vợ mất, Nguyễn Du trở về sống ở xứ Nghệ, lấy việc đi săn, câu cá làm vui do đó ông lấy biệt hiệu Hồng Sơn liệp hộ (người đi săn ở núi Hồng) và Nam Hải điếu đồ (người đi câu ở biển Nam). Hai bài vè chữ Nôm Thác lời trai phường nón, Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu của Nguyễn Du đã cho thấy những nét sinh hoạt dân dã của ông thời đó. Năm 1796, Nguyễn Du toan vào Gia Định, việc bại lộ, bị tướng Tây Sơn là Thận Quận công bắt giam. Nhưng do mến tài Nguyễn Du và thân với Nguyễn Nễ – anh ruột Nguyễn Du nên ông chỉ bị Thận Quận công bị giam ba tháng rồi tha. Trong bài thơ Mi trung mạn hứng (Cảm hứng lan man trong tù), ông viết (Ngô Linh Ngọc dịch):
Tâm sự biết cùng ai giãi tỏ
Non sông sâu thẳm nước sông Lam
Năm 1802, Nguyễn Ánh dứt được cơ nghiệp của nhà Tây Sơn và lên ngôi đặt niên hiệu Gia Long. Muốn thu phục nhân tâm người miền Bắc, Gia Long xuống chiếu trưng dụng những nhà dòng dõi cựu thần nhà Lê ra hợp tác. Nguyễn Du được vời ra làm quan vì trước đây, do là con quan lớn nên ông được tập ấm Hoàng tín đại phu trung thành môn vệ úy, tước Thu nhạc bá và được cha cho làm con nuôi viên quan họ Hà không có con trai ở Thái Nguyên. Lúc cha nuôi mất, Nguyễn Du nối võ chức ấy. Nhưng trước cơ hội được Gia Long trọng dụng, Nguyễn Du không mấy hào hứng. Theo Đại Nam chính biên liệt truyện (ĐNCBLT) thì “không thể từ chối, ông bất đắc dĩ phải ra” làm quan triều Nguyễn và có lần bị vua Gia Long quở trách:
Nhà nước dùng người cứ kẻ hiền tài là dùng chứ không phân biệt Nam, Bắc. Ngươi đã làm đến chức á khanh, biết việc gì phải nói để tỏ cái chức trách của mình, có lẽ đâu lại cứ rụt rè sợ hãi chỉ vâng vâng, dạ dạ hay sao?
Như thế đủ thấy tâm thế của ông không hề muốn dấn thân vào chốn quan trường. Ra làm quan, ông được bổ làm tri huyện Phù Dực ở Thái Bình, ít lâu sau ông cáo bệnh từ chức. Rồi năm 1806, ông lại được triệu vào kinh thụ chức Đông các học sĩ; năm 1809 được bổ làm Cai bạ (tức Bố chính) Quảng Trị; năm 1813 được thăng làm Cần chánh điện học sĩ, sung Chánh sứ sang cống nhà Thanh. Trong thời gian vào kinh làm quan cho đến khi đi sứ, ông đã hoàn thành tập thơ chữ Hán Nam trung tạp ngâm “vẫn là tiếng thở dài của nhà thơ trước một thực trạng mà ông thấy không có gì gắn bó” (Từ điển văn học – NXB KHXH – 1984, tập 2, tr.56). Trong tập thơ này, có bài thơ Độc Tiểu Thanh ký (Đọc bài ký truyện nàng Tiểu Thanh) mà hai câu kết đến nay còn được truyền tụng:
Bất tri tam bách dư niên hậu,
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
Giản Chi dịch:
Ba trăm năm nữa người thiên hạ,
Chả biết còn ai khóc Tố Như?
Lúc phái bộ ta đến Trung Quốc có đến thăm một xưởng sản xuất đồ gốm sứ. Chủ xưởng biết sứ thần Việt Nam là một nhà thơ tài hoa nên đã đưa xem kiểu đĩa Mai hạc (vẽ chim hạc đậu trên cành mai) và nhờ đề hai câu thơ. Nguyễn Du không viết thơ thất ngôn bằng chữ Hán mà dùng chữ Nôm của dân tộc để viết hai câu lục bát:
Nghêu ngao vui thú yên hà
Mai là bạn cũ, hạc là người quen
Bút lực của Nguyễn Du thật dồi dào, dù cương vị Chánh sứ với biết bao công việc nhưng ông vẫn hoàn thành tập thơ Bắc hành tạp lục ghi lại những điều mắt thấy tai nghe lúc ở Trung Quốc. Trở về nước, ông được thăng Lễ bộ Hữu tham tri. Sách Đại Nam chính biên liệt truyện cho biết Nguyễn Du viết Truyện Kiều sau khi đi sứ nhà Thanh về. Nhưng sau này, giới nghiên cứu văn hóa nước nhà không hoàn toàn đồng ý như thế, nêu ra ba ức thuyết: Truyện Kiều được Nguyễn Du viết trong những năm còn ẩn dật ở quê nhà (tức vào khoảng năm 1796-1802); trong thời gian ra làm quan với triều Nguyễn (tức vào khoảng năm 1802-1809); sau khi đi sứ nhà Thanh về (tức là sau năm 1813). Qua nhiều cuộc tranh luận từ năm 1943 đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa có câu trả lời thống nhất. Tương tự như vậy, tác phẩm nổi tiếng không kém của ông là Văn tế thập loại chúng sinh (tức Văn chiêu hồn) cũng chưa xác định được thời gian cụ thể đã viết năm nào. Năm 1820, nhà vua lại xuống chỉ sai Nguyễn Du đi sứ lần nữa, nhưng chưa kịp đi thì ông bị bệnh mất. Lúc ấy, dù bệnh nặng nhưng ông vẫn không uống thuốc. Lúc gần mất, sai người nhà sờ tay chân xem còn nóng hay lạnh, họ thưa lạnh cả rồi, Nguyễn Du nói “được” rồi mất, không trăn trối lại điều gì. Về kiệt tác Truyện Kiều hiện nay ta vẫn chưa có bản in nào đúng hoặc gầnđúng nhất với nguyên tác của Nguyễn Du. Tại sao?
