Khu di tích chùa Bổ Đà (Vân Hà, Bắc Ninh)

Khu di tích chùa Bổ Đà (Vân Hà, Bắc Ninh)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Khu di tích chùa Bổ Đà tọa lạc tại thôn Thượng Lát, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh (trước đây thuộc xã Tiên Sơn, thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Di tích nằm trên núi Phượng Hoàng, thuộc dãy núi Bổ Đà, gồm năm điểm di tích: chùa Cao, am Tam Đức, chùa Tứ Ân, Vườn Tháp và Ao Miếu. Trong dân gian, chùa còn được gọi là chùa Bổ hoặc chùa Ông Bổ. Theo Quyết định số 138/QĐ ngày 31/01/1992 của Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao, di tích được xếp hạng với tên gọi “Di tích kiến trúc nghệ thuật Ao Miếu và chùa Bổ Đà”, thuộc xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, vùng đất Tiên Sơn gồm các xã Lương Tài, Phù Tài, Mỏ Vàng, Thần Chúc, Thượng Lát, Hạ Lát và Kim Sơn, thuộc tổng Tiên Lát, huyện Việt Yên. Trải qua nhiều lần sáp nhập, chia tách đơn vị hành chính, đến năm 1955, xã Tiên Sơn được tái lập, gồm bảy thôn: Kim Sơn, Thượng Lát, Hạ Lát, Phù Tài, Lương Tài, Kim Viên và Thần Chúc. Từ ngày 01/7/2025, sau khi tỉnh Bắc Giang và tỉnh Bắc Ninh hợp nhất, khu di tích chùa Bổ Đà thuộc phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh. Phường Vân Hà được thành lập theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025, trên cơ sở sáp nhập các phường Ninh Sơn, Quảng Minh và các xã Tiên Sơn, Trung Sơn, Vân Hà trước đây. Phường có diện tích tự nhiên 43,17 km², gồm 33 tổ dân phố; phía Đông giáp phường Nếnh, phía Tây giáp xã Hiệp Hòa, phía Nam giáp phường Kinh Bắc và phía Bắc giáp phường Việt Yên.

Khu di tích chùa Bổ Đà cách trung tâm thành phố Bắc Giang trước đây khoảng 20 km về phía Tây. Từ khu vực Bắc Giang có thể đến di tích theo Quốc lộ 1A, qua nút giao Đình Trám, tiếp tục theo Quốc lộ 37 đến khu vực Bích Động rồi đi theo tuyến đường địa phương qua Ninh Sơn, Quảng Minh. Một tuyến khác đi theo Quốc lộ 1A cũ đến khu vực Nếnh, sau đó qua Sen Hồ, Quảng Minh và Ninh Sơn. Từ Hà Nội, có thể đi theo Quốc lộ 1A qua Bắc Ninh, đến khu vực cầu Thị Cầu rồi theo tuyến đê sông Cầu để đến di tích.

Lịch sử và nhân vật

Chùa Bổ Đà qua các triều đại

Khu di tích chùa Bổ Đà là một trong những trung tâm Phật giáo lớn của tỉnh Bắc Giang trước đây. Câu thành ngữ “Bắc Bổ Đà – Nam Hương Tích” lưu truyền trong dân gian qua nhiều thế kỷ cho thấy Bổ Đà là một trong hai đạo tràng Quán Thế Âm lớn ở miền Bắc, phân bố theo trục Bắc – Nam. Tương truyền, khu di tích có từ thời Lý (thế kỷ XI), sau đó được mở mang, xây dựng và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử.

Theo truyền thuyết dân gian địa phương, sự ra đời của chùa Bổ Đà gắn với câu chuyện vợ chồng người tiều phu hiếm muộn, bổ được 32 đồng tiền vàng tại gốc thông già rồi cầu được con trai. Ngoài ra, khu di tích còn gắn với truyền thuyết về sự xuất hiện của Thạch Linh Thần Tướng giúp nhân dân đánh giặc, giữ nước.

Thời Trần

Dưới thời Trần, Phật hoàng Trần Nhân Tông, Sơ tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, đã sáng lập dòng thiền này và có ảnh hưởng đến đời sống Phật giáo Đại Việt. Trong giai đoạn đó, chùa Vĩnh Nghiêm tại xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang trước đây là một trung tâm lớn và chốn Tổ quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Khu di tích chùa Bổ Đà là trung tâm Phật giáo lớn thứ hai trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trước đây, đồng thời chịu ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm. Hiện nay, trong khu di tích có ban thờ Trúc Lâm Tam Tổ, gồm Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang, ba vị có công sáng lập, kiện toàn và phát triển Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Thời Lê Trung Hưng

Căn cứ những dấu vết vật chất và thư tịch cổ còn lưu giữ, khu di tích chùa Bổ Đà được mở mang, xây dựng và phát triển mạnh vào thời Lê Trung Hưng, đặc biệt trong thế kỷ XVIII, và tiếp tục phát triển dưới thời Nguyễn. Trong giai đoạn này, chùa giữ vai trò quan trọng trong việc truyền bá và duy trì hoạt động Phật giáo.

Những năm đầu thế kỷ XVII, Thiền phái Lâm Tế được Chuyết Công Hòa thượng, thế danh Lý Thiên Tộ, pháp danh Hải Trừng, pháp hiệu Viên Văn, truyền vào miền Bắc Việt Nam sau khi dòng thiền này được du nhập và phát triển tại miền Trung.

Đầu thế kỷ XVIII, dưới niên hiệu Bảo Thái (1720–1729), vị trụ trì chùa Bổ Đà là Phạm Kim Hưng tiến hành trùng tu, mở rộng khu di tích và phát triển nơi đây thành một trung tâm Phật giáo theo Thiền phái Lâm Tế. Trong quá trình giao lưu và tiếp biến tôn giáo, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử dần hòa nhập với Thiền phái Lâm Tế. Tại vùng Kinh Bắc, chùa Bổ Đà và chùa Bảo Quang, còn gọi là chùa Bách Tháp ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh trước đây, là hai chốn tùng lâm sớm chịu ảnh hưởng và tiếp nhận dòng thiền Lâm Tế.

Theo tư liệu, các vị Tổ sư tại chùa Bổ Đà thời Lê chủ yếu là những người từng làm quan, sau đó từ bỏ quan trường để xuất gia tu hành. Trong bối cảnh triều đình cho phép người dân thực hành tín ngưỡng Tam giáo gồm Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, tại cung đình nhà Lê còn có hoạt động giảng thuyết Tam đạo mỗi tuần một lần.

Khi về trụ trì và tu hành tại chùa Bổ Đà, các vị Tổ sư đã kết hợp giáo lý Phật giáo với nhân sinh quan Nho giáo và vũ trụ quan Đạo giáo. Sự kết hợp này được thể hiện trong cách bài trí hệ thống tượng thờ tại tòa Tam bảo theo hình thức “tiền Thánh, hậu Phật”, tức phía ngoài thờ Thánh, phía trong thờ Phật, phản ánh tư tưởng Tam giáo đồng nguyên.

Thời Nguyễn

Dưới thời Nguyễn, chùa Bổ Đà tiếp tục phát triển thành một trung tâm Phật giáo theo Thiền phái Lâm Tế. Đây là nơi kế truyền các vị Tổ sư, tổ chức giảng pháp và đào tạo tăng đồ. Hằng năm, vào mùa kiết hạ an cư, nhiều tăng ni trong vùng đến chùa tham thiền, học đạo.

Từ chùa Cao, còn gọi là chùa Quán Âm, nơi thờ một tượng Quan Âm Bồ Tát, khu di tích Bổ Đà từng bước phát triển thành hệ thống các công trình thuộc sơn môn theo dòng thiền Lâm Tế.

Trong giai đoạn này, nhân dân trong và ngoài vùng đến chùa cúng ruộng, gửi giỗ, đóng góp tài sản và ruộng đất để phục vụ việc thờ tự, trùng tu, tôn tạo di tích. Những hoạt động công đức này được ghi chép trong hệ thống bia đá hiện còn lưu giữ tại chùa, với các niên đại: Minh Mệnh thứ 20 (1839), Thiệu Trị thứ 4 (1844), Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức thứ 6 (1853), Tự Đức thứ 31 (1878).

Bên cạnh hoạt động giảng pháp và đào tạo tăng ni, các vị Tổ sư tại chùa Bổ Đà còn tổ chức khắc in kinh sách phục vụ việc học tập và truyền bá Phật pháp. Những tác phẩm được ghi nhận gồm Lăng nghiêm chính mạch, Yết ma hội bản, Nam Hải ký quy và các kinh, luật, đạo thừa khác.

Trải qua các giai đoạn lịch sử và chiến tranh, hệ thống Vườn Tháp cùng nhiều đồ thờ, tài liệu thuộc Thiền phái Lâm Tế tại chùa Bảo Quang và chùa Dâu ở Bắc Ninh không còn được lưu giữ nguyên vẹn. Trong khi đó, tại chùa Bổ Đà, hệ thống Vườn Tháp, đồ thờ và tài liệu liên quan đến dòng thiền Lâm Tế tiếp tục được bảo lưu và kế thừa.

