Tháp Bình Sơn (Tam Sơn, Phú Thọ)

Tháp Bình Sơn (Tam Sơn, Phú Thọ)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Tháp cổ Bình Sơn nằm trên địa bàn xã Tam Sơn, tỉnh Phú Thọ là kiệt tác kiến trúc nghệ thuật đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Bên cạnh tháp là chùa Vĩnh Khánh (chùa Then), vì vậy, nhiều người dân vẫn gọi tháp Bình Sơn là Tháp Then. Tháp cao gần 16m, được xây dựng vào đời Lý – Trần. Không chỉ có giá trị văn hóa, lịch sử vô giá, quần thể kiến trúc tháp cổ Bình Sơn – chùa Vĩnh Khánh còn là điểm tham quan, chiêm bái hấp dẫn du khách, là biểu tượng cho sự sáng tạo và bàn tay tài hoa của con người Việt Nam.

Lịch sử và nhân vật

Tháp Bình Sơn gắn liền với lịch sử hình thành của chùa Vĩnh Khánh. Chùa Vĩnh Khánh, còn được gọi là Vĩnh Khánh Tự, được xây dựng vào đầu thế kỷ XI, dưới triều đại Lý Thánh Tông, là một trong những ngôi chùa cổ kính nhất gắn liền với lịch sử của Thăng Long xưa.

Vị trí đắc địa giữa vùng đất thiêng liêng khiến chùa trở thành nơi lui tới của không chỉ dân làng mà cả các hoàng thân quốc thích thời bấy giờ. Đặc biệt, vào thời Trần, chùa được xem như trung tâm văn hóa tâm linh quan trọng, nơi tổ chức các lễ hội lớn và các hoạt động Phật giáo thu hút đông đảo Phật tử.

Kiến trúc cảnh quan

Trở lại với tháp Bình Sơn, hiện tháp có 11 tầng (tính theo mái và cửa tầng tháp), nhưng chúng ta đã tìm được viên gạch có đề chữ “Thập tam tầng”, vì thế, có thể tin được tháp có thể có 13 tầng, không phải là tháp của vị tu hành nội địa mà chủ yếu là tháp Phật (Vị nào? Chưa rõ). Tháp Bình Sơn không được gia cố nền móng như các kiến trúc do triều đình thời Lý và Trần cho dựng (như chúng ta đã biết). Tháp được xây hoàn toàn bằng nhiều loại gạch đất nung (kể cả móng) khác nhau. Các lớp gạch xây đế tháp có kích cỡ gần gũi với gạch thời Lý và Trần (dài 40 – 43cm, rộng 22- 25cm, dày 4 – 5cm).

Những mảng đắp có trang trí ở các tầng dưới là hoàn chỉnh nhất. Từ tầng thứ ba trở lên, trang trí vẫn còn, nhưng càng lên cao, chiều ngang mặt tháp càng bị thu hẹp, thì trang trí càng giảm dần. Bệ tháp khá lớn, cao 1,62m, mỗi cạnh dài 4,45m. Xếp từ nền lên, là sáu hàng gạch khẩu. Các hàng gạch này cứ thụt vào dần theo chiều cao của bệ. Tiếp đến là một hàng cánh hoa cúc vạn thọ. Trên nữa, úp xuống sáu hàng gạch “lợi chậu” trơn. Rồi đến hàng “sư tử hý cầu”, mà khung viền là những “cánh hoa cúc” (hình dấu phẩy). Bên trên khung, có hàng diềm lá “sòi” và một hàng gạch trang trí bằng hình “cánh sen dẹo” (tức cánh sen cách điệu, úp xuống, mũi uốn cong tròn). Rồi đến hàng gạch “vành song” hình “vỏ măng”. Trở lên, hai hàng gạch trang trí bằng hình “cánh sen ngửa” kết thúc tầng bệ, các cánh sen cách điệu này cũng uốn cong mũi, giữa có những vòng tròn kết theo kiểu hoa “mặt nhẫn”, vòng to ở giữa, các vòng con sắp cạnh nhau ở bốn phía.

