Chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657)

Chúa Trịnh Tráng (1577 – 1657)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Trịnh Tráng (1577- 1657), thụy hiệu Văn Tổ Nghị vương (文祖誼王), là chúa Trịnh thứ hai thời Lê trung hưng, nắm thực quyền cai trị miền Bắc Đại Việt từ 1623 đến 1657. Ông là con trai thứ ba của Bình An vương Trịnh Tùng và Thứ phi Đặng Thị Ngọc Dao, người làng Lương Xá, huyện Chương Đức (nay thuộc Chương Mỹ, Hà Nội), cháu ngoại của Nghĩa quận công Đặng Huấn. Khi sinh ra, Trịnh Tráng được ông ngoại trực tiếp cắt rốn và nuôi dưỡng, nên thuở nhỏ sống ở bên ngoại.

Thời trẻ, ông được phong Bình quận công, sau là Thái phó Thanh quốc công, nhiều năm phò giúp cha điều hành chính sự sau khi kinh thành Thăng Long được khôi phục. Trong chiến dịch dẹp loạn họ Mạc năm 1618, ông theo lệnh Trịnh Tùng chỉ huy quân đánh thắng Mạc Kính Khoan ở vùng Vũ Nhai – Đại Từ, lập công lớn, được quân thần tin phục và trở thành người kế vị sáng giá của cha.

Về quan hệ gia tộc, Trịnh Tráng là cậu ruột của vua Lê Thần Tông, đồng thời là con rể của Nguyễn Hoàng, lấy Nguyễn Thị Ngọc Tú.

Bối cảnh lịch sử

Tháng 6 năm Quý Hợi (1623), Bình An vương Trịnh Tùng sau nhiều năm chinh chiến và nắm thực quyền cai trị triều Lê lâm bệnh nặng. Trước tình thế đó, ông trao quyền chỉ huy binh mã cho Thanh quận công Trịnh Tráng, con trai thứ ba, đồng thời cho Vạn quận công Trịnh Xuân, con trai thứ tư, làm phó giữ binh quyền. Tuy nhiên, đây cũng chính là thời điểm những mâu thuẫn nội bộ trong phủ Chúa lên đến đỉnh điểm.

Trước đó, Trịnh Xuân từng mưu phản, vào năm 1619 đã cùng vua Lê Kính Tông bí mật lập kế giết Trịnh Tùng để đoạt quyền, song việc bại lộ. Trịnh Tùng vì tình phụ tử nên tha chết, chỉ giáng chức và quản thúc. Đến nay, nhân lúc cha bệnh nặng, Xuân lại nuôi chí phục thù và giành ngôi kế vị.

Ngày 15 tháng 7 năm 1623, Trịnh Xuân cùng quận Điện và quận Bàng bất ngờ đem quân tấn công vào phủ Chúa, cướp phá khắp nơi khiến kinh thành Thăng Long rối loạn. Trịnh Tráng lúc ấy đang ở ngoài, không hay biết tung tích của cha, vì Trịnh Tùng đã được Bùi Sĩ Lâm bí mật đưa ra khỏi kinh thành lánh nạn.

Ngay hôm sau, Trịnh Tráng sai em là Trịnh Giai rước vua Lê Thần Tông về Ninh Giang, còn bản thân ông thì lui về Nhân Mục (Vĩnh Lại) để tập hợp các tướng sĩ và bàn mưu kế đối phó. Trong khi đó, nội bộ các tướng cũng sinh nghi kỵ; Lưu Đình Chất lo ngại âm mưu của Trịnh Đỗ nên khuyên Trịnh Tráng thận trọng, khiến ông phải tự tách đoàn, một mình quay về Ninh Giang.

Không lâu sau, Trịnh Tùng sai người bắt và xử tử Trịnh Xuân, dập tắt cuộc binh biến trong phủ. Tuy nhiên, chỉ hai ngày sau đó, khi được người thân cáng võng đi tìm thế tử, Trịnh Tùng qua đời tại quán Thanh Xuân (ngày 17 tháng 7 âm lịch năm 1623), hưởng thọ 77 tuổi.