Qua quá trình phát triển, chùa Bổ Đà trở thành trung tâm Phật giáo theo Thiền phái Lâm Tế, đồng thời là một đạo tràng Quán Thế Âm lớn ở miền Bắc. Hệ thống thờ tự tại chùa kết hợp tư tưởng Tam giáo đồng nguyên với tín ngưỡng dân gian bản địa, trong đó có tục thờ đá, cùng ban thờ Trúc Lâm Tam Tổ.

Thời kỳ kháng chiến và hiện nay

Theo Đại đức tự Tục Vinh, trụ trì chùa Bổ Đà, trong các thời kỳ đấu tranh chống ngoại xâm, một số vị sư tu hành tại chùa đã tham gia cùng nhân dân khởi nghĩa và hoạt động cứu nước. Trong những cuộc kháng chiến, các tăng sĩ thuộc sơn môn Bổ Đà tiếp tục tham gia các hoạt động yêu nước, có người rời chùa để tòng quân.

Một trường hợp được ghi nhận là Sư cụ Đức Chính, Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Việt Nam, người tham gia kháng chiến và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Ba.

Hiện nay, chùa Bổ Đà tiếp tục duy trì hoạt động tu hành theo truyền thống sơn môn, kế thừa dòng thiền Lâm Tế và thực hành các hình thức thờ tự kết hợp Phật giáo, Tam giáo đồng nguyên với tín ngưỡng dân gian bản địa.

Quá trình xây dựng, bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo di tích

Khu di tích chùa Bổ Đà tương truyền được xây dựng từ thời Lý (thế kỷ XI), đến thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVIII) được mở rộng và phát triển. Trải qua các giai đoạn lịch sử, di tích đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Căn cứ vào hệ thống văn bia và những dấu vết kiến trúc còn lưu giữ, quá trình xây dựng, tu bổ và tôn tạo khu di tích được ghi nhận qua các thời kỳ sau:

Thời Lê Trung Hưng

Theo văn bia Quán Âm tự bi ký, lập năm Tự Đức thứ 31 (1878), dưới triều vua Lê Dụ Tông, niên hiệu Bảo Thái (1720–1729), có vị Phạm Kim Hưng sau khi từ quan về quê đã vân du đến vùng Bổ Đà. Tại đây, ông nghe các cao tăng trụ trì giảng đạo, sau đó xuất gia tu hành.

Năm Quý Mão (1723), sư trụ trì Phạm Kim Hưng sử dụng toàn bộ bổng lộc tích lũy trong thời gian làm quan để trùng tu các hạng mục Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường, cột gỗ và cột đá, với tổng quy mô vài gian.

Theo nội dung bia đá lập năm Tự Đức thứ 6 (1853), dưới triều vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng (1740–1786), có vị sư tổ họ Ngô, quê làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Tây trước đây (nay thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội), sau khi từ bỏ cuộc sống quan trường đã xuất gia tu đạo và đến vùng Bổ Đà.

Nhận thấy địa thế phù hợp để lập nơi giảng pháp, vị sư tổ này mua nửa quả núi, lấy 20 chỗ đất ở làng bên Đông làm đất Tam bảo, xây dựng chùa Tứ Ân và am Tam Đức, đồng thời trùng tu chùa Quán Âm (chùa Cao) bằng gỗ lim, gạch và ngói, với quy mô một gian.

Sau khi xây dựng, ông cử tăng già chùa Tứ Ân chủ trì hoạt động tu hành, đồng thời mua thêm 20 xứ ruộng, trong đó bốn xứ được lưu vào chùa, 16 xứ giao cho hai thôn phân canh theo lệ để phục vụ việc thiết lễ. Vị sư tổ này được vua Lê Hiển Tông sắc phong là Hảo tiết Hòa thượng.

Thời Nguyễn

Năm Giáp Ngọ, Minh Mạng thứ 15 (1834), Hòa thượng Chiếu Không tiến hành trùng tu hai gian chùa bằng gạch.

Dưới triều vua Thiệu Trị (1841–1847), chùa được đúc tượng Quan Thế Âm và tiến hành trùng tu lớn chùa Tứ Ân.

Theo văn bia Trùng tu bi ký, lập năm Tự Đức thứ 6 (1853), năm Đinh Mùi (1847), niên hiệu Thiệu Trị, khu di tích được xây dựng thêm một số tòa nhà. Đến năm Tân Hợi (1851), chùa tiếp tục được trùng tu, các pho tượng được sơn son thếp vàng. Trong giai đoạn này, các tín chủ thập phương quyên góp kinh phí để tạo tác thêm tượng Phật và dâng cúng cho chùa.

Những người đóng góp được văn bia ghi nhận gồm: Nguyễn Đăng Giai, Khâm sai Bắc Kỳ, Kinh lược đại sứ, Hiệp biện Đại học sĩ, lĩnh Hà Ninh Ninh Thái, Lượng Bình, Tổng đốc, pháp danh Đại Phương, cúng tiến 1.000 quan tiền và một thỏi vàng. Phạm Bạch Như, Bố Chánh sứ tỉnh Thái Nguyên, cúng tiến 200 cây gỗ. Hiện nay, tại nhà Tổ chùa Bổ Đà còn có tượng thờ hai ông Nguyễn Đăng Giai và Phạm Bạch Như.

Năm Bính Tý, Tự Đức thứ 29 (1876), Phổ Thuần, đệ tử của Hòa thượng Chiếu Không, tiếp tục xây dựng tòa Tiền đường năm gian, làm nơi tụng kinh, niệm Phật.

Trong quá trình phát triển, khu di tích chùa Bổ Đà được kế truyền qua nhiều đời Tổ sư, từ Hòa thượng Chiếu Không đến các vị Chí Tâm, Phổ Thuần, Như Chiếu, Phổ Tiến, Quảng Luân và Đại đức tự Tục Vinh. Qua các đời trụ trì, khu di tích tiếp tục được trùng tu, tôn tạo và mở rộng quy mô.

Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2003

Năm 2000: Nhà chùa mua 7 khối gỗ lim để xẻ hoành, rui, phục vụ việc trùng tu tòa Tam bảo và án gian.

Năm 2001: Tiến hành trùng tu chùa Cao (chùa Quán Âm), thếp vàng tượng Phật, làm lại một đôi câu đối và một bức hoành phi. Đồng thời, trùng tu mái, tân trang sân và lát nền am Tam Đức.

Giai đoạn 2002–2003: Trùng tu toàn bộ 97 ngôi tháp trong Vườn Tháp, xây dựng tường bao xung quanh và làm lại ba cổng xuất nhập Vườn Tháp.

Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2009

Năm 2007, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 1016/QĐ-UBND về việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu gói thầu tư vấn lập quy hoạch chi tiết xây dựng vùng bảo tồn khu di tích lịch sử chùa Bổ Đà, thuộc Dự án đầu tư xây dựng bảo tồn, tu bổ di tích chùa Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên.

Cùng năm, Ủy ban nhân dân huyện Việt Yên ban hành Quyết định số 326/QĐ-UBND về việc phê duyệt nhiệm vụ thiết kế và dự toán quy hoạch chi tiết xây dựng vùng bảo tồn khu di tích lịch sử chùa Bổ Đà, xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên.

Trong giai đoạn 2007–2009, khu di tích được trùng tu, tôn tạo các hạng mục như: Bảy gian nhà Ni; 7 gian nhà Khách; 1,5 gian nhà Khách; 2,5 gian nhà Ga; Năm gian nhà Tiền tế; Năm gian am Tam Đức.

Ngoài việc tu bổ các công trình kiến trúc, nhà chùa còn làm đường từ cổng chùa Tứ Ân lên chùa Cao, sang đền Thượng rồi vòng xuống cổng chùa. Tuyến đường có chiều rộng 1,4 m, chiều dài khoảng 800 m.

Giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2012

Từ năm 2010 đến năm 2012, nhà chùa phối hợp với chính quyền địa phương tiếp tục tu sửa, tôn tạo một số hạng mục trong khu di tích, gồm: Trình lại khoảng một phần ba hệ thống tường đất bao quanh chùa, làm mới ba Án gian, trùng tu nhà Trai.

Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016

Từ năm 2013 đến năm 2016, khu di tích triển khai Dự án xây dựng đường và hạ tầng bên ngoài khu di tích chùa Bổ Đà phục vụ phát triển du lịch. Dự án tập trung vào hệ thống đường giao thông và hạ tầng bên ngoài khu di tích.

