Chùa Tây Linh (Chùa Mộc Đồng – Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Chùa Tây Linh (Chùa Mộc Đồng – Vĩnh Bảo, Hải Phòng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 40km về phía Tây Nam và cách trung tâm huyện lỵ khoảng 12 km về phía Tây Bắc, chùa Tây Linh, tên gọi khác là chùa Mộc Đồng hay chùa Hàm Tây thuộc địa phận thôn 3, làng Hàm Dương (Nay là thôn Tây Hàm Dương) xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo. 

Trong Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, có ghi

Theo các cụ cao niên trong làng, trước đây chùa tọa lạc tại cánh đồng Vườn Mán, cách xa trung tâm của làng. Năm 1907, ngôi chùa được chuyển về vị trí ủy ban nhân dân xã Hòa Bình hiện nay. Năm 1976, chùa được nhân dân trưng dụng làm trụ sở ủy ban nhân dân xã. Sang năm 1982, chùa bị tháo dỡ, vật liệu dùng để xây trường học. Cho đến năm 2003, dưới sự quan tâm của chính quyền và nhân dân, ngôi chùa được phục dựng lại tại vị trí liền kề ngay sau khuôn viên ủy ban nhân dân xã.1

Lịch sử và nhân vật

Chùa Tây Linh là công trình kiến trúc văn hóa tâm linh của nhân dân làng Hàm Dương, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, được xây dựng vào thời vua Lê Dụ Tông (năm 1705). Không chỉ đơn thuần là những giá trị vật chất hiện còn, chùa Tây Linh còn là một trong  những địa điểm cụ thể ghi nhận những sự kiện lịch sử kháng chiến quan trọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân địa phương. 

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa Tây Linh luôn là một cơ sở hoạt động bí mật của lực lượng kháng chiến. Từ cuối năm 1945 đến năm 1950, từ ngôi chùa này nhiều nhà sư trụ trì tại đây đã tham gia hoạt động kháng chiến, có người hy sinh tại địa điểm ngôi chùa. Có nhà sư đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và trở thành những cán bộ chủ chốt của phong trào kháng chiến xã Hòa Bình; tiêu biểu là các vị: Thích Tâm Mao, Thích Tâm Lưu, Thích Tâm Khơi, Thích Tâm San, Thích Tâm Quất… Tên hiệu pháp danh của các vị sư này vẫn còn lưu trên bia đá đặt trên các mộ tháp tại chùa. Đặc biệt, nhà sư Thích Tâm Thành người xã Thanh Lương, huyện Vĩnh Bảo từng là đại biểu Quốc hội nhân dân thành phố, Phó Ban trị sự Hội Phật giáo thành phố Hải Phòng khoảng những năm 1967-1968.

Ngày 12/6/1947, Đại hội chi bộ xã Hòa Bình lần thứ nhất được tổ chức tại chùa Tây Linh. Đại hội gồm 25 đảng viên, đồng chí Phạm Văn Hòa được bầu làm Bí thư chi bộ. Cuối năm 1948, chi bộ xã Hòa Bình tổ chức kỳ họp lần thứ 2 tại chùa Tây Linh. Tại kỳ họp này, nhà sư Thích Tâm Quất được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và được bầu làm Chủ tịch Liên Việt xã, được chi bộ phân công trực tiếp hoạt động bí mật tại chùa Tây Linh.

Cuối năm 1949, tình hình trở nên căng thẳng giữa ta và địch, vùng tự do vị co hẹp lại, nhiều cơ sở hoạt động bí mật tan vỡ. Riêng địa điểm chùa Tây Linh vẫn là cơ sở vững chắc nhất trong vùng tề lúc đó. Theo sự phân công của chi bộ, nhà sư Thích Tâm Quất vừa là nhà tu hành, vừa là cán bộ chủ chốt nằm vùng, làm nhiệm vụ móc nối liên lạc, gây dựng cơ sở hoạt động lâu dài trong vùng địch.

Năm 1949, trong chiến dịch Mêni, ông Phạm Văn Thảo dẫn một đại đội bộ đội chủ lực của Quân khu Tả Ngạn bí mật vượt sông Hóa và nghỉ đêm tại chùa Tây Linh để chuẩn bị cho trận tập kích đánh bốt Nam Am. Cùng năm này (1949) chùa Tây Linh còn là địa điểm tập trung của đại đội du kích thoát ly của xã.