Đến ngày 21 tháng 7, Trịnh Tráng trở về phát tang cha và chính thức kế vị, trở thành chúa Trịnh thứ hai, mở đầu thời kỳ củng cố quyền lực họ Trịnh và tiếp nối sự nghiệp “phù Lê” trong giai đoạn mới.

Sự nghiệp

Phù Lê diệt Mạc

Sau khi Bình An vương Trịnh Tùng qua đời tháng 7 năm 1623, Trịnh Tráng kế tục ngôi chúa trong bối cảnh đất nước rối ren: nội bộ họ Trịnh vừa trải qua cuộc binh biến do Trịnh Xuân cầm đầu, triều đình rối loạn, quân Mạc lại nhân cơ hội trỗi dậy.

Ngay sau khi ổn định binh quyền, Trịnh Tráng cho đưa vua Lê Thần Tông cùng triều đình lánh về Thanh Hóa, tạm đóng quân tại An Trường để củng cố lực lượng. Đám tàn dư của Trịnh Xuân vẫn tiếp tục quấy phá kinh thành Thăng Long, khiến vùng trung châu hỗn loạn. Nhằm vãn hồi trật tự, Trịnh Tráng sai Nguyễn Danh Thế đứng ra điều giải với Trịnh Đỗ để nối lại hòa khí, đoàn kết lực lượng họ Trịnh. Sau đó, nhà vua phong cho Trịnh Tráng làm Đô tướng tiết chế thủy bộ chư quân, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái úy Thanh quốc công, giao toàn quyền điều binh khiển tướng.

Cùng năm ấy, Mạc Kính Khoan (cháu của Mạc Kính Cung) nhân thời cơ triều Lê biến động đã đem hơn vạn quân từ Cao Bằng kéo xuống Gia Lâm, uy hiếp Thăng Long. Tháng 8 âm lịch, vua Lê Thần Tông ủy toàn quyền cho Trịnh Tráng chỉ huy quân đội dẹp Mạc. Ông trực tiếp thống lĩnh thủy bộ đại binh, phối hợp cùng các tướng Nguyễn Danh Thế và Đặng Thế Tài đánh thẳng vào Gia Lâm. Trận chiến ác liệt kết thúc với thắng lợi nghiêng về quân Trịnh; Kính Khoan thua to, phải rút về Cao Bằng. Nhờ công ấy, Trịnh Tráng được toàn quân suy tôn làm nguyên soái, còn vua sai Lê Bật Tứ và Bùi Sĩ Lâm đưa xa giá về lại kinh đô.

Tháng 11 năm 1623, ông tự xưng tước Nguyên soái tổng quốc chính Thanh Đô vương, chính thức trở thành người kế tục thực quyền của họ Trịnh. Đến năm 1625, Trịnh Tráng sai con trưởng là Trịnh Kiều đem quân đánh thẳng lên Cao Bằng, bắt được vua Mạc Càn Thống (tức Mạc Kính Cung) cùng đồ đảng, giải về kinh xử tử. Kính Khoan thấy thế bèn dâng biểu xin hàng, được phong Thái úy Thông quốc công, cho phép đóng ở Cao Bằng, hàng năm triều cống, coi như chính thức kết thúc triều đại Mạc tại trung châu, chỉ còn sót lại dư đảng ở biên viễn.

Đối nội

Trong nước, Trịnh Tráng tiếp tục củng cố quyền lực họ Trịnh, củng cố phủ Chúa bên cạnh triều vua Lê, mở rộng bộ máy cai trị và đặt nền hành chính vững mạnh hơn.

Năm 1629, ông được tôn làm Đại nguyên soái thống quốc chính thượng chúa Thanh vương, chính thức được triều đình thừa nhận địa vị tương đương quốc phụ. Tuy nhiên, quyền lực lớn khiến ông ngày càng can thiệp sâu vào nội chính triều Lê. Năm 1630, Trịnh Tráng ép vua Lê Thần Tông phải cưới con gái mình là Trịnh Thị Ngọc Tú, bà vốn đã lấy Lê Duy Trụ (bác họ vua) và có bốn con. Sau khi Duy Trụ phạm tội bị giam, chúa ép gả Ngọc Tú cho vua, buộc triều đình phải chấp thuận.