Nhân vật thờ tự

Khổng Tử

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ, nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc. Khổng Tử được ghi nhận là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc mở trường tư và thu nhận học trò để giảng dạy. Ông chủ trương mở rộng việc học đến tầng lớp bình dân, truyền bá tri thức và văn hóa trong xã hội. Những hoạt động giảng dạy của Khổng Tử có ảnh hưởng đến nền giáo dục Trung Quốc thời cổ đại. Tại khu di tích chùa Bổ Đà, Khổng Tử được thờ với tư cách là đại diện của Nho giáo trong hệ thống thờ tự Tam giáo đồng nguyên.

Lão Tử

Theo truyền thuyết, Lão Tử sống cùng thời với Khổng Tử, họ Lý, tên Nhĩ, hiệu Bá Dương, thụy Đam. Ông từng làm quan giữ chức Thư tàng sử, phụ trách sách sử của nhà Chu. Khi nhận thấy nhà Chu suy tàn, Lão Tử rời Trung Hoa, tìm đến vùng quan ngoại để sinh sống. Ông được biết đến qua tác phẩm Đạo Đức Kinh, một bộ sách về tư tưởng và triết học của Đạo giáo. Trong hệ thống thờ tự tại chùa Bổ Đà, Lão Tử là nhân vật đại diện cho Đạo giáo, cùng với Phật giáo và Nho giáo hợp thành tư tưởng Tam giáo đồng nguyên.

Trúc Lâm Tam Tổ

Khu di tích chùa Bổ Đà còn thờ Trúc Lâm Tam Tổ, gồm Đệ nhất Tổ Trần Nhân Tông (1258–1308), Đệ nhị Tổ Pháp Loa (1284–1330) và Đệ tam Tổ Huyền Quang (1254–1334). Đây là ba vị Tổ có công sáng lập, xây dựng và phát triển Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ba vị Tổ Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang được phối thờ tại khu di tích chùa Bổ Đà trong hệ thống thờ tự Trúc Lâm Tam Tổ.

Các đời trụ trì chùa Bổ Đà

Trải qua các giai đoạn lịch sử, chùa Bổ Đà đã được kế truyền qua nhiều đời Tổ sư. Theo tư liệu hiện có, các vị Tổ sư và trụ trì được ghi nhận gồm:

  • Tổ sư Nguyễn Đình Cấp (?-?)

Hiện chưa có tài liệu ghi chép cụ thể về thân thế và hành trạng của Tổ sư Nguyễn Đình Cấp. Theo truyền thuyết dân gian, ngài từng vân du đến Nam Hương Tích và Bắc Phổ Đà ở Trung Quốc. Khi trở về Việt Nam, sau khi xem xét địa thế, phong thủy, ngài lựa chọn hai địa điểm thờ Quan Thế Âm Bồ Tát ở miền Bắc là Nam Hương Tích (Hà Tây trước đây, nay thuộc Hà Nội) và Bắc Bổ Đà (Bắc Giang trước đây). Từ đó, dân gian lưu truyền câu “Bắc Bổ Đà, Nam Hương Tích”.

  • Hòa thượng Phạm Kim Hưng (?-?)

Hòa thượng Phạm Kim Hưng có công trùng tu các hạng mục Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường và cây hương đá cùng một số gian thuộc khu di tích vào năm Quý Mão, niên hiệu Bảo Thái thứ 4 (1723).

  • Hòa thượng tự Tính Ánh (?-?)

Hòa thượng tự Tính Ánh, tên chữ là Tuệ Thông, họ Ngô, quê làng Bình Vọng, huyện Thượng Phúc, Hà Nội, có tên hiệu là Như Thị. Theo bia đá niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878), ngài vốn là một vị quan, sau từ bỏ cuộc sống quan trường để xuất gia tu hành.

Khi đến vùng Bổ Đà, ngài lấy nửa quả núi và 20 mẫu đất phía Đông làm đất Tam bảo, xây dựng chùa Tứ Ân và am Tam Đức dưới chân núi. Ngài tiếp tục mua 20 mẫu ruộng, trong đó dành bốn mẫu cho chùa, 16 mẫu còn lại giao cho hai thôn luân phiên canh tác, lấy nguồn thu phục vụ các ngày lễ hằng năm vào ngày 26 tháng Tư, 20 tháng Sáu, mồng 2 tháng Chín và mồng 4 tháng Chạp. Riêng ngày lệ tháng Chín có tổ chức cúng lễ.

Ngoài ra, ngài trùng tu một gian chùa Quan Âm bằng gạch và cử tăng sĩ trụ trì chùa Tứ Ân. Theo nội dung văn bia, năm Giáp Ngọ, niên hiệu Minh Mạng (1834), ngôi chùa được trùng tu thành hai gian bằng gạch. Đến năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị (1842), chùa được đúc tượng Quan Âm.

  • Hòa thượng tự Hải Ngọc (?-?)
  • Hòa thượng tự Phổ Giác (?-?)
  • Hòa thượng tự Vô Tranh (?-?)
  • Hòa thượng tự Chiếu Không (?-?): Năm Giáp Ngọ (1834), dưới triều vua Minh Mạng (1820–1840), Hòa thượng Chiếu Không tiến hành trùng tu một ngôi chùa hai gian bằng đá.
  • Hòa thượng tự Thanh Dung (?-?)
  • Hòa thượng tự Chí Tâm (?-?)
  • Hòa thượng tự Phổ Thuần (?-?): Năm Bính Tý, niên hiệu Tự Đức thứ 29 (1876), Hòa thượng Phổ Thuần tiến hành xây dựng năm gian Tiền đường làm nơi thờ tự.
  • Hòa thượng tự Như Chiếu (?-?)
  • Hòa thượng tự Phổ Tiến (?-?): Năm Tự Đức thứ 31 (1881), Hòa thượng Phổ Tiến cho đúc một quả chuông đồng, trên chuông ghi công đức của các vị quý chức và tín chủ thập phương.
  • Hòa thượng tự Nguyên Lộc (?-?).
  • Hòa thượng Thích Quảng Luân (1911–2004): Hòa thượng Thích Quảng Luân nguyên là Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Bắc Giang.
  • Thượng tọa Thích Tục Vinh hiện là vị trụ trì chùa Bổ Đà hiện nay.

Kiến trúc cảnh quan

Khu di tích chùa Bổ Đà tọa lạc dưới chân núi Phượng Hoàng, thuộc dãy núi Bổ Đà, còn gọi là dãy Tiên Lát, tại xã Tiên Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang theo địa danh hành chính trước đây. Trong dân gian có câu phương ngôn “Bắc Bổ Đà, Nam Hương Tích”, nói về hai danh lam cổ tự thuộc Phật phái Lâm Tế ở miền Bắc Việt Nam.

Dãy núi Bổ Đà gồm ba ngọn núi lớn, trong đó cao nhất là Phượng Hoàng sơn, có nhiều đá và được trồng thông. Hai ngọn núi còn lại là Mã Yên sơn và Kim Quy sơn. Xung quanh khu di tích có các ngọn núi thuộc lục bộ Tiên Sa, gồm Non Bộ Chi, Bộ Trắng, Bộ Ngạnh, Bộ Không, Bộ Hề và Bộ Nứa. Ngoài ra còn có núi Con Cóc, núi Chùa Khám, ngọn Trúc Lát, ngọn Con Voi và ngọn Bàn Cờ Tiên. Phía sau núi Phượng Hoàng là cánh đồng và dòng sông Cầu.

Theo hồ sơ khoanh vùng bảo vệ, khu di tích chùa Bổ Đà có tổng diện tích 275.009,6 m², trong đó khu vực bảo vệ I rộng 53.808,5 m² và khu vực bảo vệ II rộng 221.201,1 m². Không gian di tích được chia thành ba khu vực chính gồm khu nội tự, khu vườn chùa và khu Vườn Tháp. Phạm vi khu di tích có phía Đông giáp đường liên thôn và khu dân cư thôn Thượng Lát; phía Tây giáp đường đất và đất nông nghiệp; phía Nam giáp đất nông nghiệp; phía Bắc giáp đường đất và đường bê tông.

Khu di tích chùa Bổ Đà được bố trí dọc theo trục Tây Nam, trên sườn phía Bắc núi Phượng Hoàng thuộc dãy Bổ Đà, nhìn về hướng Nam ghé Đông. Tổng thể gồm năm điểm di tích chính: chùa Tứ Ân, Vườn Tháp, am Tam Đức, chùa Cao và Ao Miếu.

Chùa Tứ Ân là khu nội tự, gồm hệ thống các công trình như tòa Tam bảo, hai dãy hành lang, giảng đường, nhà Trụ trì, nhà Tổ với tòa Tiền tế và Hậu đường, hai gác Kinh, nhà Hành pháp, nhà Ni, nhà Khách, nhà Tạo soạn và nhà Ga (nhà Tang lễ). Các công trình được bố trí thành những tòa ngang, dãy dọc, liên kết với nhau bằng hệ thống sân, lối đi và nhiều lớp cổng.