Di sản Truyện Kiều
Tương truyền, sau khi viết xong Truyện Kiều, Nguyễn Du đặt tựa là Đoạn trường tân thanh có đưa cho Tiến sĩ Phạm Quý Thích xem. Phạm Quý Thích có nhuận sắc, khen ngợi hết lời, làm thơ đề từ, đổi tên sách thành Kim Vân Kiều tân truyện và cho khắc ván in ở phố Hàng Gai (Hà Nội), bản in này gọi là bản Hoa Đường vì Phạm Quý Thích người làng Hoa Đường. Bản in đầu tiên này, nay văn khố nước nhà không còn lưu giữ được. Đến nay, bản in cổ nhất còn lưu giữ được là bản Kim Vân Kiều tân truyện do nhà Liễu Vân đường khắc in năm 1781. Sau đó các nhà Thịnh Mỹ đường, Quan Văn đường, Phúc Vân đường… cũng dựa vào bản Nôm đầu tiên mà in lại. Các bản khắc in này được gọi chung là bản “Phường”.
Ngay từ khi mới được in ra, Truyện Kiều đã trở thành một “sự kiện văn học”. Ai ai cũng đọc. Ai ai cũng thích. “Không những chỉ bậc văn nhân tài tử đọc truyện lòng vui sướng, trí thảnh thơi; mà cho đến những người ngu phu bỉ phụ truyền miệng nhau đọc cũng thích thú, vui vẻ khoa tay múa chân” (Nguyễn Văn Thắng – Tựa Kim Vân Kiều án, bản in năm 1830). “Tố Như tử dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả cảnh đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời, thì tài nào có cái bút lực ấy” (Mộng Liệng Đường Chủ Nhân). Trong dân gian có câu: “Làm trai biết đánh tổ tôm/ Uống chè Chính Thái xem nôm Thúy Kiều” đã cho thấy việc đọc Truyện Kiều phổ biến sâu rộng biết chừng nào! Với một kiệt tác như thế, nhà vua cũng thích đọc là lẽ thường tình. Ông vua giỏi thơ nhất triều Nguyễn là Tự Đức cũng tường lãm. Có giai thoại kể rằng, khi đocï đến câu: “Chọc trời khuấy nước mặc dầu/ Dọc ngang nào biết trên đầu có ai” thì nhà vua cáu tiết phán:
– Giá tên này còn sống thì phải nọc ra đánh ba mươi trượng!
Lại có giai thoại cho rằng, Tự Đức ghét cay ghét đắng Truyện Kiều vì trong đó ít nhất Nguyễn Du đã lôi mình ra mà mắng (!?). Lý do: Tự Đức tên thật Hồng Nhậm, tên cúng cơm là Thì mà trong Kiều lại có những câu liên quan đến chữ “Thì”. Tất nhiên khi đọc hoặc khi viết,người ta phải ngắt câu, hoặc viết hoa: “Ra điều trên bộc trong dâu/ Thì, con người ấy ai cầu làm chi…/ Tha ra, Thì cũng may đời/ Làm ra, Thì cũng là người nhỏ nhen…”. Rõ ràng đây chỉ là chuyện “trà dư tửu hậu” cho vui, như hàng trăm hàng ngàn mẩu chuyện tương tự khác mà độc giả đã “vận dụng” Truyện Kiều vào trong đời sống. Thế nhưng có một điều chắc chắn là Tự Đức đã viết bài “tổng từ” và sửa chữa lại đôi chỗ trong văn bản Truyện Kiều và cho khắc in ở kinh đô Huế, gọi là bản “kinh”. Bản “kinh” có 3.258 câu; bản “phường” có 3.254 câu. Thế thì đâu là bản đúng với nguyên tác Truyện Kiều? Đó chưa kể đến các bản chép tay lưu hành trong dân gian. Ngoài ra, tựa sách mỗi nơi khắc in lại ghi cũng khác nhau: Kim Vân Kiều tân tập, Kim Vân Kiều quảng tập, Thúy Kiều truyện tường chú, Kim Vân Kiều truyện, Kim Túy tình từ, Truyện Thúy kiều v.v… Mãi đến sau năm 1954, hầu hết các bản in đều thống nhất lấy tên là Truyện Kiều.