Tháng 11/1950, chùa còn là cơ sở đấu tranh trực diện giữa nhà sư Thích Tâm Quất với 4 tên lính ác ôn từ bốt Nam Am xuống nhằm chiếm chùa và thủ tiêu nhà sư. Bằng sự thông minh, nhanh trí, dũng cảm, nhà sư đã kiên quyết đấu tranh cuối cùng chúng phải chịu khuất phục.

Năm 1952, tại địa điểm chùa Tây Linh, ông Hoàng Hữu Bằng và ông Đoàn Như Nhợ được tổ chức phân công nhiệm vụ trải truyền đơn ở nhiều làng xã lân cận và cắm cờ tổ quốc lên nóc Tam quan chùa Tây Linh, làm cho địch hết sức hoang mang, lo sợ.

Những năm 1951-1952 chùa là địa điểm tập kết của bộ đội chủ lực đoàn 331, để chuẩn bị cho trận đánh, bao vây diệt các đồn bốt Nam Am, Tây Am. Năm 1953, địa điểm chùa trở thành hội trường tập huấn chống giặc bắt lính của thanh niên toàn xã. Tháng 9/1945 chùa Tây Linh là cơ sở đón tiếp hàng binh Pháp, gọi là sở chiêu đã, do Tỉnh đội Kiến An tổ chức.

Kiến trúc cảnh quan

Trải qua nhiều lần trùng tu và sửa chữa, hiện nay chùa đã trở thành một khuôn viên hoàn chỉnh, bao gồm chùa chính, nhà thờ Mẫu, nhà khách, mộ tháp, nhà bia, hồ nước, tọa lạc trên một khuôn viên thoáng mát.

Chùa chính có bố cục mặt bằng hình chữ Đinh, gồm 5 gian tiền đường và 2 gian hậu cung. Trước sân chùa tạo bể non bộ khá lớn, chính giữa bể là một long đình cao chừng 2m, trong long đình là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trong tư thế đứng. Bên phải chùa là hồ nước rộng. Bên trái chùa là nhà thờ mẫu, khu vườn tháp và bia đá. Xung quanh chùa trồng những cây cổ thụ. Tất cả hợp thành một không gian cảnh quan hoàn chỉnh mang đậm nét tâm linh.

Hiện vật

Trải qua thời gian, chiến tranh, thiên nhiên khắc nghiệt, chùa Tây Linh hiện còn bảo tồn được khá nhiều những pho tượng cổ, mộ tháp và bia đá.

+ Tượng Pháp: Tại toàn Phật điện còn 13 pho tượng gỗ có niên đại cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX. Các pho tượng đều được tạo kiểu tượng tròn, đường nét hết sức tinh xảo. Ở vị trí cao nhất của toàn Phật điện là bộ tượng tam thế, tên đầy đủ được gọi là Tam thế thường trụ Diệu Pháp Thân. Ở hàng thứ hai là tượng A Di Đà còn được gọi là Di Đà tiếp dẫn. Bên trái của tượng A Di Đà là tượng Quan Thế Âm bồ tát, bên phải là Đại Thế Chí bồ tát. Ở hàng thứ ba là bộ tượng Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu. Hàng thứ tư là tượng Quan Ân chuẩn đề, bên trái là tượng Tuyết Sơn, bên phải là tượng Quan Âm tống tử. Hàng thứ năm là tượng Phật Di Lặc và hàng cuối cùng là tòa Cửu Long (tượng Thích ca sơ sinh trong tòa Cửu Long). Riêng tòa Cửu Long là hiện vật mới, còn lại 13 pho tượng nêu trên đều là những hiện vật cổ. Các pho tượng đều được sơn son, thếp bạc phủ hoàng kim, niên đại tạo tác cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

+ Bia đá: Hiện tại chùa còn lưu giữ được 05 tấm bia đá, toàn bộ số bia này đều tạo kiểu dẹt, trán bia hình bán nguyệt. Hầu hết số bia này đều bị mờ chữ không đọc được, chỉ còn loáng thoáng nhận biết qua dòng lạc khoản của 01 tấm bia có ghi niên đại tạo dựng bia năm Khải Định ngũ niên (1920).