Am Tam Đức và chùa Cao nằm trên sườn núi Phượng Hoàng, phía sau chùa Tứ Ân. Vườn Tháp nằm bên trái khu nội tự, trên khu đất dốc theo địa hình núi Bổ Đà. Ao Miếu là điểm di tích nằm riêng tại thôn Hạ Lát, cách chùa Tứ Ân khoảng 2 km về phía Tây.

Chùa Tứ Ân

Chùa Tứ Ân có 16 tòa ngang, dãy dọc với tổng số 92 gian, gồm các công trình thờ tự, giảng pháp, tu hành và sinh hoạt của nhà chùa. Các hạng mục được liên kết theo bố cục “nội thông ngoại bế”, với hệ thống tường đất bao quanh, nhiều lớp cổng và những lối đi kết nối giữa các công trình bên trong.

Cổng chùa và hệ thống tường đất

Chùa Tứ Ân có một cổng chính và tám lớp cổng phụ, bố trí tại các lối đi giữa các công trình, khu vườn chùa, Vườn Tháp và tuyến đường lên am Tam Đức, chùa Cao. Phần lớn các cổng mang đặc điểm kiến trúc thời Nguyễn, từ thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX.

Cổng thứ nhất là cổng ngoài cùng, xây bằng gạch chỉ miết mạch để mộc, cao 4,19 m, rộng 2,6 m. Cửa cuốn vòm cao 2,15 m, rộng 1,3 m, có hai cánh gỗ đóng mở bằng then cài. Công trình mang hình thức nghi môn cuốn vòm thời Nguyễn, phía trên tạo hình cuốn thư, bên dưới có biển chữ Hán “Di Đà Phật”.

Cổng thứ hai cao 5,6 m, rộng 3,06 m, xây bằng gạch chỉ để mộc, có hình thức hai tầng mái tương tự gác chuông. Tầng thứ nhất có hai mặt mái lợp ngói mũi, mặt trước trang trí hình tròn với chữ Thọ và hoa văn cách điệu. Bên dưới là khung chữ nhật ghi bốn chữ Hán “Không môn tối quảng”, nghĩa là cửa rộng mở. Tầng thứ hai có vòm cuốn bằng gạch, cao 2,1 m, rộng 1,1 m.

Cổng thứ ba cao 4 m, rộng 2,21 m, xây theo kiểu nghi môn cuốn vòm, phần vòm cao 1,9 m, rộng 1,15 m. Trên đỉnh cổng đắp hình rồng chầu nguyệt, phía dưới có ô chữ Hán. Hai trụ biểu mặt trước đắp câu đối chữ Hán ca ngợi cảnh chùa. Kiến trúc cổng mang phong cách thời Nguyễn, thế kỷ XIX–XX.

Cổng thứ tư là lối ra vườn chùa phía trước Tam bảo, cao 3,27 m, rộng 1,8 m, xây bằng gạch trát vữa, có cửa cuốn vòm cao 1,8 m, rộng 0,95 m. Phía trên tạo biển dạng tam sơn và các đường gờ hình chữ nhật có chữ Hán đắp nổi. Hai trụ biểu phía trước đắp câu đối chữ Hán. Mặt sau cổng xây giật cấp hai lớp, mái lợp ngói mũi, mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn.

Cổng thứ năm cũng là lối ra vườn chùa, xây bằng gạch chỉ miết mạch để mộc, theo hình thức nghi môn cuốn vòm. Phía trên có hai mặt mái lợp ngói mũi, tường hồi bít đốc, trang trí hoa văn kỷ hà và hoa dây. Công trình mang phong cách thời Nguyễn, thế kỷ XIX–XX.

Cổng thứ sáu dẫn ra Vườn Tháp, được xây bằng gạch chỉ theo kiểu nghi môn có trụ biểu và cửa cuốn vòm. Phần trên trang trí hoa văn kỷ hà, bên dưới có ô chữ Hán. Hai trụ biểu đắp câu đối chữ Hán, đỉnh tạo hình đèn lồng, các mặt trang trí tứ linh. Cổng có cánh gỗ và then cài, mang phong cách kiến trúc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Cổng thứ bảy là lối lên am Tam Đức và chùa Cao, xây bằng gạch trát vữa, có mái chồng diêm hai tầng với tám mái đao cong. Cửa chính cuốn vòm, phía trên trang trí hoa văn kỷ hà và các đường gờ chạy quanh thân trụ. Hai trụ biểu đắp câu đối chữ Hán. Công trình được xây dựng trong thế kỷ XX.

Cổng thứ tám nằm phía trước Vườn Tháp, có dạng tam quan, xây bằng gạch trát vữa. Cổng chính sử dụng cửa cuốn vòm, phía trên có bốn mặt mái, trang trí hoa dây và hoa văn kỷ hà. Hai cổng phụ được xây kín, các mặt đắp hình tứ quý gồm tùng, cúc, trúc, mai. Công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ XX.

Từ cổng thứ nhất đến cổng thứ hai là đoạn đường dài 45 m, rộng 3,2 m, lát các khối đá muối có kích thước khác nhau. Hai bên đường có những đoạn tường đất nện dài 25,5 m, cao 2,1 m, dày 0,5 m.

Hệ thống tường đất bao quanh chùa có tổng chiều dài gần 400 m, được trình bằng đất sỏi son khai thác tại núi Bổ Đà. Tường cao từ 1,8 đến 5 m, chân tường dày khoảng 0,8 m, đỉnh tường dày khoảng 0,4 m. Phần trên có mũ tường, sử dụng các mảnh gốm, chum và vại Thổ Hà để che chắn.

Tường đất có tác dụng ngăn gió vào mùa đông, giảm nhiệt vào mùa hè và trước đây còn được sử dụng để ngăn thú rừng xâm nhập khu chùa. Một số đoạn tường bị nứt, đổ do tác động của thời tiết đã được gia cố, trình đắp lại theo kỹ thuật cũ, trong đó có đoạn phía trước tòa Tam bảo và cạnh cổng thứ hai. Ngoài hệ thống tường đất, phía trước chùa Tứ Ân còn có hào sâu và hàng tre già tạo thành lớp bao quanh khu di tích.

Tòa Tam bảo

Tòa Tam bảo chùa Tứ Ân có mặt chính quay về hướng Đông Nam, mặt bằng hình chữ Đinh (丁), gồm tòa Tiền đường nối với tòa Thượng điện. Phía trước Tam bảo là khu vườn thấp hơn sân chùa khoảng 2 m, được ngăn cách bằng tường đất. Sân lát gạch vuông, trồng các loại cây hoa cảnh, hồng trà và hoa ngâu.

Tòa Tiền đường có bảy gian, xây theo kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi hài. Bờ nóc xây gạch trát vữa, chính giữa đắp biển chữ Hán “Đà sơn phong cảnh”. Hai đầu kìm nóc tạo hình đầu rồng cách điệu, phần đuôi trang trí hoa văn kỷ hà. Bờ dải chạy thẳng, giật ba cấp, nối với hai trụ biểu phía trước theo kiểu tường hồi tay ngai. Đỉnh trụ biểu đắp bốn chim phượng chung thân, phía dưới có hình đèn lồng trang trí tứ linh, thân trụ đắp câu đối chữ Hán đã bị mờ nhiều. Phần tường và mái mang phong cách kiến trúc thời Nguyễn, thế kỷ XIX.

Nền Tam bảo cao hơn sân chùa 0,95 m, phía trước có ba bậc thềm, trong đó các bậc phía trên được lát đá xanh. Cửa gian giữa làm bằng gỗ lim theo kiểu thượng song hạ bản, bốn gian còn lại sử dụng cửa bức bàn, các cánh cửa làm theo kiểu chân quay. Nền bên trong lát gạch vuông màu đỏ, kích thước 0,25 × 0,25 m. Hai gian đầu hồi có cửa nách thông sang hai dãy hành lang.

Bộ khung Tiền đường gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng tám cột, đường kính cột cái trung bình 0,3 m. Cột được làm bằng gỗ lim theo kiểu thượng thu, hạ thách, để mộc, kê trên chân tảng đá muối hình trụ tròn, cao khoảng 0,3 m so với nền. Các chân tảng có chức năng hạn chế ẩm, bảo vệ chân cột và chống sụt lún.

Bảy gian Tiền đường có chiều dài lần lượt 2,75 m, 2,65 m, 2,6 m, 3,35 m, 2,6 m, 2,65 m và 2,75 m. Chiều cao đến vì nóc là 4,85 m. Hệ thống khung mái gồm tám bộ vì, trong đó sáu bộ vì giữa liên kết theo kiểu con chồng đấu kê, hai bộ vì còn lại theo kiểu chồng rường đấu kê, hạ kẻ suốt.

Các đầu bẩy hiên, kẻ ở hai hồi và ván dó tại vì nách mái trước được chạm khắc hình vân mây, đao mác, lá lật và hoa cúc cách điệu. Những mảng chạm này mang đặc điểm nghệ thuật thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII–XVIII.