Dưới thời Trịnh Tráng, các chính sách trị quốc tương đối nghiêm minh. Ông thân chinh đi kiểm tra đê điều, ra lệnh kiểm soát ngân quỹ, ngăn nạn tham nhũng trong các công sở. Năm 1634, ban hành quy định xử phạt nặng quan lại chiếm đoạt hàng hóa của thương nhân ở chợ.

Tuy vậy, sự độc đoán của ông cũng gây ra nhiều xung đột trong triều. Năm 1643, do vụ việc xúc phạm bà Tiệp dư họ Đặng, cung phi của vua Lê Thần Tông, Trịnh Tráng sợ tiếng đồn lan rộng nên buộc vua thoái vị, lập thái tử Lê Duy Hựu lên ngôi (tức Lê Chân Tông), rồi tôn Lê Thần Tông làm Thái thượng hoàng. Vua mới sau đó phong chúa làm Đại nguyên soái thống quốc chính thái thượng sư phụ Thanh vương.

Về việc nối dõi, năm 1632, ông phong cho con trưởng Trịnh Kiều làm Phó chưởng quốc chính, Thái úy Sùng quốc công, mở phủ Hùng Uy, chính thức định vị Kiều là thế tử. Nhưng Kiều mất sớm (1642), nên đến năm 1645, Trịnh Tráng lập con thứ là Trịnh Tạc làm Thái úy tả tướng tiết chế các doanh quân thủy bộ, tước Tây quốc công, mở phủ Khiêm Định, nắm thực quyền trong nước. Việc này khiến hai con khác là Trịnh Sầm và Trịnh Lịch nổi loạn, song đều bị bắt và xử tử.

Quan hệ đối ngoại

  • Quan hệ với phương Tây

Dưới thời Trịnh Tráng, quan hệ với các nước châu Âu bước sang giai đoạn cởi mở nhưng cũng đầy mâu thuẫn. Năm 1626, người Bồ Đào Nha và Hà Lan lần lượt mở tuyến buôn bán ở Đàng Ngoài. Người Hà Lan tặng chúa hai khẩu đại bác, được trọng đãi và cho lập thương điếm ở phố Hiến (nay thuộc Hưng Yên) năm 1637. Nhờ đó, Phố Hiến trở thành trung tâm thương mại quốc tế sầm uất, được ca tụng bằng câu “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.”

Tuy nhiên, Trịnh Tráng vẫn giữ thái độ khắt khe với đạo Thiên Chúa. Năm 1630, ông trục xuất giáo sĩ Alexandre de Rhodes, và năm 1643 ra lệnh cấm truyền đạo, coi đó là mối nguy với nền chính trị phong kiến.

  • Cắt đất cầu phong nhà Minh

Sau khi nhà Minh thất thủ trước nhà Thanh (1644), nhiều di thần Nam Minh chạy xuống phương Nam và liên lạc với Đại Việt. Trịnh Tráng, vì muốn giữ quan hệ hòa hiếu và cầu phong danh vị Phó quốc vương, đã đồng ý cắt một phần đất biên viễn cho Nam Minh. Theo Ức Trai di tập, khoảng năm 1646 – 1657, ông nhượng 6, 7 châu thuộc phủ An Tây, trấn Hưng Hóa, nhập vào đất Kiến Thủy của Vân Nam. Từ đó, Đại Việt mất vĩnh viễn vùng này, sự kiện được nhiều sử thần sau này coi là vết thương ngoại giao nghiêm trọng trong thời kỳ Trịnh trị.