Về lai lịch Truyện Kiều thiết tưởng ta cũng nên biết qua một vài chi tiết: khi đi sứ Trung Quốc hoặc trước đó, Nguyễn Du có đọc bộ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện (20 hồi) của Thanh Tâm Tài Nhân viết về một nhân vật có thật, sống vào đời Minh. Từ cốt truyện này, Nguyễn Du đã viết lại thành truyện thơ Nôm bằng thể thơ lục bát Đoạn trường tân thanh (Tiếng đau lòng mới). Bộ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện tầm thường, ngay cả ở Trung Quốc cũng không mấy ai biết đến. Nhưng từ khi Truyện Kiều trở thành kiệt tác trong văn chương nhân loại thì giới nghiên cứu văn học Trung Quốc mới để ý đến bộ tiểu thuyết này và họ thừa nhận giá trị của hai tác phẩm khác nhau một trời một vực, một bên là ngọc và một bên là ngói.
Có thể tóm tắt nội dung Truyện Kiều như sau: “Mở đầu, người kể dành 6 câu thơ để nói về thuyết “tài mệnh tương đố”. Vào chuyện, người kể giới thiệu gia đình họ Vương, dừng lại nói kỹ về nhân vật chính: Thúy Kiều, một thiếu nữ tài sắc toàn vẹn. Nhân tiết thanh minh, chị em nhà họ Vương dắt nhau đi chơi xuân, thấy nấm mồ của kỹ nữ Đạm Tiên không ai thăm viếng, Thúy Kiều khóc thương cho người bạc mệnh; gặp Kim Trọng, một trang phong lưu tài tử, hai bên chưa nói một lời nào mà lòng đã thấy quyến luyến, xao động.
Kim Trọng tìm cách gặp lại, chàng thuê nhà ở cạnh nhà nàng rồi chờ đợi hàng tháng ròng. Một hôm chàng bắt được chiếc thoa của Kiều đánh rơi, nhân đấy được gặp lại người đẹp, hai bên thổ lộ tâm sự, từ đó họ yêu nhau. Mối tình đầu trong sáng đang độ đằm thắm, bỗng dưng xảy ra chuyện tai ương: đúng lúc chàng Kim về Liêu Dương hộ tang chú thì gia đình Kiều gặp gia biến; có kẻ vu oan cho Vương ông, quan lại không xét thực hư, cứ cho nha lại đến cướp phá nhà Kiều, bắt Vương ông và Vương Quan giam giữ và đánh đập tàn nhẫn. Phải có “ba trăm lạng” hối lộ thì quan lại mới tha.
Trong nhà không còn gì, Kiều buộc phải bán mình chuộc cha. Người ta mối lái cho nàng bán mình làm vợ lẽ Mã Giám Sinh, kỳ thực đây là một gã dắt gái, kết quả là Kiều rơi vào nhà chứa của Tú Bà ở Lâm Tri. Không chịu nhục, nàng rút dao tự tử, nhưng được Tú Bà chạy chữa thuốc thang, lại hứa với nàng sẽ tìm nơi xứng đáng gả chồng để lấy lại tiền mụ đã bỏ ra mua nàng. Kiều được ra ở lầu Ngưng Bích, nhưng vẫn cảm thấy cuộc sống bấp bênh. Một hôm Sở Khanh xuất hiện, tỏ ý muốn giúp nàng bỏ trốn. Nàng tin lời, hiến thân và chạy trốn cùng hắn, hóa ra mắc lừa mưu kế của Tú Bà, bị mụ bắt về đánh đập tàn nhẫn, bắt phải tiếp khách. Từ đấy Kiều lâm vào cảnh ô nhục của một gái lầu xanh nhưng lòng vẫn nhớ về cha mẹ, nhớ về người yêu, hận vì chuyện mình trót phụ anh chàng Kim, băn khoăn không biết Thúy Vân đã thay mình trả nghĩa nối duyên với chàng hay chưa, vẫn trông ngày thoát khỏi nhà chứa.
Trong đám khách làng chơi có Thúc Sinh say mê Kiều, muốn cưới nàng làm lẽ. Sau khi cân nhắc, Kiều nhận lời. Thúc Sinh đưa nàng về nhà. Chẳng bao lâu, cha Thúc Sinh về biết chuyện, đi thưa kiện cửa quan; Kiều thà chịu bị đòn chứ không trở lại lầu xanh; rốt cuộc vì thấy Kiều có tài thơ nên quan thương tình, hòa giải êm chuyện. Đến lượt vợ cả Thúc Sinh là Hoạn Thư đánh ghen, cho gia nhân gây hỏa hoạn và bắt cóc nàng đem về tư dinh ở Vô Tích, biến thành nô tỳ, kịp khi Thúc Sinh tưởng nàng Kiều đã chết, quay về thăm vợ cả thì nhận ra Kiều đang là thị tỳ ở đấy.