Hệ thống vì nách tại bốn gian giữa thuộc mái ngoài và hai vì nách thuộc mái trong được trang trí bằng kỹ thuật chạm nổi và chạm bong kênh. Hai vì nách mái ngoài sử dụng kết cấu con chồng và cốn mê, trên các cấu kiện chạm hình hoa lá, vân mây, đao mác, tứ linh và linh thú. Hai vì nách mái trong của gian giữa được chạm tương ứng với phía ngoài. Các vì nách còn lại có kết cấu chồng rường cụt hoặc kèo kẻ ngồi, chủ yếu bào trơn, soi gờ chỉ.

Trên những cấu kiện khác như con chồng, ván dong và đấu kê còn có hoa văn hoa cúc, trái đào tiên và chữ Thọ. Hệ thống cột, bộ vì, xà nách, kẻ và bẩy của Tiền đường hiện bảo lưu những đặc điểm kiến trúc, điêu khắc thuộc thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Tại Tiền đường có bài trí tượng Đức Ông, Khổng Tử, Lão Tử, Thạch Linh Thần Tướng và tượng Tam Châu theo hình thức “tiền Thánh, hậu Phật”, gắn với hệ thống thờ tự Tam giáo và tín ngưỡng dân gian bản địa.

Tòa Thượng điện có năm gian, dài 12 m, rộng 7,7 m, chiều cao đến nóc 5,35 m. Nền Thượng điện cao hơn Tiền đường 0,3 m, lát gạch vuông màu đỏ. Hai bên tường bao có tám cửa sổ nhỏ, đầu tường hồi có thêm một ô cửa sổ để lấy ánh sáng và thông khí.

Công trình xây theo kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi. Bờ nóc xây gạch trát vữa, bờ dải gắn hoa chanh. Trên tường hồi phía sau có hình đôi hạc đứng trên lưng rùa, ở giữa đắp chữ Hán “Úm” trong hình tròn, xung quanh có dòng chữ “Tuế thứ Tân Hợi niên tu tạo”, ghi việc tu sửa Thượng điện vào năm Tân Hợi.

Bộ khung Thượng điện có hai hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột, đường kính trung bình 0,3 m. Sáu bộ vì nóc sử dụng các kiểu liên kết khác nhau, trong đó năm bộ vì phía trước theo kiểu giá chiêng, con chồng, đấu kê; bộ vì cuối theo kiểu kèo cánh báng. Các vì nách có kết cấu con chồng, chủ yếu bào trơn, soi gờ chỉ, xà nách gối trực tiếp lên tường bao.

Phía trước Thượng điện treo ba lớp cửa võng bằng gỗ, được chạm thủng và chạm bong kênh các đề tài rồng chầu nguyệt, hoa lá và tứ linh, sơn son thếp vàng. Trên mỗi lớp cửa võng có đại tự, hoành phi và phía trước treo câu đối. Tại khu vực vì nách còn treo các bức đại tự, tranh gỗ trang trí tùng, trúc, cúc, mai, cùng những biển chữ và thơ vịnh cảnh chùa. Phần lớn hệ thống cửa võng, hoành phi, đại tự, câu đối và tranh gỗ mang niên hiệu Thành Thái thứ 13 (1901).

Trong Thượng điện bài trí 11 pho tượng Phật theo truyền thống Thiền phái Lâm Tế, gồm Tam thế Phật, A Di Đà, Hoa Niên, Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Phạm Thiên, Đế Thích, tòa Cửu Long và Thích Ca sơ sinh. Phần lớn tượng có niên đại thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVIII, và thời Nguyễn, thế kỷ XIX, được sơn thếp chủ yếu bằng màu vàng kim.

Dọc hai bên Thượng điện có hai bể chứa nước mưa xây cuốn mái vòm, phục vụ việc rửa đồ cúng lễ, sinh hoạt thường ngày và dự trữ nước phòng cháy, chữa cháy.

Hai dãy hành lang

Hai dãy hành lang chạy song song với tòa Thượng điện, mỗi dãy gồm sáu gian, dài 14 m, rộng 4,5 m, chiều cao đến vì nóc 4,1 m. Các gian có chiều dài lần lượt 2,4 m, 2,3 m, 2,3 m, 2,3 m, 2,3 m và 2,4 m.

Hai dãy hành lang xây kiểu bít đốc, mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa. Hai đầu hồi được bao che bằng hệ thống ván bưng, nền lát gạch vuông.

Mỗi dãy có bảy bộ vì mái, liên kết theo kiểu giá chiêng, kẻ truyền. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, trang trí hoa lá đơn giản. Hành lang bên phải được tu sửa năm 2007, hành lang bên trái tu sửa năm 2015. Kết cấu vì nóc và hệ thống kẻ hiên được làm theo hình thức kiến trúc thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVIII.

Nhà Tổ – toà Tiền tế

Tòa Tiền tế nhà Tổ nằm phía sau Tam bảo, có mặt bằng hình chữ Nhất (一), gồm năm gian, dài 20 m, rộng 8 m, chiều cao đến vì nóc 5,1 m. Công trình được tu sửa năm 2007, theo hình thức kiến trúc thời Nguyễn.

Tòa nhà xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa, hai đầu bờ nóc trang trí hoa văn kỷ hà. Phía trước hai gian hồi xây tường gạch trát vữa, chính giữa có cửa sổ chữ Hỷ cách điệu. Ba gian giữa ở cả mặt trước và mặt sau được để thông, cửa chính cao 1,9 m, rộng 2,9 m; hai cửa phụ cao 1,9 m, rộng 2,6 m. Nền nhà lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột, đường kính trung bình cột cái 0,26 m. Sáu bộ vì nóc được liên kết theo kiểu giá chiêng, con chồng, đấu kê, trốn trụ và kẻ chuyền. Các cấu kiện được làm bằng gỗ lim và gỗ tứ thiết, ít chạm khắc trang trí.

Trong tòa Tiền tế có bài trí tượng Quan Âm Chuẩn Đề, Văn Thù Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Nhà Tổ – toà Hậu đường

Tòa Hậu đường nằm phía sau và song song với Tiền tế, gồm năm gian, mỗi gian dài 2,35 m. Chiều cao đến vì nóc là 4,82 m. Công trình xây theo kiểu tường hồi bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa, soi gờ. Nền Hậu đường cao hơn Tiền tế khoảng 0,8 m, lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung Hậu đường gồm ba hàng chân cột, trong đó có hai hàng cột cái và một hàng cột quân, mỗi hàng sáu cột. Đường kính trung bình cột cái khoảng 0,26 m. Hệ thống cột quân phía sau được thay bằng các trụ gạch vuông, liên kết với tường bao. Mặt trước để thông, không có hệ thống cửa. Các cột gỗ được kê trên chân tảng đá xanh cao khoảng 0,3 m so với nền.

Sáu bộ vì nóc sử dụng các hình thức liên kết khác nhau. Hai bộ vì gian giữa theo kiểu giá chiêng, con chồng, đấu kê; hai bộ vì bên theo kiểu cốn mê chồng rường; hai bộ vì còn lại theo kiểu con chồng đấu kê.

Trên các đầu bẩy có hoa văn chạm nổi ở cả hai mặt, gồm vân mây và đao mác mang đặc điểm nghệ thuật thời Lê Trung Hưng. Những cấu kiện con chồng, đấu kê và vì nóc được chạm hình hoa lá, vân mây. Tại bốn bộ vì nóc thuộc các gian giữa còn có hình trái đào tiên và chữ Thọ cách điệu.

Trong Hậu đường treo hệ thống hoành phi, đại tự và câu đối. Không gian thờ tự bài trí tượng A Di Đà, Quan Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Trúc Lâm Tam Tổ và các vị sư Tổ qua nhiều đời. Hai gian đầu hồi có ban thờ Mẫu và ban thờ Hậu.

Tòa Hậu đường còn bảo lưu được nhiều cấu kiện kiến trúc và mảng chạm khắc thuộc thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII–XVIII, và thời Nguyễn, thế kỷ XIX, đặc biệt tại các đầu bẩy, kẻ, vì nóc và vì nách.

Giảng đường

Giảng đường nằm phía trước, bên trái tòa Tiền tế, có ba gian, dài 9,5 m, rộng 6,5 m. Công trình xây tường gạch trát vữa, hai mặt mái lợp ngói mũi. Bờ nóc và bờ dải chạy thẳng, giật ba cấp để nối với hai cột đồng trụ phía trước, tạo hình tường hồi tay ngai. Trên thành tay ngai đắp hai chữ Hán “Thiền Thiên”. Hai cột đồng trụ có câu đối chữ Hán đã mờ, đỉnh trụ đắp bốn chim phượng chung thân.

Qua hiên rộng 1,6 m là hệ thống ba bộ cửa bức bàn bằng gỗ lim để mộc. Nền giảng đường lát gạch vuông màu đỏ, kích thước 0,3 × 0,3 m.