+ Mộ tháp: Các mộ tháp được quy hoạch tại một khoảng đất vừa phải, vuông vắn. Tổng cộng có 06 mộ tháp, trong đó 04 mộ có niên đại thời Nguyễn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Tháp xây kiểu hình trụ vuông gồm 3 tầng, tường ngoài đầu được trát bằng vữa ba ta (Vữa cát, vôi) và quét phủ bởi nước ve màu ghi xám. Phần ô vuông ở tầng giữa của tháp có gắn các bia đá ghi tên hiệu  (pháp danh) của các nhà sư từng trụ trì tại ngôi chùa Tây Linh.

+ Bát hương: Hiện tại chùa còn bảo tồn được 01 bát hương gốm sứ men nâu da lươn. Bát hương có niên đại cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tình trạng nứt, vỡ quai.

+ Chân tảng đá: Xung quanh khuôn viên còn khá nhiều chân tảng đá kê cột. Các chân tảng đá có đường nét hoa văn tạo tác niên đại đầu thế kỷ XX. Hình dáng chân tảng: trên tròn, dưới vuông, giữa cấp vuông và tròn tạo một đường chỉ tròn chạy xung quanh, mặt chân tảng to nhất có đường kính 30cm.

Sự kiện và lễ hội

Chùa Tây Linh là một trong những trung tâm sinh hoạt văn hóa tâm linh, tôn giáo đạo Phật của nhân dân địa phương. Hàng năm nhân dân trong làng, ngoài xã lại đến dâng hương vào các ngày sóc, vọng hàng tháng và các tuần tiết như Lễ Phật đản 8/4 (Ngày 15/4 Âm lịch), Tết Vu Lan (15/7). Ngoài ra, trong năm còn lấy ngày 18/11 Âm lịch là ngày giỗ các vị sư tổ (các vị cao tăng), thu hút đông đảo khách thập phương và nhân dân trong và ngoài làng đến dâng hương lễ Phật, cầu cho “Quốc thái, dân an, mưa thuận gió hòa”.

Xếp hạng

Do có những thành tích đáng tự hào ấy, ngày 22/7/2005, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 742/TTg về việc tặng Bằng khen cho chùa Tây Linh vì đã có thành tích trong hai cuộc kháng chiến.

Chú thích

  1. Chùa cổ Hải Phòng (2007), tập 2, Nxb Hải Phòng, tr 77.

Tài liệu tham khảo 

  1. Thành đoàn Hải Phòng, Chùa Tây Linh, xã Hòa Bình, huyện Vĩnh Bảo, Số ra ngày 06/04/2023.
  2. Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng, 2017.

__________________________

Các ngôn ngữ khác

1. English

Name and geographical location

Located about 40 kilometers southwest of the center of Hai Phong City and about 12 kilometers northwest of the district center, Tay Linh Pagoda, also known as Moc Dong Pagoda or Ham Tay Pagoda, belongs to Hamlet 3, Ham Duong Village (now Tay Ham Duong Hamlet), Hoa Binh Commune, Vinh Bao District.

In Ancient Pagodas of Hai Phong, Volume II, it is written that:

According to the village elders, the pagoda was originally located in the Vuon Man field, far from the village center. In 1907, the pagoda was moved to the site of the current People’s Committee of Hoa Binh Commune. In 1976, it was requisitioned as the commune’s administrative office. In 1982, it was dismantled, and its materials were reused to build a school. In 2003, thanks to the care of local authorities and residents, the pagoda was reconstructed just behind the current People’s Committee compound.

History and figures

Tay Linh Pagoda is a spiritual and cultural architectural work of the people of Ham Duong Village, Hoa Binh Commune, Vinh Bao District, Hai Phong City. It was built during the reign of King Le Du Tong (1705). Beyond its physical values, Tay Linh Pagoda also marks important revolutionary events related to the local Party Committee, government, and people.

During the resistance war against the French, Tay Linh Pagoda served as a secret base for revolutionary forces. From late 1945 to 1950, many monks residing at the pagoda joined the resistance, with some sacrificing their lives on its grounds. Several monks were admitted to the Communist Party of Vietnam and became key leaders of the Hoa Binh resistance movement, notably Venerables Thich Tam Mao, Thich Tam Luu, Thich Tam Khoi, Thich Tam San, and Thich Tam Quat. Their Dharma names remain inscribed on the stone steles at the pagoda’s stupas. Particularly, Venerable Thich Tam Thanh, a native of Thanh Luong Commune, Vinh Bao District, was once a National Assembly delegate and Deputy Head of the Hai Phong Buddhist Sangha around 1967–1968.