Tiếp trên tầng bệ là tầng thứ nhất, cao 2,72m, cạnh rộng 3,3m, bốn phía có “cửa tò vò” “chém góc” trên và đều có mũ cửa gần gũi với các mũ cửa của kiến trúc gỗ thuộc thế kỷ XVII về sau. Khuôn cửa được trang trí bằng hình “lá lật uốn nổi”. Hai bên cửa, có sáu “đố” dọc, hình chữ nhật. Trong mỗi “đố” có ba “ô” tròn chứa rồng chạm nổi: đầu quay vào giữa, chân rồng đạp ra ngoài, nền là các sống “cúc dây” nhỏ. Cả ba ổ rồng nằm trong khung có diềm khắc chìm các nét “cánh hoa cúc” (hình dấu phẩy). Bên trên, ở các “đố” là hàng “gạch gờ” có vạch lõm “hoa dây”. Trên nữa, là hàng đấu ba chạc (con sơn). Chen giữa hai “đấu ba chạc”, có một “lá đề” trang trí bằng “hoa dây uốn nổi”. Kết thúc tầng thứ nhất, là sáu hàng “gạch khẩu”, “từng cấp” nhô ra thay mái.

Tầng thứ hai cao 1,68m, cạnh rộng 2,72m. Mở đầu là chín hàng gạch khẩu nhô ra thụt vào. Rồi đến hàng “cánh sen ngửa” đỡ lấy các hàng gạch, được phối hợp thành tám khung hình chữ nhật, mỗi mặt đều có cửa tò vò, với tám khung kẹp hai bên. Trong mỗi khung, là hình đắp nổi một khung có hình tháp nhỏ năm tầng, chiếu diễu hào quang (những đường kẻ thẳng toả ra từ hình tháp). Viền khung, cũng là những hàng “cánh hoa cúc” (hình dấu phẩy) vạch chìm. Như tầng thứ nhất, tầng thứ hai cũng có các “đấu ba chạc” cùng “lá đề” và cũng kết thúc bằng sáu hàng “gạch khẩu” nhô ra thành mái. Mặt đứng của hàng gạch cuối cùng được in nổi hình “cúc dây” uốn. Góc mái cong được trang trí bằng một “lá đề”, có hình “hoa dây uốn nổi” bên trong. Từ tầng này trở lên không có hình rồng nữa. Tầng thứ ba cao 1,27m, rộng 2,40m, được bố trí tương tự tầng hai, nhưng hàng “cánh sen” và hàng “gạch khẩu” bị rút bớt đi. Từ đây trở lên, các tầng đều tương tự tầng ba, nhưng không còn hình “cúc dây” ở diềm mái; thay vào đó là hình “cánh hoa cúc” (hình dấu phẩy). Do rút bớt các hàng gạch khẩu hay do cắt xén các viên gạch trang trí hình tháp, các tầng càng cao, càng hẹp dần. Tầng thứ tám được trang trí bằng hình tháp, xen kẽ có hình “hoa chanh” “bổ ô vuông mắt cáo”. Để thích hợp kích thước thu nhỏ dần, trên gạch trang trí tháp thường bị xén khá tùy tiện, thường chỉ còn 3 tầng…

Về chất liệu, nhìn chung tháp Bình Sơn được xây dựng bằng ba loại gạch hình dáng khác nhau.