Chán cảnh bị hành hạ vì ghen tuông, nàng xin đi tu, được Hoạn Thư cho ra tu ở Quan âm các ngay trong vườn nhà họ Hoạn. Một lần Thúc Sinh lẻn ra tâm sự với Kiều, bị Hoạn Thư rình biết. Tuy không bị đánh mắng, nhưng Kiều càng thấy rõ mối nguy hiểm vẫn chờ sẵn chừng nào còn ở trong nhà họ Hoạn, bèn mạo hiểm đang đêm bỏ trốn đến một ngôi chùa khác. Sư Giác Duyên trụ trì chùa này lúc đầu cho Kiều ở tạm, sau có người cho biết chuông khánh Kiều mang theo là của nhà Hoạn Thư, sợ liên lụy, bèn đưa nàng sang lánh ở nhà họ Bạc. Hóa ra Bạc Bà tuy thường xuyên lui tới cửa chùa nhưng cũng là phường nhà chứa. Mụ lập mưu gả bán giả vờ để đưa nàng vào lầu xanh một lần nữa. Đời Kiều tưởng đến hồi tuyệt vọng thì xuất hiện Từ Hải, một người phi thường, “chọc trời khuấy nước”, nghe danh Thúy Kiều nên tìm đến. Hai bên trò chuyện ý hợp tâm đầu, Từ thấy ở nàng một người tri kỷ, bèn quyết chuộc nàng ra và cưới làm vợ. Thúy Kiều có những tháng ngày hạnh phúc bên Từ Hải, được Từ giúp cho đền ơn trả oán. Thế lực Từ Hải đang mạnh, hùng cứ một vùng biên thùy, Tổng đốc Hồ Tôn Hiến được triều đình cử đi đánh dẹp, đã không dám dùng binh, Hồ đóng quân, bày chước dụ hàng, tìm cách lung lạc Thúy Kiều. Kiều thật dạ, tin người, nghĩ rằng nếu Từ chấp nhận giải binh đầu hàng thì vẫn được “lộc trọng quyền cao”, riêng với nàng thì “công tư vẹn cả hai bề”, lại được về thăm cha mẹ trong vinh hoa phú quý. Nghe Kiều thuyết phục, Từ Hải lúc đầu còn phân vân, sau cũng ưng thuận, từ đó việc binh trễ nải. Hồ biết thời cơ, phục binh giết Từ Hải. Bị bất ngờ, Từ chết đứng, cho đến khi Kiều hối hận đến phục dưới chân, Từ mới ngã. Sau đó trong lễ mừng công, Hồ Tôn Hiến bắt Kiều đánh đàn hầu rượu. Y say mê nhan sắc nàng, nhưng “nghĩ mình phương diện quốc gia”, bèn gán nàng cho viên thổ quan. Đau đớn, hối hận, nhục nhã, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn. Giác Duyên được Tam Hợp đạo cô báo trước, thuê người giăng lưới sẵn, vớt được nàng. Kiều cùng Giác Duyên tu ở một am cỏ ven sông. Đoạn cuối truyện là cảnh đoàn viên, với những diễn biến của nhà họ Vương và chàng Kim từ sau lúc Kiều bán mình chuộc cha, được kể vắn tắt. Chàng Kim trở lại, biết chuyện gia biến của nàng thì đau đớn, vật vã. Nhà họ Vương, theo lời Kiều dặn, cho Thúy Vân lấy chàng thay chị, nhưng rồi chàng vẫn quyết dò tìm tung tích nàng, nhất là sau khi chàng và Vương Quan đã đỗ đạt, vinh hiển. Trên đường đến nhậm chức ở Lâm Tri, hỏi dò dân sở tại mới biết được một đoạn đời Kiều ở lầu xanh tại đấy, lại qua Thúc Sinh mới biết nàng ở với Từ Hải. Rồi có tin Từ Hải đã bị dẹp, cả nhà tới nơi thì biết tin Kiều tự tử chết; đang lập đàn giải oan cho nàng thì sư Giác Duyên đến báo tin nàng còn sống, đang ở am cỏ gần đấy.
Sau 15 năm lưu lạc, Kiều gặp lại cha mẹ và các em. Trong cuộc đoàn viên, cả Thúy Vân lẫn Kim Trọng đều khuyên Kiều nối lại tình xưa; Kiều một mực từ chối nhưng cả nhà thuyết phục hết lẽ, cuối cùng nàng phải nhận lời với điều kiện là lấy nhau nhưng không cùng chung chăn gối. Cuối truyện là những lời người kể chuyện ngợi ca Thúy Kiều “thục nữ chí cao”, phác họa cuộc sống hòa hợp của đôi tình nhân xưa, cuộc sống hòa hợp và vẹn toàn trong phong lưu phú quý, phúc lộc lâu bền của gia đình hai họ Vương và Kim. Kết thúc tác phẩm, người kể chuyện dành 12 câu thơ diễn giải lại thuyết “thiên mệnh”, thuyết về “nghiệp” và cách ứng xử nên theo. Xung đột trừu tượng giữa “tài” và “mệnh” được giải đáp ở chữ “tâm”. Hai câu cuối cùng tác giả khiêm nhường nói lời thơ ở đây là những “lời quê chắp nhặt dông dài” may ra “mua vui được một vài trống canh” cho người đọc” (Theo Từ điển văn học – từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX – Lại Nguyên Ân chủ biên – NXB Giáo Dục – 1997). Kể từ ngày Truyện Kiều được phổ biến rộng rãi cho đến nay, thiên hạ vẫn tiếp tục tìm hiểu sức hấp dẫn của nó và nghiên cứu tác phẩm này dưới nhiều góc độ khác nhau. Có lẽ, trên thế giới chỉ có Truyện Kiều là trường hợp duy nhất mà độc giả đã dùng tác phẩm để bói cho số phận của mình. Và bản thân tác phẩm đã được quần chúng sử dụng