Chiến tranh với họ Nguyễn

Thời Trịnh Tráng là giai đoạn Trịnh – Nguyễn phân tranh chính thức bùng nổ. Năm 1625, chúa Nguyễn Phúc Nguyên ngừng triều cống, đắp lũy Nhật Lệ để tự thủ theo kế của Đào Duy Từ. Đến 1627, lấy cớ chúa Nguyễn bất tuân, Trịnh Tráng thân chinh dẫn đại quân hơn 20 vạn người, cả vua Lê cùng đi, tiến vào Thuận Hóa. Quân Trịnh vấp phải tuyến phòng thủ kiên cố, lại gặp hỏa lực đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên thất bại, phải rút lui.

Lần thứ hai (1633), ông lợi dụng nội biến trong phủ Nguyễn khi Phúc Anh bất mãn làm nội ứng nhưng kế hoạch bại lộ, quân Trịnh bị tập kích, tan vỡ tại cửa Nhật Lệ.

Năm 1643, ông mở cuộc nam chinh lần thứ ba, mang theo vua Lê Chân Tông, đích thân chỉ huy tại Bắc Bố Chính. Quân Nguyễn do Nguyễn Hữu Dật chỉ huy cố thủ, khiến chiến dịch thất bại, quân Trịnh phải rút vì nắng nóng và thiếu lương.

Đến 1648, Trịnh Tráng phát động cuộc tiến công lần thứ tư. Quân Trịnh vượt qua lũy Nhật Lệ, đánh tới Trường Dục nhưng bị Nguyễn Hữu Tiến phản công. Quân Trịnh thảm bại, chết hơn 3000 người, phải rút về Bắc.

Cuối cùng, năm 1655, quân Trịnh một lần nữa nam tiến nhưng bị Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến đánh tan ở sông Gianh, mất cả bảy huyện phía nam sông Lam. Cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm, gây hao tổn nặng nề cả hai bên, nhưng không bên nào khuất phục được bên kia.

Gia quyến

Cha mẹ

  •  Cha ông là Bình An vương Trịnh Tùng (1550 – 1623)
  • Mẹ ông là Thứ phi Đặng Thị Ngọc Dao, người làng Lương Xá, huyện Chương Đức (nay thuộc Hà Nội), con gái Nghĩa quận công Đặng Huấn.

Chính thất

  • Tây cung Chính phi Nguyễn Thị Ngọc Tú (?-1631), thụy Từ Thuận, người làng Gia Miêu Ngoại Trang (huyện Tống Sơn, Thanh Hóa), cháu nội của Nguyễn Kim, con gái Đoan quốc công Nguyễn Hoàng – người khai sáng cơ nghiệp họ Nguyễn ở phương Nam. Bà sinh ra Sùng Nghĩa vương Trịnh Kiều và Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc. Sau khi qua đời, được táng tại xã Bồi Dương (Tống Sơn).
  • Đông cung Hiền phi Nguyễn Phúc Ngọc Súy, thụy Từ Hiền, cũng người Gia Miêu Ngoại Trang, là cháu họ Nguyễn Hoàng, con Lý Nhân công Nguyễn Hắc. Bà mất ngày 22 tháng 9, được táng tại xã Bà Đông (Tống Sơn).

Thứ thất

  • Thái phi Trần Thị Ngọc Đài (1577–1669), thụy Từ Huyên, người làng Đồng Đội (huyện Thiên Bản, Nam Định), con gái Khải quận công Trần Khải. Bà sinh ra Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc, người kế nghiệp chúa Trịnh Tráng.
  • Chiêu nghi họ Lê, người làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, cháu Nghĩa Huân công Lê Bá Ly, sinh ra quận chúa Trịnh Thị Ngọc Thác.
  • Thị nội Cung tần Trần Thị Ngọc Am (1580–1647), tên thật Trần Thị Cư, người làng Mụa (nay thuộc xã Vũ Xá, huyện Kim Động, Hưng Yên). Sau khi mất, được nhân dân tôn làm Thần, lập đền thờ tại quê nhà.
  • Thị nội Cung tần Nguyễn Thị Ngọc Giao, còn gọi là Bà chúa Mía, mất ngày 30 tháng Chạp, được nhân dân tôn kính thờ phụng.
  • Thị nội Cung tần Nguyễn Thị Ngọc Hân (1616–1701), thụy Diệu Huy, người xã Xích Đằng (nay thuộc thành phố Hưng Yên).