On June 12, 1947, the first Congress of the Hoa Binh Commune Party Cell was held at Tay Linh Pagoda, attended by 25 party members, electing comrade Pham Van Hoa as Secretary. At the end of 1948, the second Congress took place at the same venue, where Venerable Thich Tam Quat was admitted to the Party and appointed Chairman of the Lien Viet Front of the commune, tasked with clandestine revolutionary work at the pagoda.

By late 1949, as the conflict between our forces and the enemy intensified, Tay Linh Pagoda remained one of the strongest revolutionary bases in the area. Venerable Thich Tam Quat operated both as a monk and a key underground cadre, maintaining communications and organizing long-term resistance networks within the enemy’s zone.

In 1949, during the Meni campaign, Commander Pham Van Thao led a main battalion of the Left Bank Military Zone across the Hoa River to rest at Tay Linh Pagoda before launching a raid on Nam Am outpost. That same year, the pagoda also served as a gathering point for the commune’s guerrilla forces.

In November 1950, Venerable Thich Tam Quat directly confronted four brutal soldiers from Nam Am who attempted to occupy the pagoda and assassinate him. With courage and wit, the venerable prevailed, forcing them to retreat.

In 1952, at Tay Linh Pagoda, comrades Hoang Huu Bang and Doan Nhu Nho distributed leaflets across nearby villages and raised the national flag atop the pagoda’s Tam Quan Gate, striking fear among the enemy.

Between 1951 and 1952, the pagoda served as an assembly point for Battalion 331 to prepare operations to eliminate the Nam Am and Tay Am outposts. In 1953, it became a training hall for anti-conscription activities among the commune’s youth. In September 1945, Tay Linh Pagoda also functioned as a reception post for surrendered French soldiers, under the Kien An Provincial Army Command.

Architecture and landscape

After several restorations, the pagoda now forms a complete complex, including the main pagoda, the Mother Goddess Hall, guesthouse, stupas, stele house, and lotus pond, all within a spacious compound.

The main pagoda follows the “Đinh” (丁)-shaped layout, consisting of a five-compartment front hall and a two-compartment rear sanctuary. In front is a large rock garden pond with a two-meter-tall pavilion housing a standing statue of Avalokitesvara Bodhisattva. To the right lies a large pond; to the left, the Mother Goddess temple, stupas, and stone steles shaded by ancient trees, forming a serene and spiritual landscape.

Artifacts

Over time and wars, Tay Linh Pagoda has preserved numerous ancient statues, stupas, and stone steles.

  • Buddhist statues: The pagoda retains 13 wooden statues dating from the late 19th to early 20th century. These finely carved sculptures include the Tam The (Three Eternal Buddhas), Amitabha Buddha, Avalokitesvara, Mahasthamaprapta, the Jade Emperor, Nam Tao, Bac Dau, Avalokitesvara Chuan De, Snow Mountain, and Avalokitesvara Tong Tu. The Cuu Long (Nine Dragons) altar featuring the infant Buddha is a later addition. All statues are lacquered and gilded.
  • Stone steles: Five flat steles remain, with semicircular tops. Most are weathered, though one bears an inscription dated to the fifth year of Khai Dinh (1920).
  • Stupas: Six stupas stand within the pagoda grounds, four of which date to the late Nguyen Dynasty. Built of lime-mortar bricks, each three-tiered stupa bears stone tablets engraved with the Dharma names of past abbots.
  • Censer: One glazed brown ceramic censer from the late 19th to early 20th century remains, though its rim is cracked.
  • Stone bases: Many stone column bases survive around the compound, circular above and square below, measuring up to 30 cm in diameter, dating from the early 20th century.

Events and festivals

Tay Linh Pagoda remains a vital spiritual center for local Buddhists. Villagers visit monthly on the 1st and 15th lunar days, and during key festivals such as Vesak (April 15 lunar calendar) and Vu Lan (July 15 lunar calendar). The 18th day of the 11th lunar month marks the memorial day for the venerable abbots, attracting large numbers of devotees praying for peace, prosperity, and favorable weather.