  1. “Gạch khẩu”: có nhiều cỡ, hình chữ nhật, để trơn, dầy mỏng không nhất loạt như nhau (kích thước gạch khẩu nhỏ: 0,25 x 0,25m; gạch khẩu lớn: 0,44 x 0,25 x 0,06m). Những gạch này thường được dùng để xây chân bệ, “gờ chỉ” lộ ra ngoài, hoặc được chèn lên mấu các viên gạch ốp ở phía trong.
  2. Loại gạch thứ hai hình hộp, có trang trí, thường được dùng ở chân bệ và các đường diềm, mặt lộ ra ngoài lớn hơn mặt “gạch khẩu” (kích thước gạch loại thứ 2 (trang trí ở tầng dưới), mặt lộ ra ngoài: 0,12 x 0,08m). Loại gạch này được chế tác công phu, rõ ràng có gia công trong nhiều khâu. Phần trang trí vốn là một phần riêng, được ốp đính vào phần gạch trơn (hiện còn thấy dấu “miết mạch”). Trước khi nung, những hình trang trí đều được gọt – sửa – vẽ – vạch lại cẩn thận, để trở thành một sản phẩm “hoàn chỉnh”. Hiện tượng này có phần mang tính thực dụng, với tính chất sản xuất hàng loạt, thường thích ứng với tư duy thương mại.
  3. Loại thứ ba cũng là gạch trang trí, nhưng có phần khác loại thứ hai về hình dáng cũng như công dụng. Loại này thường được dùng để xây dựng các tầng tháp cao. Nó có chân mộng quay vào trong (hình thước thợ lệch). Trên cạnh dày chính giữa “má ghép mạch”, ở phía trên, có một lỗ hình thang: khi ghép hai viên gạch vào nhau, hai lỗ hợp thành một “mộng cá” (có lẽ đổ bằng chì). Loại gạch thứ ba này thường to, dày (kích thước gạch loại thứ ba (trang trí tầng trên): 0,37 x (0,35 – 0,40) x 0,08m). Cách chế tác cũng không khác gì những điều vừa nói về loại gạch thứ hai, nhưng việc gọt – sửa trước khi nung không được chú ý tới nữa, có lẽ vì không cần thiết với những tầng cao.

Tháp Bình Sơn, với tư cách là một công trình tạo tác, không khỏi phơi bày một số nhược điểm, chủ yếu là về mặt kỹ thuật: trong quá trình nung, gạch ngót lại, khiến mạch hở; cấu trúc tạo tác chứng tỏ nền móng chưa được chú ý đúng mức… Tuy nhiên, nhìn chung, tháp Bình Sơn vẫn là công trình nghệ thuật kiến trúc đất nung nguyên vẹn nhất trong số những tháp xưa còn tồn tại đến ngày nay. Ở đây, những nét kế thừa nghệ thuật của tiền nhân được kết hợp với nhiều yếu tố mới, độc đáo, mang tính sáng tạo không thể chối cãi. Nói tóm lại, tháp Bình Sơn không phụ sự quan tâm của chúng ta. Song, vì niên đại của công trình chưa được xác định, nên việc khảo sát còn gặp khó khăn. Như đã nói trên, gần đây, một số nhà nghiên cứu lại dựa vào hoa văn trang trí mà xếp tháp Bình Sơn vào cuối thế kỷ XIV. Rồi, xuất phát từ niên đại này, một vài ý kiến đã kết luận rằng, nhiều đồ án trang trí trên mặt tháp thể hiện một khâu trong bước chuyển tiếp giữa hai thời kỳ nghệ thuật được coi là hưng thịnh ở nước ta, chuyển tiếp từ Lý đến thời hậu Lê.

Trên bình diện trang trí, tháp Bình Sơn đã thể hiện một cách khéo léo theo nghệ thuật thời trước. Những “thuỷ ba” (sóng nước) của tháp Bình Sơn khá giống “thuỷ ba” ở một số di tích thời Trần. Từng “cánh hoa cúc” (hình dấu phẩy) khắc chìm trên diềm mái, hay diềm các khung chữ nhật bọc hình rồng và hình tháp, không khác gì “cánh hoa cúc” trên một số bia thời Trần (chùa Long Đẩu (Quốc Oai, Hà Nội). Hình “cánh sen dẹo”, với mũi uốn tròn và có hoa “mặt nhẫn” ở giữa, không xa cách lắm so với những cánh sen các tháp thờ Bát Tràng cũ (tháp chùa Chò ở Vĩnh Phúc và tháp trong bộ sưu tập của Đỗ Đình Thuật – hiện vật trưng bày ở Viện Bảo tàng Mỹ thuật, phần Lý – Trần), thậm chí cả ở tháp Phổ Minh (Nam Định). Còn có thể nêu nhiều ví dụ khác… Sở dĩ có thể xếp những hiện tượng trùng phùng vừa nêu vào phạm trù kế thừa là vì: trên các mảng trang trí của tháp Bình Sơn, còn có nhiều motif không giống những motif cùng loại của thời Lý và thời Trần. Rất tiếc rằng, trong số tất cả các di tích kiến trúc cổ còn sót lại đến ngày nay, hầu như chúng ta chưa tìm được một công trình kiến trúc tôn giáo nào khác chắc chắn ra đời vào thế kỷ XIV (những kiến trúc như tháp Phổ Minh, chùa Bối Khê được xếp vào thế kỷ XIV là dựa vào đường nét mỹ thuật chung, thực ra chưa tìm thấy các niên đại cụ thể ghi trên các kiến trúc đó). Nếu có, thì rõ ràng, đó là một điểm quy chiếu rất hữu ích để tìm hiểu về niên đại chân xác của tháp Bình Sơn. Vấn đề hình như còn khó khăn hơn, nếu chúng ta chú ý vào các thế kỷ XIV – XVI. Xung quanh ba thế kỷ này, những di vật và di tích truyền đến chúng ta, chỉ bao gồm một số gốm, bàn thờ đá, thành đá của thế kỷ XIV, một số bia ký, bằng sắc, thành quách thuộc hai thế kỷ XV và XVI. Quy di tích kiến trúc này hay di tích kiến trúc kia vào thế kỷ XIV, XV hay XVI, cho đến nay, phần nào vẫn còn là ước lệ. Những ước lệ thuộc loại đó không đủ cho phép chúng ta khẳng định, tháp Bình Sơn là một di tích kiến trúc của một thế kỷ cụ thể nào đó được.

