Niên đại: năm Đức Long thứ 4 (1632)
Chất liệu: Đất thô luyện (đất sét trộn mật, giấy bản, tro trấu…) rồiơn son thếp vàng kết hợp thếp bạc phủ quang
Kích thước: Chiều cao khoảng 0,76 m
Loại hình: Tượng Phật giáo
Nơi phát hiện: Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự), làng Đông Tú, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội
Đơn vị lưu giữ: Ban Quản lý Di tích Làng cổ Đường Lâm / Chùa Mía
Giới thiệu hiện vật
Hiện vật là một trong những kiệt tác điêu khắc Phật giáo nổi tiếng nhất của vùng văn hóa xứ Đoài, được dân gian tôn kính gọi là tượng Quan Âm Thị Kính. Tượng được tạo tác ở tư thế ngồi thanh thoát trên một khối đá gồ ghề; hai tay nâng niu đỡ trọn đứa trẻ thơ (con của Thị Mầu) áp vào lòng với tư thế chở che đầy bao dung, trìu mến.
Gương mặt Đức Phật Bà mang đậm nét nhân chủng học phụ nữ Việt cổ truyền: khuôn mặt trái xoan đầy đặn, sống mũi thẳng thanh tú, đôi mắt khép hờ nhìn xuống chan chứa lòng trắc ẩn và tình mẫu tử thiêng liêng. Đầu tượng vấn tóc cao, phủ khăn trùm đầu màu sẫm buông rủ qua hai vai; thân khoác áo dài nhiều lớp lộng lẫy, nếp áo được tạo hình chảy tràn tự nhiên, uốn lượn nhịp nhàng theo dáng ngồi. Điểm xuyết trên y phục là lớp hoa văn mây hoa dập thếp vàng, thếp bạc phủ quang cổ kính, toát lên vẻ quyền quý nhưng vẫn dung dị, hiền từ. Đứa bé trên tay bụ bẫm, mặc áo yếm hoa, gương mặt tươi vui ngơ ngác, hai chân đung đưa tự nhiên, tạo sự đối thoại sinh động giữa thần thái tĩnh lặng của Bồ Tát và nét ngây thơ của con trẻ.
Pho tượng là minh chứng đỉnh cao cho kỹ thuật đắp tượng bằng chất liệu đất luyện truyền thống của nghệ nhân xứ Đoài thế kỷ XVII – một chất liệu dân gian rẻ bền nhưng đòi hỏi bàn tay tạo tác cực kỳ điêu luyện để đạt đến độ bền chắc và thần thái sống động suốt hàng trăm năm.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Đồng hành cùng quá trình trùng tu quy mô lớn chùa Mía vào năm Đức Long thứ 4 (1632) do Cung phi Ngô Thị Ngọc Diệu (vợ chúa Thanh Đô vương Trịnh Tráng, được tôn xưng là Bà Chúa Mía) hưng công khởi xướng. Tượng ghi dấu thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo Đàng Ngoài dưới sự bảo trợ của tầng lớp quý tộc cung đình thời Lê Trung Hưng.
Giá trị văn hóa: Thể hiện sự Việt hóa sâu sắc hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm trong đời sống tâm linh bản địa. Tích truyện “Quan Âm Thị Kính” với triết lý nhẫn nhục, từ bi và tình yêu thương con trẻ vô điều kiện đã biến một vị Bồ Tát ngoại lai thành hình mẫu người mẹ hiền Việt Nam – hiện thân của đức hy sinh và lòng vị tha tuyệt đối.
Giá trị nghệ thuật: Được mệnh danh là “bảo vật điêu khắc đất luyện”, pho tượng đạt đến độ hoàn mỹ về giải phẫu thẩm mỹ dân gian và nghệ thuật biểu cảm tâm lý. Tác giả dân gian đã giải quyết triệt để sự chuyển động của các khối hình: tỷ lệ giữa người mẹ và đứa trẻ cân xứng hoàn hảo, nếp gấp xiêm y mềm mại như lụa thực, màu sơn thếp đằm thắm tạo nên một kiệt tác điêu khắc trữ tình và nhân văn bậc nhất thế kỷ XVII.
Giá trị độc đáo: Là biểu tượng mẫu mực của dòng tượng Quan Âm Tống Tử trong toàn bộ hệ thống di sản mỹ thuật chùa cổ Việt Nam; hiện vật góp phần khẳng định vị thế độc nhất của kho tàng 287 pho tượng tại Chùa Mía, cung cấp tư liệu vật thể quý giá cho nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, tín ngưỡng dân gian và công nghệ bảo tồn chất liệu đất cổ truyền xứ Đoài.
Nguồn ảnh: Sưu tầm