Recognition

For its historical and cultural contributions, on July 22, 2005, Prime Minister Phan Van Khai signed Decision No. 742/TTg awarding Tay Linh Pagoda a Certificate of Commendation for its achievements in both resistance wars.


2. Français

Nom et situation géographique

Située à environ 40 kilomètres au sud-ouest du centre de Hai Phong et à environ 12 kilomètres au nord-ouest du chef-lieu du district, la pagode Tay Linh, également appelée pagode Moc Dong ou pagode Ham Tay, se trouve dans le hameau 3 du village de Ham Duong (aujourd’hui Tay Ham Duong), commune de Hoa Binh, district de Vinh Bao.

Dans Les anciennes pagodes de Hai Phong, tome II, il est écrit :

Selon les anciens du village, la pagode se trouvait autrefois dans le champ de Vuon Man, loin du centre du village. En 1907, la pagode fut déplacée à l’emplacement actuel du Comité populaire de la commune de Hoa Binh. En 1976, elle fut réquisitionnée pour servir de siège administratif communal. En 1982, elle fut démantelée et ses matériaux utilisés pour construire une école. En 2003, grâce à l’attention des autorités et de la population locale, la pagode fut reconstruite juste derrière le Comité populaire.

Histoire et personnages

La pagode Tay Linh est une œuvre architecturale spirituelle et culturelle du village de Ham Duong, commune de Hoa Binh, district de Vinh Bao, ville de Hai Phong. Elle fut construite sous le règne du roi Le Du Tong (1705). Au-delà de sa valeur matérielle, la pagode Tay Linh constitue un site historique marquant des événements révolutionnaires importants du Parti, des autorités et des habitants locaux.

Pendant la guerre de résistance contre les Français, la pagode Tay Linh servit de base secrète aux forces révolutionnaires. De la fin de 1945 à 1950, plusieurs moines résidant dans la pagode participèrent à la résistance, certains tombant sur place. Plusieurs furent admis au Parti communiste vietnamien et devinrent des cadres clés du mouvement de résistance de la commune de Hoa Binh, notamment les vénérables Thich Tam Mao, Thich Tam Luu, Thich Tam Khoi, Thich Tam San et Thich Tam Quat. Leurs noms religieux restent gravés sur les stèles de pierre des stupas de la pagode. En particulier, le vénérable Thich Tam Thanh, originaire de la commune de Thanh Luong, fut député de l’Assemblée nationale et vice-président de la Sangha bouddhiste de Hai Phong vers 1967–1968.

Le 12 juin 1947, le premier Congrès de la cellule du Parti de la commune de Hoa Binh se tint à la pagode Tay Linh, avec 25 membres, et le camarade Pham Van Hoa fut élu secrétaire. À la fin de 1948, la deuxième réunion eut lieu également à la pagode. Lors de celle-ci, le vénérable Thich Tam Quat fut admis au Parti communiste vietnamien et nommé président du Front Lien Viet de la commune, chargé des activités clandestines à la pagode.

À la fin de 1949, alors que la situation entre les forces vietnamiennes et l’ennemi devenait tendue, la pagode Tay Linh demeura la base la plus solide de la région. Le vénérable Thich Tam Quat, à la fois moine et cadre révolutionnaire, assura les liaisons et organisa le réseau de résistance clandestin.

En 1949, pendant la campagne Méni, le commandant Pham Van Thao conduisit un bataillon principal de la zone militaire de la rive gauche pour traverser la rivière Hoa et passa la nuit à la pagode Tay Linh avant de lancer l’assaut contre le poste de Nam Am. La même année, la pagode servit également de point de rassemblement pour la compagnie de guérilleros du village.

En novembre 1950, la pagode fut le théâtre d’une confrontation entre le vénérable Thich Tam Quat et quatre soldats du poste de Nam Am qui tentèrent d’occuper la pagode et de l’assassiner. Grâce à son courage et à son intelligence, il réussit à les repousser.

En 1952, à la pagode Tay Linh, les camarades Hoang Huu Bang et Doan Nhu Nho furent chargés de distribuer des tracts dans les villages voisins et de hisser le drapeau national au sommet de la porte Tam Quan de la pagode, semant la panique parmi les ennemis.