Lễ hội

Hiện nay, Lễ hội tại Khu di tích Tháp Bình Sơn – Chùa Vĩnh Khánh được địa phương tổ chức vào ngày 15 tháng Giêng hàng năm, gọi là “Lễ hội chùa tháp”, bao gồm những nghi thức: rước kiệu, lễ cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an và những chương trình văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, trò chơi dân gian (cờ tướng, cờ người, chọi gà…)

Xếp hạng

Với giá trị tiêu biểu, di tích di tích kiến trúc nghệ thuật Tháp Bình Sơn (huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt (tại Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015 ).

Tài liệu tham khảo

  1. Tuệ Tâm, 2016, chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/5408_Chua%20Vinh%20Khanh%20va%20Thap%20Binh%20Son.pdf
  2. Quỳnh hương, 2021, Bảo tồn và phát huy giá trị tháp cổ Bình Sơn (Vĩnh Phúc), Cục Du Lịch Quốc Gia Việt Nam, truy cập tại: https://vietnamtourism.gov.vn/post/54211

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Binh Son Tower (Tam Son commune, Phu Tho province)

Name and geographical location

The ancient Binh Son Tower is located in Tam Son town, Song Lo district, Vinh Phuc province. It is an architectural masterpiece that has been classified as a special national relic. Next to the tower is Vinh Khanh Pagoda (Then Pagoda), so many locals also call Binh Son Tower “Then Tower.” The tower is nearly 16 meters high and was built during the Ly-Tran dynasties. Beyond its invaluable cultural and historical value, the Binh Son Tower – Vinh Khanh Pagoda complex is an attractive site for visitors, representing the creativity and skill of Vietnamese artisans.

History of the relic

Binh Son Tower is closely associated with the history of Vinh Khanh Pagoda. Vinh Khanh Pagoda, also called Vinh Khanh Tu, was constructed in the early 11th century under Emperor Ly Thanh Tong’s reign, making it one of the oldest pagodas connected to the history of ancient Thang Long.

Its prime location in a sacred land made the pagoda a destination not only for villagers but also for royal family members at the time. During the Tran period, the pagoda became an important spiritual and cultural center, hosting major festivals and Buddhist activities attracting large numbers of devotees.

Architecture and landscape

Currently, Binh Son Tower has 11 visible floors (counted by roof and tower doors), but a brick with the inscription “Thap tam tang” (“thirteen floors”) suggests that the tower may have originally had 13 floors. The tower was primarily built as a Buddhist tower rather than a domestic monk’s tower, though the exact deity or purpose is unclear. Unlike Ly and Tran dynasty constructions, Binh Son Tower was built without reinforced foundations, using entirely baked clay bricks of different types. The base bricks are similar in size to Ly-Tran era bricks (40–43cm long, 22–25cm wide, 4–5cm thick).