Con trai

  • Sùng Nghĩa vương Trịnh Kiều (1601 – 1642), con trưởng, mẹ là Nguyễn Thị Ngọc Tú, từng được lập làm Thế tử nhưng mất sớm.
  • Dực Vận Tân Trị công thần Thân Nghĩa công Trịnh Lưu, mất trước Trịnh Kiều.
  • Thuần Vĩ công Trịnh Trượng, mẹ là Nguyễn Thị Ngọc Tú.
  • Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc (1606 – 1682), con của Thái phi Trần Thị Ngọc Đài, kế nghiệp ngôi chúa.
  • Bỉnh Trung công Trịnh Quế, Tô quận công Trịnh Hàm, Bảng quận công Trịnh Biện, Khuê quận công Trịnh Lực, Hoàng quận công Trịnh Lộc, Địch quận công Trịnh Tiến, Hiệu quận công Trịnh Tấu, An quận công Trịnh Thiện, Mỹ quận công Trịnh Hoàn, Cảo quận công Trịnh Lệ, Ninh quốc công Trịnh Toàn (1631 – 1674, con út, từng tham chiến chống quân Nguyễn), Hoa quận công Trịnh Sầm (? – 1645) và Phù quận công Trịnh Lịch (? – 1645).

Con gái

  • Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 – 1660), con trưởng, trước lấy Cường quận công Lê Trụ, sau tái giá với vua Lê Thần Tông, được tôn làm Hoàng hậu.
  • Trịnh Thị Ngọc Thác (1610 – 1664), con gái thứ hai, mẹ là Chiêu nghi họ Lê, lấy Doanh quận công Đặng Thế Tài.
  • Trịnh Thị Ngọc Trân (1615 – ?), phong Đoan Trang công chúa, em ruột Thuần Vĩ công Trịnh Trượng.
  • Trịnh Thị Ngọc Loan, lấy Liêu quận công Nguyễn Cảnh Quế.
  • Phương Từ Hoàng hậu Trịnh Thị, sau là Chính cung Hoàng hậu của vua Lê Chân Tông.
  • Trịnh Thị Ngọc Thụ, gả cho Xuyên quận công Nguyễn Đồng, cháu chắt chúa Tiên Nguyễn Hoàng.

Cuối đời – thờ phụng

Sau hơn ba thập niên nắm giữ binh quyền, điều hành quốc chính trong bối cảnh đất nước liên miên binh lửa, Thanh Đô vương Trịnh Tráng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 28 tháng 5 năm 1657, khi cuộc chiến với họ Nguyễn vẫn chưa kết thúc. Ông hưởng thọ 81 tuổi, để lại sau lưng một thời đại vừa rực rỡ vừa đầy biến động gắn liền với công cuộc củng cố trung hưng triều Lê, những trận binh đao Nam – Bắc triều, kế đó là Trịnh – Nguyễn phân tranh.

Sau khi qua đời, Thế tử Trịnh Tạc nối ngôi, kế vị chức chúa, ông truy tôn phụ thân là Nghị vương, ban miếu hiệu Văn Tổ, thụy hiệu Long Tự, biểu dương công đức của vị chúa đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp của dòng họ và quốc gia.

Ba năm sau khi ông mất, vào năm 1660, cháu nội là Trịnh Căn mới hoàn tất công việc mà ông chưa kịp hoàn thành, đánh lui quân Nguyễn về phía nam sông Gianh, chấm dứt một giai đoạn dài đầy khói lửa, mở ra thế cục ổn định mới cho Đàng Ngoài. Từ đó, Trịnh Tráng được thờ phụng trọng thể tại phủ chúa Trịnh và miếu Trịnh tộc ở Thanh Hóa, trở thành một trong những vị chúa được hậu thế kính ngưỡng, lưu danh trong dòng lịch sử họ Trịnh như bậc khai mở nền trị bình sau thời nội loạn.