Entre 1951 et 1952, la pagode servit de lieu de rassemblement pour le bataillon 331 afin de préparer les attaques contre les postes de Nam Am et de Tay Am. En 1953, elle devint une salle de formation pour les jeunes contre la conscription. En septembre 1945, la pagode Tay Linh servit aussi de centre d’accueil pour les soldats français capturés, organisé par l’armée de la province de Kien An.

Architecture et paysage

Après plusieurs restaurations, la pagode forme aujourd’hui un ensemble complet comprenant le temple principal, le sanctuaire de la Déesse Mère, la maison des hôtes, les stupas, la maison des stèles et un bassin d’eau dans un environnement spacieux et ombragé.

Le temple principal a une structure en forme de caractère chinois « Đinh » (丁), composé d’un bâtiment avant à cinq travées et d’un sanctuaire arrière à deux travées. Devant la cour, un grand bassin de rocaille abrite un pavillon de deux mètres de haut contenant la statue debout d’Avalokiteshvara. À droite de la pagode se trouve un vaste étang, à gauche le temple de la Déesse Mère, le jardin des stupas et les stèles de pierre. Les arbres centenaires entourent la pagode, créant un cadre spirituel et harmonieux.

Objets conservés

Au fil du temps et des guerres, la pagode Tay Linh a conservé de nombreuses statues anciennes, stupas et stèles de pierre.

  • Statues bouddhiques : Treize statues en bois datant de la fin du XIXe siècle et du début du XXe siècle sont encore conservées. Sculptées avec finesse, elles représentent les Trois Bouddhas éternels, Amitabha, Avalokiteshvara, Mahasthamaprapta, l’Empereur de Jade, Nam Tao, Bac Dau, Avalokiteshvara Chuan De, Tuyet Son, Avalokiteshvara Tong Tu, Maitreya et le Bouddha nouveau-né dans le trône des Neuf Dragons. Toutes sont laquées et dorées.
  • Stèles de pierre : Cinq stèles plates subsistent, surmontées d’un fronton semi-circulaire. La plupart sont effacées, mais l’une porte une inscription datant de la cinquième année du règne de Khai Dinh (1920).
  • Stupas : Six stupas sont recensés, dont quatre datent de la fin de la dynastie des Nguyen. Construits en mortier de chaux et de sable, chaque stupa à trois niveaux porte des tablettes gravées des noms religieux des anciens abbés.
  • Brûle-parfum : La pagode conserve un encensoir en céramique brune vernissée, de la fin du XIXe siècle, légèrement fissuré.
  • Bases en pierre : Plusieurs bases de colonnes en pierre subsistent dans l’enceinte, rondes au-dessus et carrées à la base, d’environ 30 cm de diamètre, datant du début du XXe siècle.

Événements et fêtes

La pagode Tay Linh demeure un centre spirituel important pour les fidèles bouddhistes locaux. Les habitants viennent y brûler de l’encens les jours du 1er et du 15 de chaque mois lunaire, ainsi que lors des grandes fêtes telles que Vesak (15 avril lunaire) et Vu Lan (15 juillet). Le 18 novembre lunaire marque la cérémonie commémorative des anciens abbés, attirant de nombreux pèlerins venus prier pour la paix et la prospérité.

Classement

En reconnaissance de ses mérites historiques et culturels, le 22 juillet 2005, le Premier ministre Phan Van Khai a signé la décision n° 742/TTg attribuant un certificat de mérite à la pagode Tay Linh pour ses contributions pendant les deux guerres de résistance.


3. 中文(繁體)

名稱與地理位置

西靈寺(又名木銅寺或含西寺),位於越南海防市永保縣和平社含陽村(今西含陽村)第三坊,距離海防市中心約四十公里,距離縣治約十二公里。

據《海防古寺志》卷二記載:

根據村中老人所述,寺原建於園蟠田,距村中心較遠。1907年遷至今和平社人民委員會所在地。1976年,寺被徵用為社人民委員會辦公處。1982年,寺被拆除,材料用於修建學校。至2003年,在地方政府與民眾的關懷下,寺於現今人民委員會後方重建。

歷史與人物

西靈寺是海防市永保縣和平社含陽村人民的信仰與文化建築,始建於黎裕宗年間(1705年)。除現存之實體價值外,西靈寺亦是記錄地方黨部、政府與人民革命活動的重要歷史遺址。