Decorative reliefs on the lower floors are the most complete. From the third floor upward, decorations remain but gradually diminish as the tower narrows. The tower base is large, 1.62m high with 4.45m sides, built with six layers of bricks that recede inward with height. Above these are a row of marigold petals, then six smooth “loi chau” bricks, followed by a “lion playing with ball” row framed with stylized marigold petals (comma-shaped). Above are a row of oak leaf patterns and a row of “tilted lotus petals,” rounded at the tips with “ring flowers” in the center. Then comes “vanh song” bamboo-sheath bricks, followed by two rows of “upright lotus petals,” ending the base level with stylized petals curved at the tips with circular motifs in the center.

The first floor above the base is 2.72m high, 3.3m wide, with “tunnel” doors at four sides and familiar roof hoods similar to 17th-century wooden architecture. Door frames are decorated with embossed curved leaves. On both sides of each door are six vertical rectangular panels (“do”), each containing three round compartments with relief dragons, heads facing inward, claws outward, backgrounds with small floral lines. The panels are bordered with engraved marigold petals (comma-shaped). Above these are relief bricks with floral patterns and “three-prong dou” brackets interspersed with embossed leaves. The floor ends with six layers of “kha bricks” protruding outward as a roof.

The second floor is 1.68m high, 2.72m wide, beginning with nine protruding kha brick rows, then “upright lotus petals” supporting the bricks, arranged into eight rectangular frames, each side with a tunnel door and two side frames. Each frame features a relief of a five-story miniature tower radiating straight lines, bordered with marigold petals. Similar to the first floor, the second floor has “three-prong dou” brackets and embossed leaves, ending with six protruding kha brick rows as a roof. Corner eaves are decorated with embossed leaves and floral patterns. From this floor upward, dragon motifs disappear.

The third floor is 1.27m high, 2.40m wide, arranged like the second floor but with fewer lotus petals and kha bricks. Higher floors follow a similar pattern, with marigold petals replacing previous floral motifs. The eighth floor is decorated with tower motifs interspersed with square-patterned “lemon flowers.” Due to the tower’s tapering design, bricks on upper floors were often trimmed, sometimes leaving only three tiers.

Materials

Binh Son Tower was built using three types of bricks:

  1. Kha bricks – rectangular, varying in size and thickness, used for the base, exposed lines, or inserted in inner layers (small: 0.25 x 0.25m; large: 0.44 x 0.25 x 0.06m).
  2. Decorative bricks type 2 – box-shaped, detailed, mainly for base and friezes (0.12 x 0.08m), carefully carved, attached to plain bricks before firing.
  3. Decorative bricks type 3 – used for upper floors, larger and thicker (0.37 x 0.35–0.40 x 0.08m), with mortises forming interlocking joints (“fish mortise”) for stacking. Less attention to carving before firing, likely unnecessary for upper floors.

As a construction, Binh Son Tower shows minor technical flaws: slight shrinkage during firing, imperfect joints, and an inadequately reinforced foundation. However, it remains the most intact baked clay tower among surviving ancient towers. The tower blends traditional inherited art with unique, creative elements, making it an invaluable heritage site. Based on decorative motifs, some researchers date the tower to the late 14th century, representing a transitional style from Ly to later Le dynasties.

In terms of decoration, Binh Son Tower demonstrates sophisticated artistic techniques: water waves (“thuy ba”) resemble Tran-era motifs; comma-shaped marigold petals, lotus motifs, and tower reliefs are similar to 14th-century Bát Tràng and other Ly-Tran structures. Many motifs are unique, marking the tower’s individual artistic heritage. Precise dating is difficult due to the lack of direct inscriptions; comparable Ly-Tran relics help provide approximate context.

Festivals

The local community holds the Binh Son Tower – Vinh Khanh Pagoda festival on the 15th day of the first lunar month each year, called the “Pagoda Tower Festival.” Activities include palanquin processions, prayers for favorable weather, national peace, cultural performances, sports, and traditional games (chess, human chess, cockfighting, etc.).

Ranking

With its typical values, Binh Son Tower (Song Lo district, Vinh Phuc province) was recognized by the Prime Minister as a special national relic (Decision No. 2367/QD-TTg, 23/12/2015).