Bộ khung gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng năm cột, đường kính trung bình 0,23 m. Bốn bộ vì nóc có kết cấu kẻ truyền, trụ giá chiêng, sử dụng các cấu kiện gỗ lim trang trí hoa lá đơn giản. Công trình đã được tu sửa nhưng còn giữ các đặc điểm kiến trúc thời Nguyễn, thế kỷ XIX–XX.

Trong giảng đường bài trí nhang án, chuông đồng niên hiệu Khải Định thứ 2 (1917) và mõ cá bằng gỗ có niên đại thế kỷ XIX.

Nhà Trụ trì

Nhà Trụ trì nằm đối diện với giảng đường, có ba gian, chiều cao đến vì nóc 4,75 m. Công trình xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi. Tường phía sau được xây bằng tiểu sành hình chữ nhật, sản phẩm của làng gốm Thổ Hà.

Bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa, chạy thẳng rồi giật cấp nối với hai cột đồng trụ phía trước, tạo thế tường hồi tay ngai. Thành tay ngai đắp hai chữ Hán “Phúc Địa”. Trên thân trụ có câu đối chữ Hán đã mờ, đỉnh trụ trang trí bốn chim phượng chung thân.

Tường mái phía trước có một ô cửa sổ hình chữ nhật với những lỗ nhỏ thông thoáng. Qua hiên rộng 1,6 m là ba bộ cửa bức bàn bằng gỗ lim. Nền lát gạch vuông kích thước 0,3 × 0,3 m.

Bộ khung gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng năm cột, đường kính trung bình cột cái 0,25 m. Bốn bộ vì nóc sử dụng kết cấu kẻ truyền, trụ giá chiêng. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, trang trí hình hoa lá đơn giản, mang đặc điểm kiến trúc thời Nguyễn, thế kỷ XIX–XX.

Trong nhà Trụ trì có nhang án và những đồ thờ như đôi đèn nến, nậm rượu, bát hương, bình sứ và lọ hoa. Theo tư liệu, hệ thống tường mái còn bảo lưu những yếu tố kiến trúc thuộc thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Hai gác Kinh

Hai gác Kinh được xây liền khối với tòa Tiền tế, giảng đường và nhà Trụ trì. Mỗi gác có mặt bằng hình vuông, cạnh 5 m, cao 8 m, xây theo kiểu chồng diêm hai tầng.

Tường gác xây bằng gạch trát vữa, bờ nóc và bờ dải xây gạch. Phần mái trên được nâng cao, tách khỏi hệ mái của các công trình liền kề. Sàn tầng hai được ghép bằng những tấm ván gỗ dày 4 cm.

Bộ khung sử dụng bốn hàng chân cột, kết cấu vì nóc theo kiểu giá chiêng, kẻ truyền, các cấu kiện làm bằng gỗ lim. Gác Kinh được sử dụng để lưu giữ kinh sách, hạn chế tác động của ẩm thấp và mối mọt. Công trình đã qua tu sửa nhưng vẫn bảo lưu các đặc điểm kiến trúc thời Nguyễn, thế kỷ XIX.

Nhà Hành pháp

Nhà Hành pháp nằm phía sau giảng đường, được xây dựng từ thời Nguyễn, thế kỷ XIX, sau đó trải qua nhiều lần tu sửa, gần nhất theo tư liệu là các năm 2008 và 2012. Phần lớn cấu kiện kiến trúc hiện nay đã được thay mới.

Công trình gồm năm gian, dài 14 m, rộng 6 m, chiều cao nóc 4,54 m. Nhà có hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa. Hệ thống cửa gỗ kiểu thượng song hạ bản kéo dài qua ba gian, nền lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột. Đường kính trung bình cột cái 0,22 m, cột quân 0,20 m. Sáu bộ vì nóc có kết cấu kẻ truyền, giá chiêng, sử dụng gỗ lim và ít chạm khắc trang trí.

Nhà Khách 1

Nhà Khách 1 nằm phía sau nhà Trụ trì, được tu sửa năm 2007. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm năm gian, chiều cao đến vì nóc 4,98 m.

Nhà xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa, soi gờ. Công trình không lắp hệ thống cửa kín mà sử dụng các cánh dại kiểu thượng song hạ bản đặt trên bậc hiên. Nền lát gạch vuông kích thước 0,3 × 0,3 m.

Bộ khung có hai hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột, đường kính trung bình cột cái 0,27 m. Sáu bộ vì nóc liên kết theo kiểu kẻ truyền, trụ giá chiêng. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, không chạm khắc hoa văn.

Nhà Khách 2

Nhà Khách 2 nằm đối diện, chạy song song với Nhà Khách 1, ngăn cách bởi khoảng sân lát gạch. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm bảy gian, dài 17,96 m, rộng 6,67 m. Các gian có chiều dài bằng nhau, khoảng 2,4 m.

Nhà xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa. Qua bốn bậc thềm hiên là hệ thống cửa xây cuốn vòm. Trên các tường mái phía trước và phía sau có ô cửa sổ hình chữ Thọ cách điệu và hình chữ Nhật để thông khí, lấy ánh sáng. Nền nhà lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung có bốn hàng chân cột, mỗi hàng tám cột, đường kính trung bình cột cái 0,27 m. Tám bộ vì nóc được liên kết theo kiểu kẻ truyền, trốn trụ, giá chiêng. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, trang trí hoa lá đơn giản.

Công trình được tu sửa năm 2007, với hình thức kiến trúc mô phỏng các đặc điểm thời Lê Trung Hưng và thời Nguyễn.

Nhà Ni

Nhà Ni nằm phía sau, chạy song song với Nhà Khách 2, có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm bảy gian, dài 18 m, rộng 6,5 m, chiều cao nóc 4,65 m.

Công trình xây kiểu tường hồi bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi, bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa. Nhà không lắp cửa kín, có lối thông với Nhà Khách 2 tại gian giữa. Nền lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng tám cột, trong đó có hai hàng cột cái và hai hàng cột quân. Đường kính trung bình cột khoảng 0,27 m. Tám bộ vì nóc có kết cấu kẻ truyền, trốn trụ và giá chiêng, sử dụng gỗ lim trang trí hoa lá đơn giản.

Gian giữa Nhà Ni đặt tượng Tổ Ni, phía trên treo hoành phi đề “Thiết ni sư”. Trong nhà còn có nhang án, mõ cá thế kỷ XIX và bia đá niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853). Công trình được tu sửa năm 2007 theo hình thức kiến trúc truyền thống.

Nhà Tạo soạn

Nhà Tạo soạn, trước đây gọi là Nhà Gạo, nằm hướng về sân của hai nhà Khách. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm bảy gian, dài 16 m, rộng 5 m, chiều cao đến vì nóc 4,31 m.

Nhà được tu sửa năm 2013, xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi. Bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa. Công trình không lắp cửa kín mà sử dụng cánh dại kiểu thượng song hạ bản. Nền lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung có ba hàng chân cột, mỗi hàng tám cột, đường kính trung bình cột cái 0,23 m. Tám bộ vì nóc kết cấu theo kiểu vì kèo đơn giản, không chạm khắc trang trí.

Tại hai gian cuối của các vì hồi có những bức thuận ghép ván, dùng để ngăn cách không gian. Trên bề mặt gỗ viết chữ Hán, nội dung là bài luận về đạo Phật.

Nhà Ga (nhà Tang lễ)

Nhà Ga nằm gần cổng vào khu di tích, có chức năng tổ chức tang lễ cho các vị sư trụ trì và những người chấp tác tại chùa sau khi viên tịch. Công trình có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm sáu gian, dài 14,12 m, rộng 7,07 m, chiều cao nóc 4,14 m.

Nhà xây kiểu bình đầu bít đốc, hai mặt mái lợp ngói mũi. Bờ dải phía trước chạy thẳng, giật ba cấp để nối với hai cột đồng trụ, tạo hình tường hồi tay ngai. Trụ biểu có chữ Hán, đỉnh trang trí hoa văn kỷ hà.

Nhà Ga không lắp cửa kín mà sử dụng các cánh dại kiểu thượng song hạ bản. Hai gian bên xây tường gạch có ô cửa sổ ở giữa, nền lát gạch vuông màu đỏ.

Bộ khung gồm hai hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột, kết cấu vì nóc theo kiểu kẻ truyền, con chồng đấu kê và trốn trụ. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, trang trí hoa lá, vân mây. Công trình đã được tu sửa qua nhiều giai đoạn, kiến trúc hiện nay chủ yếu mang đặc điểm thời Nguyễn, thế kỷ XIX.

Am Tam Đức

Am Tam Đức nằm trên sườn núi Phượng Hoàng, phía sau chùa Tứ Ân. Công trình được xây dựng vào năm 1723, thời Lê, sau đó được tu sửa dưới thời Nguyễn, thế kỷ XIX. Theo văn bia niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878), am Tam Đức được xây dựng và trùng tu trong cùng quá trình phát triển của chùa Tứ Ân. Năm 2013, công trình tiếp tục được tu sửa theo hình thức kiến trúc truyền thống, đồng thời thực hiện việc kè đường lên am.