在抗法戰爭期間,西靈寺是革命力量的秘密據點。自1945年底至1950年間,多位住持僧人參與抗戰,有人壯烈犧牲於此。有僧人加入越南共產黨,成為和平社抗戰運動之骨幹,如釋心毛、釋心留、釋心開、釋心山、釋心橘等諸師。其法名今仍刻於寺內塔碑。尤其釋心成法師,永保縣清良社人,曾任國會代表與海防市佛教會副會長(約1967–1968年)。

1947年6月12日,和平社黨支部第一次代表大會在西靈寺舉行,與會黨員25名,范文和同志當選書記。1948年底,第二次會議亦於此召開,釋心橘法師加入越南共產黨,任社聯越主席,並被分派於西靈寺進行地下活動。

1949年底,敵我對峙日趨緊張,自由區日漸縮小,多處秘密據點被破壞,唯西靈寺仍為堅固之革命基地。依黨部分配,釋心橘法師兼為僧與地下骨幹,負責聯絡與發展長期抗戰網絡。

1949年梅尼戰役期間,范文草同志率左岸軍區主力營越化河夜宿西靈寺,以準備突襲南菴堡。同年,西靈寺亦為村游擊隊集結之地。

1950年11月,釋心橘法師與自南菴堡下來之四名惡兵對抗,敵欲奪寺並暗殺法師。法師臨危不懼,機智抗爭,終使敵屈服退去。

1952年,黃有朋與段如糯二同志奉命於寺內製作傳單,散發至鄰村,並登上三門樓懸掛國旗,使敵驚恐不安。

1951至1952年間,西靈寺為331主力部隊集結地,籌備圍攻殲滅南菴、西菴諸堡。1953年,寺址為青年反徵兵訓練會場。1945年9月,寺亦為接收投降法軍之地,稱為「招待所」,由建安省軍區主持。

建築與景觀

歷經多次修繕,今寺院格局完整,包括大雄寶殿、母祠、客堂、塔墓、碑亭與水池,環境開闊清幽。

主寺平面呈「丁」字形,前殿五間,後殿兩間。寺前庭設一大型假山水池,中央建有高約二米之亭閣,亭內供奉立姿觀世音菩薩像。右側為大水池,左側為母祠、塔園與石碑區。寺四周古木參天,景緻莊嚴寧靜,充滿靈氣。

文物

經歷歲月、戰亂與自然侵蝕,西靈寺仍保存眾多古像、塔墓與石碑。

  • 佛像:現存十三尊木雕佛像,年代約十九世紀末至二十世紀初,雕工精緻。最高層為三世佛(常住妙法身),次為阿彌陀佛(接引佛),其左為觀世音菩薩,右為大勢至菩薩。第三層為玉皇、南斗、北斗諸像,第四層為準提觀音,中左為雪山像,中右為送子觀音。第五層為彌勒佛,最下層為九龍座(釋迦初生像)。除九龍座為後增外,餘十三尊皆為古像,俱塗金箔、銀粉,製於十九世紀末至二十世紀初。
  • 石碑:現存石碑五方,形扁,碑額半圓。多數字跡模糊,僅一碑存刻款「啟定五年(1920)」。
  • 塔墓:塔區方整,共六塔,其中四塔為阮朝末期建,呈方柱三層式,外牆抹灰覆灰青色,塔身中層嵌石碑刻歷代住持法名。
  • 香爐:存陶瓷釉褐色香爐一件,製於十九世紀末至二十世紀初,爐沿微裂。
  • 石礎:院內仍留多處石礎柱座,形上圓下方,周圍飾環紋,直徑約三十公分,年代約二十世紀初。

事件與祭典

西靈寺為地方佛教信眾重要之精神中心。每月朔望,村民齊聚焚香禮佛,於佛誕(四月十五日農曆)、盂蘭節(七月十五日農曆)等節日舉行法會。每年十一月十八日(農曆)為歷代高僧忌辰,香客雲集,祈願國泰民安、風調雨順。

榮譽

由於其歷史與文化貢獻,2005年7月22日,越南總理潘文凱簽署第742/TTg號決定,授予西靈寺嘉獎證書,以表彰其於兩次抗戰中的卓越功績。

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Chùa Tây Linh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)