References

  1. Tuệ Tâm, 2016, chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/5408_Chua%20Vinh%20Khanh%20va%20Thap%20Binh%20Son.pdf
  2. Quỳnh hương, 2021, Bảo tồn và phát huy giá trị tháp cổ Bình Sơn (Vĩnh Phúc), Cục Du Lịch Quốc Gia Việt Nam, truy cập tại: https://vietnamtourism.gov.vn/post/54211

Tiếng Pháp

Thap Binh Son (xa Tam Son, tinh Phu Tho)

Nom et position géographique

La tour ancienne Binh Son se trouve dans la commune de Tam Son, district de Song Lo, province de Vinh Phuc. Elle est un chef-d’œuvre architectural ayant été classé monument national spécial. À côté de la tour se trouve la pagode Vinh Khanh (chua Then), ce qui fait que de nombreuses personnes appellent également la tour Binh Son Thap Then. La tour mesure près de 16 mètres de haut et a été construite à l’époque Ly – Tran.

Outre sa valeur culturelle et historique inestimable, le complexe architectural Thap Binh Son – Chua Vinh Khanh constitue un lieu de visite et de pèlerinage très attractif pour les touristes, symbolisant la créativité et l’habileté des artisans vietnamiens.

Histoire du monument

La tour Binh Son est étroitement liée à l’histoire de la pagode Vinh Khanh. La pagode, également appelée Vinh Khanh Tu, a été construite au début du XIe siècle, sous le règne de Ly Thanh Tong, et est l’une des pagodes les plus anciennes associées à l’histoire de l’ancienne Thang Long.

Sa position privilégiée sur un site sacré en a fait un lieu fréquenté non seulement par les habitants du village, mais aussi par la famille royale et les nobles de l’époque. En particulier, sous la dynastie Tran, la pagode était considérée comme un centre culturel et spirituel important, où se déroulaient de grandes fêtes et diverses activités bouddhistes attirant de nombreux fidèles.

Architecture et paysage

La tour Binh Son comporte actuellement 11 étages (en comptant le toit et les portes), mais des briques portant l’inscription “Thap tam tang” ont été retrouvées, suggérant que la tour pouvait originellement comporter 13 étages. Il ne s’agit pas d’une tour destinée à un moine résident, mais principalement d’une tour bouddhique (la divinité précise reste inconnue).

Contrairement aux constructions officielles des dynasties Ly et Tran, la tour Binh Son n’a pas de fondation renforcée et est entièrement construite en diverses briques en terre cuite. Les briques de la base ont des dimensions proches de celles utilisées à l’époque Ly et Tran (longueur 40-43 cm, largeur 22-25 cm, épaisseur 4-5 cm).

Les décorations des étages inférieurs sont les plus complètes. À partir du troisième étage, la décoration subsiste mais diminue progressivement à mesure que la largeur de la tour se réduit. Le socle de la tour est assez grand, haut de 1,62 m, avec chaque côté mesurant 4,45 m. Du sol vers le haut, on trouve six rangées de briques khau, légèrement en retrait les unes sur les autres, suivies d’une rangée de pétales de chrysanthème stylisés, puis six rangées de briques lisses loi chau, une rangée de lions jouant avec une boule (“su tu hy cau”) encadrée de pétales de chrysanthème en forme de virgule, une frise de feuilles de chêne et une rangée de briques décorées de pétales de lotus inclinés. Ensuite, des briques décoratives en forme de coquille de bambou, puis deux rangées de pétales de lotus retournés, avec des motifs de cercles concentriques.

Le premier étage, haut de 2,72 m et large de 3,3 m, comporte des portes trapézoïdales à quatre faces avec des linteaux rappelant ceux de l’architecture en bois du XVIIe siècle. Les encadrements sont décorés de feuilles en relief, les côtés comportent six panneaux rectangulaires, chacun divisé en trois sections rondes avec des dragons en relief. Ces dragons sont tournés vers le centre, pattes étendues, sur fond de motifs floraux. Les cadres sont entourés de frises de pétales de chrysanthème en creux, surmontés de rangées de briques à motifs floraux et de poutres en trois sections (“dau ba chac”), décorées de feuilles et de motifs floraux. L’étage se termine par six rangées de briques saillantes formant le toit.