để trở thành một sinh hoạt văn hóa rất đa dạng. Ta có thể kể đến: bói kiều, tập Kiều, lẩy Kiều, đố Kiều, nhại Kiều, vịnh Kiều… hoặc dùng các thể loại phú, văn tế, văn sách, biểu, từ khúc, ngâm khúc v.v… để viết về Kiều và các nhân vật trong Truyện Kiều. Ngoài ra, Truyện Kiều còn được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh, chèo, cải lương… và cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho các họa sĩ vẽ nhân vật, cảnh vật trong tác phẩm này v.v… Thông thường khi muốn “bói Kiều”, người ta khăn áo chỉnh tề, tay cầm cuốn Truyện Kiều, thành tâm với điều mà mình muốn biết sắp xẩy ra như thế nào, nhìn nén hương đang cháy nghi ngút và khấn: “Lạy vua Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều con tên là… xin cho con biết chuyện X của con sẽ như thế nào, xin ứng vào trang (phải hoặc trái), dòng thứ… (tính từ dưới lên hoặc từ trên xuống)”. Khấn xong thì người bói lật trang Kiều để tìm câu ứng nghiệm, tùy theo tâm thế của mình mà suy ngẫm, so sánh, tính già tính non… Tại sao lại dùng Truyện Kiều để bói? Tiến sĩ Đào Nguyên Phổ từ năm 1895 cũng đã đặt câu hỏi như thế và ông lý giải phải chăng văn chương Truyện Kiều là một “khúc tình từ quán tuyệt thiên cổ… cho nên chẳng những làm say lòng người đọc mà còn cảm thông được thần linh nữa?” “Lẩy Kiều” là dùng câu 6 ghép vào câu 8 – lấy bất kỳ câu nào trong 3.254 câu trong Truyện Kiều miễn là cùng vần để tạo ra một văn bản hàm nghĩa khác; dài ngắn như thế nào là tùy vào nội dung mà người lẩy kiều muốn diễn đạt. Còn “Tập Kiều” người ta cũng ghép như trên, nhưng bên cạnh những chữ nguyên vẹn từ Truyện Kiều còn có những câu, những chữ do người đặt làm ra. Với lối chơi tao nhã như thế này, cả hàng ngàn bài thơ mang nhiều nội dung, chủ đề khác nhau đã ra đời. Điều thú vị là có người đã miêu tả được cả những điều mà sinh thời thi hào Nguyễn Du không ngờ đến. Chẳng hạn như Cái sáo diều: “Cánh hồng bay bổng tuyệt vời/ Đinh ninh hai miệng một lời song song”; hoặc… Xe hơi: “Thênh thang đường cái thanh vân/ Một xe trong cõi hồng trần như bay” v.v… “Nhại Kiều” là phỏng theo một số câu quen thuộc trong Truyện Kiều để viết ra những câu tương tự, thường là để châm biếm, giễu cợt. Chẳng hạn, với hai câu: “Có tài mà cậy chi tài/ Chữ tài liền với chữ tai một vần”, có người “nhại Kiều” là: Có tiền mà cậy chi tiền/ Có tiền như Mỹ cũng phiền lắm thay”… Nhưng công phu hơn cả phải kể đến “Kiều tân thời” dài 310 câu của Bạch Diện, in tại Hà Nội năm 1935; “Kiều bình dân học vụ” của Nguyễn Văn Trinh, dài 2.050 lục bát viết từ sau Cách mạng tháng Tám nhằm tuyên truyền cho chủ trương xóa nạn mù chữ… “Vịnh Kiều” là lấy Truyện Kiều hoặc các nhân vật trong Truyện Kiều làm đề tài để qua đó giãi bày tâm sự hoặc nêu lên quan điểm của mình khi nhận định một vấn đề nào đó. Chẳng hạn bài Vịnh thằng bán tơ, cụ Nguyễn Khuyến viết: Thằng bán tơ kia giở giói ra/ Để cho bận đến cụ Viên già/ Muốn êm phải biện ba trăm lạng/ Khéo xếp nên liều một chiếc thoa/ Đón khách lựa màu son phần mụ/ Đem thân chuộc lấy tội tình cha/ Có tiền việc trước mà xong nhỉ/ Thời trước làm quan cũng thế a?” thì đâu phải chỉ vịnh thằng bán tơ mà còn là lời tố cáo tệ nạn tham nhũng của xã hội đương thời. “Đố Kiều” là người chơi dựa vào cả ý lẫn âm hoặc chỉ âm và ý của câu Kiều để đố. Chẳng hạn: “Cũng liều nhắm mắt đưa chân/ Thử xem con tạo xoay vần ra sao” được giải là “cái kệ” vì đồng âm với “mặc kệ”; hoặc: “Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn/ Khuôn thiên có biết vuông tròn mà hay/ Chẳng duyên chưa dễ vào tay/ Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung” được giải là “cái quạt giấy” v.v… Cách chơi “câu đối” hoặc “đề vịnh” thì cũng lấy từ các câu thơ trong Truyện Kiều mà sắp xếp thành. Chẳng hạn, có câu đối đề nhà thờ Nguyễn Du:
Khúc đâu lưu thủy hành văn, để tiếng tài tình chung đất nước;
Chốn ấy sơn hồ cổ thụ, nhớ người thanh khí nặng non sông. hoặc đề quán trà của vợ chồng nhà thơ già:
Chung lưng mở một ngôi hàng, khi trà trưa, khi rượu sớm;
Vỗ tay nên mười khúc ngâm, này ngọc nhả, này châu phun.