Nhận định – đánh giá

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ tục biên quyển 21 do Phạm Công Trứ biên soạn vào thời Lê – Trịnh, hình tượng Thanh vương Trịnh Tráng hiện lên như một vị chúa có đức độ, vừa nhân hậu, vừa biết trọng đạo trị quốc. Mô tả ông là người “tính trời hiếu thảo, thân ái mọi người, rộng lòng khoan thứ”, tức là bậc quân vương vừa có lòng nhân, vừa có đức độ, coi trọng tình nghĩa và biết lấy sự bao dung làm nền tảng trong việc trị dân, dùng người.

Trịnh Tráng lên nắm quyền khi tuổi đã ngoài bốn mươi, trong bối cảnh triều chính vừa ổn định sau thời loạn. Ông được ca ngợi là người có công bình xong nội nạn, hòa hợp nhân dân, trong nước yên ổn, thể hiện khả năng củng cố trật tự, ổn định xã hội sau những biến động nối tiếp từ cuối thời Trịnh Tùng. Dưới thời ông, triều Lê Trung hưng có bước phát triển trong tổ chức chính quyền, kỷ cương được chấn chỉnh, các bề tôi trung nghĩa được trọng dụng. Việc mọi việc đều giao cho triều đường công luận cho thấy ông là vị chúa trọng pháp, tôn trọng ý kiến của văn thần, khác với một số chúa sau này thiên về chuyên quyền.

Trên phương diện trị quốc, Trịnh Tráng được đánh giá là người cung kính khiêm nhường, cẩn thận giữ gìn pháp độ, biểu hiện tinh thần cẩn trọng, biết điều hòa quyền lực giữa phủ chúa và triều vua, duy trì thế cân bằng trong mô hình “vua Lê – chúa Trịnh”. Ông còn là người có chí hướng hòa hiếu, ba lần đánh Thuận Hóa chỉ dùng văn cáo để mở bảo, không muốn dụng binh đến cùng, cho thấy tư tưởng nhân hòa, không muốn gây cảnh binh đao, dù quyền lực họ Nguyễn ở Đàng Trong đã trở thành mối đe dọa trực tiếp.

Đáng chú ý, ông tha cho Mạc Kính Khoan, lại ban cho đất Cao Bằng, khiến xưng thần, giữ chức cống, thể hiện chính sách khoan dung, lấy ân nghĩa để thu phục nhân tâm, đặt nền tảng cho sự ổn định lâu dài ở biên viễn. Phạm Công Trứ nhận xét rằng nhờ những đức tính ấy, phúc nuôi dưỡng yên ổn hòa bình thật là dày lắm một lời khẳng định công lao của Trịnh Tráng trong việc đem lại thời kỳ thịnh trị tương đối cho Đàng Ngoài đầu thế kỷ XVII.

Như vậy, dưới góc nhìn của sử thần Phạm Công Trứ, Trịnh Tráng không chỉ là một nhà quân sự từng bước củng cố thế lực họ Trịnh, mà còn là một nhà chính trị có tầm nhìn, lấy nhân nghĩa làm gốc, vừa giữ được ổn định trong nước, vừa đảm bảo danh phận quốc gia đối với “thiên triều”. Chính sự dung hòa giữa văn trị và võ công ấy đã khiến ông được xem là vị chúa tiêu biểu của thời Lê trung hưng, đặt nền móng vững chắc cho sự kế thừa của họ Trịnh trong hơn một thế kỷ tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

  1. Phan Huy Chú (2007), Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Giáo dục.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
  4. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  5. Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
  6.  Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
  7. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  8.  Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.
  9.  Phạm Đình Hải (2012), Nghiên cứu văn bản gia phả chúa Trịnh (Luận văn thạc sĩ Hán Nôm), Đại học Quốc gia Hà Nội
  10.  Nhiều tác giả (2021), Những vấn đề lịch sử thời Trịnh Nguyễn, Nxb Hồng Đức.
Chấm điểm
Chia sẻ

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)