Từ khu chùa Tứ Ân, lối lên am Tam Đức là tuyến đường bậc đá xanh dài khoảng 200 m, hai bên có cây rừng và cây cổ thụ. Am có mặt bằng hình chữ Nhất, gồm năm gian, dài 17,03 m, rộng 8,65 m. Chiều cao tầng mái thứ nhất là 5,78 m, chiều cao đến nóc tầng mái thứ hai là 7,03 m.

Ba gian giữa của am được xây theo kiểu chồng diêm hai tầng mái. Hai gian bên có tầng mái dưới xây bình đầu bít đốc, lợp ngói mũi. Bờ nóc và bờ dải xây gạch trát vữa, chạy thẳng rồi giật cấp để nối với hai cột đồng trụ phía trước theo hình thức tam sơn giật cấp.

Thân cột đồng trụ có bốn mặt, ba mặt đắp câu đối chữ Hán. Phần trên thân trụ tạo hình đèn lồng, đỉnh trụ trang trí bốn chim phượng chung thân.

Tầng mái thứ hai tại ba gian giữa được xây theo kiểu chồng diêm, gồm bốn mặt mái lợp ngói mũi. Bờ nóc xây gạch trát vữa, hai đầu đắp hình con kìm há miệng ngậm bờ nóc, phần thân và đuôi cách điệu bằng hoa văn kỷ hà. Tại các vị trí khúc nguỷnh có hình hai con nghê chầu; bờ dải và bờ guột nối với bốn đầu đao cong.

Khoảng giữa hai tầng mái sử dụng hệ thống đố ván gỗ. Mặt trước treo đại tự chữ Hán “Tam Đức am” và hai biển tranh gỗ chạm hình cây tùng. Gian giữa lắp cửa thượng song hạ bản, các gian bên sử dụng cửa bức bàn đặt trên ngưỡng cửa cao. Hai gian đầu hồi xây gạch trát vữa, giữa có ô cửa sổ cách điệu. Nền am lát gạch vuông kích thước 0,3 × 0,3 m.

Bộ khung chịu lực gồm bốn hàng chân cột, mỗi hàng sáu cột, liên kết bằng hệ thống hoành, xà. Các bộ vì nóc tại bốn vì gian giữa sử dụng kết cấu chồng rường, giá chiêng; các vì bên theo kiểu con chồng, đấu kê, vì nách kiểu kẻ ngồi. Các cấu kiện làm bằng gỗ lim, trang trí hoa lá.

Bên trong am Tam Đức đặt nhang án tại gian giữa, trên bài trí tượng Sư Tổ Phạm Kim Hưng cùng các đồ thờ. Kiến trúc hiện nay chủ yếu mang đặc điểm thời Nguyễn, thế kỷ XIX, trong đó hệ mái chồng diêm hai tầng là hình thức kết cấu chính của công trình.

Chùa Cao (chùa Quán Âm)

Chùa Cao nằm trên núi Phượng Hoàng, mặt chính quay về hướng Đông Bắc, xung quanh có cây rừng thuộc dãy Bổ Đà. Đây là công trình được ghi nhận có lịch sử hình thành sớm nhất trong khu di tích chùa Bổ Đà. Tuy nhiên, do đã trải qua nhiều lần tu sửa, những dấu vết vật chất thuộc thời Lý, thế kỷ XI, hiện không còn rõ.

Chùa có diện tích khoảng 940 m², bao gồm cả sân. Từ am Tam Đức, phải đi qua 25 bậc đá và 23 bậc gạch để lên đến sân chùa Cao. Sân được lát gạch vuông, xung quanh xây tường bao lửng.

Chùa Cao có mặt bằng hình chữ Nhất theo chiều dọc, xây theo hình thức cuốn mái vòm, dài 9,75 m, rộng 5,9 m, chiều cao mái 5,23 m. Các khoảng gian có kích thước lần lượt 1,86 m, 4,87 m và 2,4 m. Tường chùa xây bằng gạch cổ, dày khoảng 0,8 m.

Kiến trúc mái chùa có dạng cuốn vòm theo hình thức am, động. Phần tường mái phía trước được tạo theo kiểu tay ngai, tam sơn giật cấp, nối với hai trụ biểu. Trên thân trụ biểu có câu đối chữ Hán ca ngợi cảnh chùa; phần đầu tạo hình bầu nậm, phía dưới là hình đèn lồng.

Bờ mái phía trước có biển chữ Hán “Bổ Đà sơn”, nghĩa là núi Bổ Đà. Phía dưới biển chữ đắp hình đôi lân hóa rồng đang vờn cầu. Những bộ phận kiến trúc tại mặt trước mang đặc điểm thời Nguyễn, thế kỷ XIX.

Phía trước cửa chùa có ba ban thờ lộ thiên, trên đặt bát hương đá cổ thờ Sơn thần. Mặt trước công trình có ba ô cửa cuốn vòm, lắp cánh cửa gỗ.

Không gian bên trong được chia thành hai phần. Gian ngoài là nơi hành lễ, hai bên tường có ban thờ; bên trái ghi chữ “Sơn trấn tĩnh”, bên phải ghi chữ “Nhạc giáng Thần”.

Gian trong có ba ô cửa cuốn vòm nhưng không lắp cánh cửa. Phía trước treo bức cuốn thư ghi ba chữ Hán “Quán Âm tự”, nghĩa là chùa Quán Âm. Nền gian trong cao hơn gian ngoài khoảng 0,35 m, lát gạch vuông. Bên trong xây bệ thờ đặt tượng và đồ thờ tự.

Tượng Quan Âm Tống Tử được sơn thếp màu vàng kim, thể hiện trong tư thế ngồi trên bệ, tay phải bồng trẻ nhỏ. Theo nội dung văn khắc trên bia đá, tượng được tạo tác năm 1842.

Chùa Cao còn bảo lưu hình thức kiến trúc cuốn vòm kiểu hang động, kết hợp với các bộ phận tường mái, trụ biểu và trang trí có đặc điểm thời Nguyễn. Các hiện vật như bia đá và tượng thờ cũng có niên đại thuộc thế kỷ XIX.

Theo ghi nhận về hiện trạng di tích, khu vườn tại sườn đồi bên phải chùa Cao có hiện tượng cây cối thưa dần và đất bị xói mòn.

Khu vườn chùa

Khu vườn chùa Bổ Đà bao gồm các khoảng đất phía trước và phía sau khu nội tự. Vườn phía trước chùa Tứ Ân có nhiều cây cổ thụ và cây ăn quả như tre, nhãn, mít, thị, sung, trám, sấu, chay, vối, thông, bồ đề và đa.

Trong số những cây lâu năm tại khu vườn có hàng tre già phía trước khu nội tự, cây vối, cây trám và ba cây thông có tuổi đời hàng trăm năm. Hàng tre được trồng kết hợp với hào và hệ thống tường đất, tạo thành lớp bao quanh khu chùa.

Ngoài các loại cây lấy quả và cây cổ thụ, trong vườn còn có những cây dược liệu như sâm lam, ba kích, trắc bách diệp, mạch môn, đơn đỏ, diệp hạ châu và tía tô. Theo tư liệu, các loại cây trồng tại chùa từng được sử dụng làm thực phẩm và dược liệu phục vụ đời sống của các vị sư trụ trì cùng nhân dân trong vùng.

Cảnh quan tự nhiên và phần lớn các cây cổ thụ tại khu vườn chùa vẫn được bảo lưu. Riêng khu vực phía sau nội tự, thuộc sườn bên phải am Tam Đức và chùa Cao, đã có những thay đổi về cây trồng và xuất hiện hiện tượng xói mòn đất.

Vườn Tháp

Vườn Tháp chùa Bổ Đà nằm bên trái khu nội tự, trên khu đất dốc theo địa hình núi Bổ Đà, có diện tích gần 8.000 m². Xung quanh Vườn Tháp được xây tường bao, bên trong bố trí các ngôi tháp mộ của những vị sư tu hành thuộc Thiền phái Lâm Tế.

Theo số liệu trong hồ sơ di tích, Vườn Tháp có 110 ngôi tháp, mộ lớn nhỏ, gồm 97 tháp mộ được ghi nhận trong hệ thống cũ và 13 ngôi tháp xây dựng thêm trong những năm gần đây. Trong số các tháp mộ cổ, có hàng chục ngôi được xây dựng từ thời Lê Trung Hưng, thế kỷ XVII–XVIII, và thời Nguyễn, thế kỷ XIX.

Phần lớn các ngôi tháp có hai hoặc ba tầng, cao khoảng 3–5 m. Một số tháp Tổ có kích thước lớn hơn. Vật liệu xây dựng là gạch bản mỏng, kích thước lớn, các mạch gạch được gắn kết bằng hỗn hợp vôi vữa trộn mật mía và bột giấy bản.