Khảo sát ca dao, dân ca, hát trống quân, hát ví, hát sa mạc, hát giặm… ta cũng thấy nhân vật trong Truyện Kiều được đi vào trong lời ăn tiếng nói của nhân dân. Chẳng hạn, trong hò Nam Bộ: “Đường Sài Gòn trơn như mỡ/ Cát núi Sập lạnh như gương/ Dang tay đưa bạn lên đường/ Gá duyên để gió, khác chi Kim Trọng về để lại khúc đoạn trường cho Kiều nương”. Trong hò huế ở Bình Trị Thiên: “Sen xa hồ sen khô hồ cạn/ Lựu xa đào lựu ngã đào nghiêng/ Xa em ngày tháng gieo phiền/ Khác nào như Thúy Kiều xa Kim Trọng biết mấy niên cho hết sầu”.
Trong hò khoan Quảng Nam: “Kể từ ngày xa cách người thương/ Về nhà đài sen nối sáp đọc mấy chương phong tình/ Đọc tới đoạn Thúy Kiều xa cách Kim sinh/ Thôi Oanh Oanh xa Trương Quân Thụy, nghĩ tội tình biết chừng mô!”. Hoặc trong hát quan họ Bắc Ninh: “Bây giờ tôi mới gặp tình/ Khác gì Kim Trọng thanh minh gặp Kiều/ Tiện đây tôi hỏi một điều/ Đài gương soi đến dấu bèo cho nhau?/ Từ khi ăn một miếng trầu/ Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu tương tư…”. Trong hát đối đáp về nội dung Truyện Kiều cũng là một sinh hoạt rất độc đáo trong dân gian. Chẳng hạn: “ -Truyện Kiều anh thuộc đã thông/ Đố anh kể được một dòng chữ Nho?/ – Hồ công quyết chí thừa cơ/ Lễ tiền binh hậu, khắc cờ lập công/ – Truyện Kiều anh thuộc đã thông/ Đố anh kể được một dòng toàn Nôm? – Này chồng, này mẹ, này cha/ Này là em ruột, này là em dâu/ – Truyện Kiều anh thuộc đã lâu/ Đố anh kể được một câu hết Kiều?/ – Trăm năm trong cõi người ta/ Mua vui cũng được một vài trống canh…” Ngoài những sinh hoạt văn hóa phổ biến như trên, ta còn thấy có người còn tìm cảm hứng trong Truyện Kiều bằng những cách chơi cầu kỳ hơn như: “Án Kiều” do Nguyễn Văn Thắng (1803-?) soạn bằng văn Nôm, gồm 22 bản án soạn cho 22 nhân vật trong truyện với lời kết tội, khen thưởng; Nguyễn Liêng Phong cũng viết “Kim Vân Kiều tập án”… Còn “Truyện Kiều gọt” là cách chơi khá lạ lùng của cử nhân Hà Mai Khôi, người Thái Bình, chưa rõ năm sinh và năm mất đã tóm lược Truyện Kiều bằng thể thơ 4 chữ, có 142 đoạn thơ (568 câu) theo lối “tập Kiều”. Chẳng hạn: “ Có nhà viên ngoại/ Vốn dòng nho gia/ Một trai con rốt/ Hai ả Tố Nga/ Đủ mùi ca ngâm/ Nổi danh tài sắc/Phú quý ai bì/ Phong lưu rất mực/ Vân xem trang trọng/ Nét ngài nở nang/ Kiều càng sắc sảo/Ngọc thốt đoan trang…”. Nhà nho Phạm Mạnh Danh (1866 – 1942) lại kỳ công hơn nữa, đã viết hàng trăm bài thơ mà ông gọi là “Kiều tập thơ cổ”: lấy bất kỳ những câu thơ cổ điển của các thi nhân Trung Quốc, ghép lại thành bài thơ tứ tuyệt; rồi dùng thơ Kiều mà dịch nghĩa những câu thơ ấy.
Phạm Quỳnh nhận xét: “Hơn ngàn câu thanh cao diễm lệ trong thơ cổ chữ Hán, đối chiếu với hơn ngàn câu bóng bẩy chải chuốc trong Truyện Kiều của ta, ghép vần ghép điệu, lựa ý lựa lời, Nôm với chữ (Hán), Chữ (Hán) với Nôm, phảng phất xa gần, tựa hồ dịch mà không phải dịch, rất có công phu, thật cũng tài tình, âu cũng là để thỏa cái thị hiếu văn chương, biểu (lộ) cái cốt cách thanh nhã của một khách chơi thơ sành sỏi vậy”. Chẳng hạn, Phạm Mạnh Danh đã ghép:
Ngọc tác phu cơ, băng tác thần, (Tân Liêu Trai)
Hối tương tĩnh chất điếm phong trần. (Bách Mỹ)
Đa nhân lợi hại đa phùng kiếp, (Thuyết Đường)
Nhược vị hồng nhan tích thử nhân. (Bách Mỹ)
và dùng thơ Kiều để “dịch”: “Tiếc thay trong giá, trắng ngần/ Đến phong trần cũng phong trần như ai/ Tẻ vui cũng một kiếp người/ Hồng nhan phải giống ở đời mãi ru?”. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương cũng có cách chơi mà ông gọi là “thơ truyền Kiều” mà người chơi gọi là “người truyền” do quan niệm: Truyện Kiều được coi là như một kiến trúc trường giang, đặt trên nền tảng ngôn ngữ chứ không phải văn tự, do đó 3.254 câu lục bát của Nguyễn Du chỉ là một chuỗi liên tiếp 22.778 tiếng (không có vấn đề chấm câu hay viết hoa v.v…). “Người truyền” sẽ lấy ra từng chuỗi nhỏ từ 6 tiếng trở lên, bất cứ ở quãng nào trên chuỗi mẹ (dài tới 22.778 tiếng của Truyện Kiều) để kết hợp lại thành một kiến trúc nhỏ mang tên “thơ truyền Kiều”, mà ý nghĩa có thể khác hẳn, không lệ thuộc vào nội dung của Truyện Kiều. Chẳng hạn, một bài “thơ truyền Kiều” của “người truyền” Vũ Hoàng Chương: “cạn tóc tơ gà đà gáy sáng/ thôi bây giờ kẻ ngược người xuôi/ tài tình chi lắm cho trời đất/ ghen cánh hồng bay bổng tuyệt vời/(Bài truyền số 4)”… Đặc biệt nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế lại bày tỏ tấm lòng yêu lời thơ trác tuyệt của Nguyễn Du đã bỏ công sức để làm “Truyện Kiều đọc ngược” cũng dài 3.254 câu thơ như nguyên bản. Chẳng hạn, đây là đoạn “tái hồi Kim Trọng”, ông đã sắp xếp: “Lời quê chắp nhặt dông dài (câu 3253)/ Mua vui cũng được một vài trống canh (câu 3254)/ Nàng rằng: Phận thiếp đã đành (câu 3145)/Có làm chi nữa cái mình bỏ đi (câu 3146)/ Chở che đùm bọc thiếu gì (câu 3185)/ Trăm năm danh tiết cũng vìđêm nay (câu 3186)/ Tẻ vui cũng tại lòng này (câu 3209)/ Hay là khổ tận đến ngày cam lai? (câu 3210)…”. Không những thế, ngay từ khi tác phẩm mới được khắc in có nhiều người mê đến nỗi dịch toàn bộ nội dung Truyện Kiều… ra chữ Hán! Hoặc có người viết “hậu Truyện Kiều” như Đào Hoa Mộng ký diễn ca của Hà Đạm Hiên, trong đó có nhân vật Lan Nương – Nguyễn Sinh là hậu thân của Thúy Kiều – Kim Trọng v.v…; Hoặc Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh sẵn sàng đúc nhà vàng cho nàng Kiều! Về sau, học giả Đào Duy Anh đã soạn Từ điển Truyện Kiều; nhà nghiên cứu Phạm Đan Quế viết Tìm hiểu điển tích Truyện Kiều; nhà giáo Nguyễn Văn Y sưu tập khá đầy đủ Thơ Vịnh Kiều; nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh sưu tập Thơ văn quanh Truyện Kiều; nhà giáo Lê Thu Yến cũng sưu tập Nguyễn Du và Truyện Kiều trong nguồn cảm hứng của người đời sau (từ năm 1930 đến nay); nhà thơ Phạm Thiên Thư viết Đoạn trường vô thanh (dài 3.296 câu thơ lục bát), nhà thơ Trần Thanh Vân viết “Đoạn trường nhất thanh” (dài 1.028 câu thơ lục bát)… cũng là một cách “nối tiếp” Truyện Kiều;nhà nghiên cứu Vũ Văn Kính viết Tìm nguyên tác Truyện Kiều; các danh họa Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân… cũng từng vẽ nhân vật trong Truyện Kiều v.v… Gần đây, nhà thơ Nguyệt Đình viết thư pháp 3.254 câu thơ Kiều, tập sách này nặng đến… 75 kg! Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam viết bản giao hưởng số 7 Chuyện nàng Kiều, nhạc sĩ Vũ Đình Ân viết hợp xướng bốn bè Truyện Kiều v.v… Ảnh hưởng của Truyện Kiều không chỉ đối với người đọc đương thời mà càng về sau càng tỏa sáng và sức thu hút rất mãnh liệt khó có thể kể xiết. Có thể nói, mỗi từ, mỗi câu trong Truyện Kiều đều là nguồn cảm hứng vô tận cho người thưởng thức, lẫn người nghiên cứu. Do đó, khó ai có thể “vỗ ngực xưng tên” rằng mình là người am hiểu Truyện Kiều nhất. Ma lực Truyện Kiều chính là chỗ đó. Chắc chắn sau này sẽ có thêm nhiều công trình nghiên cứu khác, hoặc những cảm hứng sáng tạo khác, mà người ta còn tìm thấy ở Truyện Kiều.
Tôn vinh
Sau khi Nguyễn Du mất, vua Minh Mạng thương tiếc ban 20 lạng bạc, 2 cây gấm Tàu, 30 cân sáp ong và 300 quan tiền lo việc tang lễ. Thi hài của Nguyễn Du được chôn ở cánh đồng Bàn Đá, xã An Ninh, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên); bốn năm sau, hài cốt được đưa vềchôn cất tại cánh đồng Cùng, nơi giáp ranh giữa hai xã Xuân Mỹ và Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh) ngày nay. Cuối thu năm 2002, với lòng ngưỡng mộ, chúng tôi đã tìm về khu lưu niệm Nguyễn Du. Tại đây, tượng của Nguyễn Du ngồi đĩnh đạc, mắt ngước lên trời xanh như đang tìm thi tứ giữa cõi càn khôn, trên tay cầm ngọn bút lông… Tượng này chỉ mới được dựng năm 2001 và cả khu nhà lưu niệm phía sau tượng vẫn chưa trưng bày gì nhiều, dù đã có kế hoạch hoàn chỉnh. Theo con đường lát gạch Bát Tràng, chúng tôi đến nhà thờ Nguyễn Du. Đây là gian nhà do Tiến sĩ Nguyễn Mai và Hội Khai trí Tiến Đức xây dựng năm 1940. Phía ngoài nhà thờ có ghi dòng chữ Hán “Địa linh nhân kiệt”, hai bên câu đối:
Nhất đại tài hoa, vi sứ vi khanh sinh bất thiểm;
Bách niên sự nghiệp, tại gia tại quốc tử do vinh.