Le deuxième étage, haut de 1,68 m et large de 2,72 m, suit une organisation similaire avec neuf rangées de briques saillantes, des pétales de lotus retournés soutenant les briques, et huit cadres rectangulaires avec portes trapézoïdales. Les cadres contiennent des reliefs représentant de petites tours de cinq étages avec des rayons lumineux, entourées de frises de pétales de chrysanthème. Les étages suivants suivent un schéma similaire, mais avec moins de décorations et un rétrécissement progressif de la tour. L’étage huit comporte des motifs de petites tours et de fleurs de citron en relief.

Matériaux
La tour est construite avec trois types principaux de briques :

  1. Briques khau : rectangulaires, variées en taille, pour les socles et les bords saillants.
  2. Briques décoratives type 2 : boîtes décorées pour les socles et les frises, fabriquées avec soin et assemblées avant cuisson.
  3. Briques décoratives type 3 : destinées aux étages supérieurs, plus grandes et plus épaisses, assemblées avec tenons internes, parfois perforées en forme de trapèze.

La tour montre quelques imperfections techniques dues au retrait des briques lors de la cuisson et à l’absence de fondation renforcée, mais elle reste le monument en terre cuite le mieux conservé parmi les tours anciennes. Elle combine héritage artistique et créativité originale, probablement datée de la fin du XIVe siècle, reflétant la transition stylistique de l’art Ly vers l’art post-Lê.

Les motifs décoratifs tels que les vagues (thuy ba) et les pétales de chrysanthème sont très similaires à ceux de certains monuments Tran, tandis que les pétales de lotus inclinés rappellent les tours Bat Trang et d’autres monuments Ly-Tran. Certains motifs uniques suggèrent un processus de transmission et d’adaptation artistique spécifique à cette période.

Fête traditionnelle

Actuellement, la fête du complexe Thap Binh Son – Chua Vinh Khanh a lieu le 15e jour du premier mois lunaire, appelée “Le hoi chua thap”, incluant : procession du palanquin, prières pour la pluie et la prospérité, spectacles culturels, activités sportives et jeux populaires (échecs, échecs humains, combats de coqs…).

Classement

En raison de sa valeur exemplaire, le monument architectural Thap Binh Son (district de Song Lo, province de Vinh Phuc) a été classé monument national spécial par le Premier ministre (décision n° 2367/QD-TTg, 23 décembre 2015).

Références

  1. Tuệ Tâm, 2016, chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/5408_Chua%20Vinh%20Khanh%20va%20Thap%20Binh%20Son.pdf
  2. Quỳnh hương, 2021, Bảo tồn và phát huy giá trị tháp cổ Bình Sơn (Vĩnh Phúc), Cục Du Lịch Quốc Gia Việt Nam, truy cập tại: https://vietnamtourism.gov.vn/post/54211

Tiếng Trung

平山塔(富寿省三山社)

名称与地理位置

平山古塔位于永福省松罗县三山镇,是一座被列为国家特级文物的建筑艺术杰作。塔旁为永庆寺(又称Then寺),因此许多民众仍称平山塔为Then塔。塔高近16米,建于李朝—陈朝时期。平山塔及永庆寺群不仅具有无价的文化与历史价值,也成为游客参观、朝拜的重要景点,是越南人民创造力与精湛工艺的象征。

历史沿革

平山塔与永庆寺的历史密切相关。永庆寺,又称永庆寺,建于11世纪初李圣宗时期,是与昇龙历史紧密相连的古老寺庙之一。
寺庙坐落在圣地中心,使其成为当时不仅村民而且皇亲国戚往来的地方。特别是在陈朝时期,寺庙被视为重要的精神文化中心,举办大型节庆及佛教活动,吸引大量信众。

建筑景观

平山塔现有十一层(按屋檐与塔层门计),但发现一块砖上刻有“十三层”,由此可推测塔原本可能有十三层,主要为佛塔用途(具体供奉何佛尚不明确)。平山塔未像李陈朝官方建造的建筑那样加固地基,而是完全用多种烧制土砖建造,包括塔基。塔基砖尺寸接近李陈时期砖(长40-43cm,宽22-25cm,厚4-5cm)。