Hệ thống tháp mộ được phân thành hai khu vực. Phía trên là khu tháp Sư Tăng, có 35 ngôi; phía dưới là khu tháp Sư Ni, có 62 ngôi. Ngoài ra, khu vực phía dưới còn có 13 ngôi tháp xây dựng thêm và phần đất dành làm mộ cho những người chấp tác tại chùa. Hai khu vực tháp Sư Tăng và Sư Ni được ngăn cách bởi một lối đi lát gạch chỉ, dài khoảng 50 m, rộng 1,5 m.

Theo tư liệu, trong 97 ngôi tháp mộ có lưu giữ xá lị, tro cốt và di cốt của 1.214 nhà sư thuộc dòng thiền Lâm Tế, được an táng trong gần ba thế kỷ. Có ngôi tháp là nơi an táng của 26 vị sư.

Tháp mộ Sư Tăng có đỉnh gắn bình cam lộ đặt trên tòa sen. Phần chân đế xây hình vuông, mở rộng ở dưới và thu nhỏ dần qua các tầng phía trên. Tháp lớn có ba tầng, cao 5,4 m, chân đế mỗi cạnh rộng 2,55 m, thân tháp mỗi cạnh rộng 1,65 m. Tháp vừa có hai tầng, cao 3,16 m, chân đế mỗi cạnh rộng 1,6 m. Tháp nhỏ xây một tầng.

Tháp mộ Sư Ni có đỉnh gắn hình búp sen. Tháp lớn xây ba tầng bằng gạch chỉ miết mạch để mộc, cao 4,3 m, chân đế mỗi cạnh rộng 1,9 m, thân tháp mỗi cạnh rộng 1,1 m. Tháp vừa xây hai tầng, cao 3,11 m, chân đế mỗi cạnh rộng 1,65 m, thân tháp mỗi cạnh rộng 1,2 m. Tháp nhỏ xây một tầng.

Phần lớn các ngôi tháp có ghi tên vị sư được an táng, tuy nhiên nhiều chữ khắc đã mờ theo thời gian. Trong lòng tháp có bia ghi bài vị và thời gian sinh, hóa của các vị sư. Những nội dung này là tư liệu về quá trình truyền thừa của Thiền phái Lâm Tế tại chùa Bổ Đà.

Theo hồ sơ di tích, Vườn Tháp cơ bản được bảo tồn nguyên trạng. Ngày 7/5/2016, tại Hội ngộ Kỷ lục gia Việt Nam lần thứ 31 ở Thành phố Hồ Chí Minh, chùa Bổ Đà được trao hai kỷ lục: “Ngôi chùa có vườn tháp lớn nhất Việt Nam” và “Bộ mộc bản Kinh Phật của Thiền phái Lâm Tế khắc trên gỗ thị cổ nhất”.

 Ao Miếu (Đền Hạ)

Khu Ao Miếu còn gọi là Đền Hạ, thờ Thạch Linh Thần Tướng. Kiến trúc hình chữ Nhất, gồm 1 gian 2 chái, kiến trúc mái theo kiểu chồng diêm 2 tầng 8 mái đao cong. Hệ thống vì nóc được gắn kết theo kiểu thức thượng con chồng trụ giá chiêng, vì nách kết cấu kiểu con chồng đấu kê. Các cấu kiện chịu lực làm bằng gỗ tứ thiết (đinh, lim, sến, táu). Phía sau đền là ao Thạch Long và ngôi miếu nhỏ – tương truyền là nơi lưu lại dấu tích của Mẹ Đá khi sinh ra Thạch Linh Thần Tướng. Miếu có kiến trúc hình chữ Đinh gồm 3 gian Tiền tế và 1 gian Hậu cung xây bình đầu bít đốc. Kết cấu chịu lực gồm 4 vì mái liên kết kiểu cốn mê và giá chiêng… Bên phải là khu nhà Mẫu – nơi thờ Cha Mẹ của Thạch Tướng Quân.

Hiện vật

Chùa Bổ Đà hiện còn bảo lưu được nhiều di vật, cổ vật gắn liền với lịch sử của di tích, trong đó, tiêu biểu nhất là kho mộc bản với 1.935 mộc bản kinh Phật, hệ thống tượng thờ bằng gỗ (hơn 40 pho) có niên đại thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII – XVIII) và thời Nguyễn (thế kỷ XIX – XX)… Khối tài liệu này có giá trị trên nhiều mặt khẳng định lịch sử của cổ tự Bổ Đà trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc. Chùa Bổ Đà còn có Vườn Tháp cổ lớn nhất và có tính kế thừa lâu nhất trong các ngôi cổ tự ở Việt Nam.

Sự kiện và lễ hội

Lễ hội Bổ Đà là lễ hội truyền thống gắn với lịch sử hình thành và phát triển của khu di tích chùa Bổ Đà, được tổ chức hằng năm nhằm tưởng nhớ các vị sư Tổ có công xây dựng, trùng tu chùa và các vị thần được thờ phụng tại địa phương. Lễ hội diễn ra vào hai dịp chính trong năm: từ ngày 16 đến ngày 18 tháng Hai âm lịch là lễ giỗ các vị sư Tổ, ngày 12 tháng Chín âm lịch là lễ tưởng niệm Thạch Linh Thần Tướng.

Theo truyền tích, chùa Bổ Đà được hình thành từ việc một người tiều phu dựng chùa thờ Quan Thế Âm Bồ Tát để tạ ơn sau khi được phù hộ sinh con trai. Ngôi chùa ban đầu được dựng tại gốc cây thông già trên núi, gọi là chùa Quan Âm, về sau còn được gọi là chùa Thượng. Để tưởng nhớ các vị sư Tổ có công xây dựng và phát triển chùa, nhân dân địa phương lấy ngày 18 tháng Hai âm lịch làm ngày giỗ Tổ. Theo thời gian, lễ giỗ được mở rộng thành lễ hội chung của cư dân trong vùng.

Trong chính hội tháng Hai, các nghi lễ chủ yếu gồm lễ mộc dục, tế Tổ, cúng Phật và rước kiệu dâng lễ. Sáng ngày 18 tháng Hai, nhân dân hai thôn Thượng Lát và Hạ Lát tổ chức rước kiệu, mang lễ vật gồm xôi oản, trầu cau, hương hoa và các sản vật địa phương vào chùa dâng cúng. Đoàn rước có đội cờ hội, đội trống, đội chấp kích, bát bửu, đội khiêng kiệu, Ban tế và đội dâng hương. Tại chùa, các sư thực hiện nghi thức tụng kinh, cúng Phật, trong khi đại diện nhân dân tiến hành các nghi lễ tưởng niệm sư Tổ, cầu quốc thái dân an, sức khỏe, bình an và mùa màng bội thu.

Bên cạnh các nghi lễ Phật giáo, lễ hội còn gắn với tín ngưỡng thờ Thạch Linh Thần Tướng tại hệ thống Đền Hạ, Đền Trung và Đền Thượng. Trong chính hội tháng Hai, nhân dân tổ chức tế lễ, rước kiệu từ Đền Hạ lên Đền Trung để bái vọng Đền Thượng. Đến ngày 12 tháng Chín âm lịch, lễ tưởng niệm ngày hóa của Thạch Linh Thần Tướng được tổ chức với nghi thức rước kiệu từ đình Thượng Lát lên Đền Thượng, dâng lễ, đọc chúc văn và tế Thánh, sau đó rước kiệu trở về đình.

Phần hội gồm các hoạt động văn hóa và trò chơi dân gian như cờ tướng, cờ người, bịt mắt đập niêu, vật cổ truyền, chọi gà và bóng chuyền. Đặc biệt, từ năm 2006, hội thi hát Dân ca Quan họ được đưa vào chương trình lễ hội, với sự tham gia của các liền anh, liền chị đến từ nhiều địa phương trong và ngoài tỉnh.

Lễ hội Bổ Đà phản ánh sự kết hợp giữa Phật giáo, tín ngưỡng thờ Thạch Linh Thần Tướng và truyền thống văn hóa dân gian vùng Kinh Bắc. Đây cũng là nơi thể hiện tư tưởng Tam giáo đồng nguyên thông qua hệ thống thờ Phật, Lão Tử và Khổng Tử, đồng thời gắn với các dòng thiền Lâm Tế và Trúc Lâm. Lễ hội góp phần duy trì những nghi thức tín ngưỡng truyền thống, tưởng nhớ các bậc tiền nhân và tăng cường sự gắn kết cộng đồng. Ngày 23/01/2017, Lễ hội Bổ Đà được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL.

Xếp hạng

Chùa Bổ Đà đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích lịch sử – nghệ thuật theo quyết định số 138/BVH ngày 31/1/1992.

 Theo Nguyễn Thu Minh, Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên

5/5 (2 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Camnhi 192521112557 Chua Bo Da 2

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)