Có người tạm dịch:
Một đời tài hoa, lúc đi sứ, lúc làm quan, sống không hổ thẹn;
Trăm năm sự nghiệp, khi việc nước, khi việc nhà, chết vẫn vinh quang.
Nguyễn Quảng Tuân dịch:
Lúc sinh tiền, một kiếp tài hoa, đi sứ làm quan đều chẳng thẹn;
Khi tử hậu, trăm năm sự nghiệp, với nước với nhà mãi còn vinh.
Không rõ có phải đây là câu đối viếng của vua Minh Mạng hay không, nhưng chắc chắn đã có từ lúc Nguyễn Du mất. Ngoài ra còn có câu đối của Tiến sĩ Nguyễn Mai (có người tạm dịch):
Trời thái bình non sông bốn mặt;
Đất văn hiến lễ nhạc trăm năm.
Đi tiếp một đoạn đường ngắn chúng tôi đến Đàn tế và bia đá do bố và chú bác của Nguyễn Du lập năm 1762, để thờ phượng và nhớ ơn cha mẹ. Phía sau bia đá có chữ “Phúc”. Nơi đây còn có cây muỗm và cây bồ lỗ do ông nội Nguyễn Du trồng cách đây đã hơn 300 năm, rợp bóng mát. Chúng tôi còn đến thăm nhà Từ văn – nơi bình thơ của các bậc phong lưu tài tử ngày trước, phía sau là nơi thờ Đức Khổng Tử. Trước sân nhà có một cái khánh làm bằng đá quý, cầm dùi gỗ gõ vào ta nghe phát ra tiếng kêu “boong boong” thanh thoát. Trong khu di tích rộng trên 2 ha còn có một ngôi đình rất cổ với lối kiến trúc độc đáo. Đây là đình Chợ Trổ từ huyện Đức Thọ được chuyển về đây – vì lúc thi hào sinh ra thì trên xứ Nghệ đã có ngôi đình này. Sự “chuyển hoán” rất hợp lý, gợi cho du khách tưởng như đâu đây vẫn còn bóng dáng của Nguyễn Du. Toàn bộ ngôi đình dược làm bằng gỗ mít, nay đã bóng láng đến diệu kỳ. Bước vào bên trong, chúng tôi thấy có khá nhiều tập Truyện Kiều, sách nghiên cứu về tác phẩm và cuộc đời Nguyễn Du. Nếu trước đây thời chống Mỹ cứu nước, nhà thơ Vương Trọng đến viếng mộ Nguyễn Du: “Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây/ Ngửng trời cao, ngó đất dày/ Cắn môi, tay nắm bàn tay của mình/ Một vùng cồn bãi trống chênh/ Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề…” thì nay đã khác hẳn. Khu mộ Nguyễn Du được xây dựng rất khang trang, phía trước là nhà bia, sau là mộ ốp đá hoa cương rất đẹp. Từ Nghi Xuân với khu di tích của thi hào Nguyễn Du chúng ta hướng về huyện Nam Đàn – nơi có khu di tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà lòng bồi hồi xúc động. Chỉ riêng xứ Nghệ đã thay mặt dân tộc để gìn giữ hai khu di tích của hai vĩ nhân đã được đã được UNESCO công nhận, quả là một vinh dự to lớn.
Hiện nay, vấn đề “Đi tìm nguyên tác Truyện Kiều” vẫn là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu văn học Việt Nam. Đây cũng tên chủ đề cuộc hội thảo khoa học do Trung tâm Quốc học Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức tại Hà Nội vào ngày 5/3/2003. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của Giáo sư Nguyễn Hồng Quang phát biểu: “Với những bản Kiều chữ Nôm, các nhà nghiên cứu cần phải làm việc nghiêm túc, chính xác, nhất là trong việc phiên âm chữ Nôm, kết hợp với những ngành khoa học khác, để làm chính xác vấn đề lịch sử văn bản Truyện Kiều, từ đó có thể phục nguyên một bản Kiều gần với nguyên tác nhất; đối với Truyện Kiều đã phổ biến rộng rãi, được công chúng tiếp nhận hiện nay, các nhà nghiên cứu, nếu thấy cần thiết thì sửa chữa một cách khoa học, hợp lý, nhất là phải phù hợp với thị hiếu, tâm lý chấp nhận của người tiếp nhận hiện nay. Như vậy, từ nay trở đi (thực ra đã có), Truyện Kiều của Nguyễn Du sẽ tồn tại dưới hai dạng: các bản phổ thông, dễ tiếp nhận và những bản Kiều phục Nôm. Đây được xem là một hướng đi hợp lý, khoa học đối với việc nghiên cứu Truyện Kiều” (Xem Thể thao & văn hóa số ra ngày 7/3/2003).
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.