下层装饰最为完整,自第三层起仍有装饰,但塔身逐渐收窄,高层装饰逐渐减少。塔基较大,高1.62米,每边长4.45米。从塔基起,铺设六层“砖口”,每层逐渐收进。上为一层万寿菊花瓣纹,再上六层光滑“盆利”砖,然后是“戏球狮”砖,其边框为“菊花瓣”(逗号形)。上方有“橡叶边”和“垂曲莲瓣”砖,接着是“竹节纹”砖,再上两层“仰莲瓣”装饰,结束塔基层,这些莲瓣纹尖端卷曲,中间有“环花”图案,中心大环,四周小环排列。

第一层 高2.72米,边长3.3米,四面为“砍角”螺旋门,门顶类似17世纪木结构门顶。门框饰“卷叶浮雕”,门两侧有六个纵向矩形板,每板内有三个浮雕龙:龙首向中,龙爪外蹬,底纹小菊花蔓。板框边缘刻有“菊花瓣”,上方为“凸砖花纹”,再上为“三叉斗”,两叉之间饰“卷蔓叶”。层末铺六层“砖口”,逐级突出形成檐。

第二层 高1.68米,边长2.72米。开头九层砖口逐渐收进,随后为“仰莲瓣”承托砖层,形成八个矩形框,每框设螺旋门,两侧各有八框。每框内浮雕小五层佛塔,放射光芒,框边刻“菊花瓣”。如同第一层,第二层亦有“三叉斗”与“卷叶”,并以六层砖口收尾。最后砖面浮雕“菊蔓”,屋角饰“卷蔓叶”。此层以上无龙纹。

第三层 高1.27米,宽2.40米,布置类似第二层,但莲瓣和砖口减少。此后各层均类似第三层,但檐边无菊蔓纹,改为“菊花瓣”(逗号形)。由于砖口层减少或装饰砖裁切,高层逐渐变窄。第八层装饰佛塔图案,夹有“柠檬花”与“方格猫眼”。高层装饰砖多被随意裁切,一般只保留三层。

建筑材料

平山塔主要用三种不同形状砖建造:

  1. “砖口”砖:多尺寸,长方形,表面光滑,厚度不一(小砖口:25×0.25m;大砖口:0.44×0.25×0.06m),用于塔基或外露装饰。
  2. 装饰砖:多用于塔基和檐层,外露面积大于砖口砖(尺寸下层装饰砖:12×0.08m),工艺精细,装饰为单独部件,预烧前雕刻、修整、绘制完成。
  3. 高层装饰砖:形状与用途不同,通常用于塔高层,内有榫眼,上部有梯形孔,与相邻砖形成“鱼形榫”,尺寸较大(37×0.35-0.40×0.08m),工艺类似第二类砖,但高层雕刻不再精细。

技术特点与艺术价值

作为建筑工艺品,平山塔存在一些技术缺陷,如烧制收缩导致缝隙,地基未充分重视。但总体而言,平山塔是现存古塔中最完整的土砖建筑艺术作品,继承了先人艺术风格,同时融入独特创新元素,可谓无愧于研究与保护价值。部分研究根据装饰推测塔建于14世纪末,属于李朝向后黎时期艺术过渡阶段。

平山塔在装饰上体现了前期艺术的精巧:水波纹与陈朝部分遗迹相似,屋檐浮雕菊花瓣与长方框浮雕龙塔装饰与陈朝碑刻相仿,仰莲瓣与Bát Tràng旧塔、Phổ Minh塔相似。部分装饰与李陈时期风格不同,体现继承与创新的艺术价值。

节庆活动

平山塔—永庆寺遗址区当地每年农历正月十五举办“塔寺节”,活动包括:抬花轿、祈雨祈安、文艺表演、体育竞技及民间游戏(象棋、人棋、斗鸡等)。

保护等级

日以2367/QĐ-TTg号决定列为国家特级文物。

参考资料

  1. Tuệ Tâm, 2016, chùa Vĩnh Khánh và tháp Bình Sơn, Tạp chí Di sản, truy cập tại: https://dsvh.gov.vn/Upload/files/5408_Chua%20Vinh%20Khanh%20va%20Thap%20Binh%20Son.pdf
  2. Quỳnh hương, 2021, Bảo tồn và phát huy giá trị tháp cổ Bình Sơn (Vĩnh Phúc), Cục Du Lịch Quốc Gia Việt Nam, truy cập tại: https://vietnamtourism.gov.vn/post/54211

 

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
Thap binh son ivivu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)