Thân thế
Trịnh Tạc (11 tháng 4 năm 1606 – 24 tháng 9 năm 1682), thụy hiệu Hoằng Tổ Dương vương (弘祖陽王), là vị chúa Trịnh thứ ba thời Lê trung hưng, cầm quyền suốt 25 năm (1657 – 1682). Trịnh Tạc là con trai thứ tư của Văn Tổ Nghị vương Trịnh Tráng, mẹ là Trần Thị Ngọc Đài, con gái của Khải quận công, người làng Đồng Đội, huyện Thiên Bản, Nam Định. Ông sinh ngày 11 tháng 4 năm 1606 (tức mùng 5 tháng 3 năm Bính Dần).
Từ nhỏ, Trịnh Tạc đã tỏ ra thông minh, chính trực, tính khí trầm tĩnh, cẩn trọng và có tư chất chính trị. Ông được ông nội là Thành Tổ Triết vương Trịnh Tùng yêu mến, năm 1614 khi mới 9 tuổi đã được phong Tây quận công, ghi nhận như một tiểu vương tử trong phủ Chúa. Năm 1631, ông được thăng Đô đốc phủ Tả đô đốc Phó tướng, trấn thủ Nghệ An. Sang năm sau, ông được thăng hàm Thiếu phó, trở thành một trong những đại thần trẻ tuổi có vai trò nổi bật trong triều.
Thuở thiếu thời, Trịnh Tạc có tình bạn thân thiết với hoàng tử Lê Duy Kỳ, con trưởng của vua Lê Kính Tông. Khi xảy ra biến cố năm 1619, vua Kính Tông cùng Trịnh Xuân mưu giết chúa Trịnh Tùng thất bại, nhà vua bị ép thắt cổ, các hoàng tử đều bị giam. Lúc ấy, Trịnh Tạc mới 13 tuổi, đã khéo léo can gián ông nội, xin tha cho các hoàng tử. Nhờ lời nói cẩn trọng và thái độ khoan hòa của ông, nhiều người trong hoàng tộc được cứu, trong đó có Lê Duy Kỳ, tức vua Lê Thần Tông sau này. Sự kiện này không chỉ thể hiện lòng trung hậu của Trịnh Tạc, mà còn đặt nền móng cho mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa hai họ Lê – Trịnh suốt nhiều thập kỷ sau.
Bối cảnh lịch sử
Khi trưởng thành, Trịnh Tạc bắt đầu tham gia quân vụ. Năm 1640, ông được lệnh cha là Trịnh Tráng dẫn quân vào nam chống quân Nguyễn đang vượt sông Gianh ra Bắc. Trong chiến dịch này, Trịnh Tạc cùng em là Trịnh Lệ cầm tiên phong, đánh giết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm lại Bắc Bố Chính, rồi tiến ra cửa Nhật Lệ. Tuy nhiên, do thời tiết oi bức khiến quân bệnh tật nhiều, chiến dịch phải rút quân. Đây là lần đầu tiên Trịnh Tạc chính thức chỉ huy chiến trận, và cũng là khởi đầu cho chuỗi binh nghiệp lâu dài của ông trong các cuộc chiến Trịnh – Nguyễn.
Đến năm 1642, ông được giao trấn giữ Sơn Nam, vùng trọng yếu nằm giữa đồng bằng Bắc Bộ, chịu trách nhiệm bảo vệ kinh kỳ và kiểm soát giao thông thủy bộ quan trọng. Năm 1643, khi Sùng quận công Trịnh Kiều mất, con trai ông là Tông quận công Trịnh Hoành còn nhỏ tuổi, chúa Trịnh Tráng quyết định chọn Trịnh Tạc làm người kế vị ngôi chúa.
Sau khi được lập làm thế tử, Trịnh Tạc tích cực tham gia quân chính. Năm 1645, ông chỉ huy đại quân đánh Mạc Kính Vũ ở Cao Bằng, giành thắng lợi lớn, làm suy yếu nghiêm trọng thế lực họ Mạc ở miền biên viễn. Tháng 4 âm lịch năm ấy, Trịnh Tráng tâu vua Lê Chân Tông phong cho ông làm Thái úy Tả tướng, Tiết chế các doanh thủy bộ, nắm toàn quyền quân sự, tước Tây quốc công, lập phủ Khiêm Định làm trung tâm điều hành quân chính. Từ đó, mọi việc quốc gia đại sự đều giao cho Trịnh Tạc quyết đoán.
Sự kiện này khiến hai em ông là Hoa quận công Trịnh Sầm và Phù quận công Trịnh Lịch sinh lòng bất mãn. Tháng 6 cùng năm, lợi dụng khi chúa Trịnh Tráng lâm bệnh, hai người bí mật khởi loạn, kéo quân định đoạt ngôi vị. Trịnh Tạc đem quân đánh dẹp nhanh chóng, bắt được hai em đem về kinh xử tử, dẹp yên nội loạn, củng cố vững chắc quyền kế thừa. Đến năm 1657, khi Trịnh Tráng qua đời, Trịnh Tạc chính thức kế vị, trở thành vị chúa Trịnh thứ ba.
Sự nghiệp
Sau khi chúa Trịnh Tráng qua đời, con trưởng là Trịnh Tạc được tôn lên kế vị, tuy nhiên, nội bộ họ Trịnh chưa yên, người con thứ là Trịnh Toàn, khi ấy đang trấn thủ Nghệ An, được nhiều tướng sĩ và binh lính mến phục, thanh thế lừng lẫy. Trịnh Tạc vốn nghi kỵ và lo sợ, ngầm sinh lòng ghen ghét. Ông bèn sai con trưởng là Phú quận công Trịnh Căn giả tiếng đi giúp Trịnh Toàn, nhưng thực chất là để giám sát. Đồng thời sai thêm con thứ là Thọ quận công Trịnh Lệ, Vũ quận công Trịnh Đống, cùng các tướng Phan Hưng Tạo, Trần Văn Tuyển, Phùng Viết Thu làm đốc thị, tiến quân qua phía nam sông Lam.
Trịnh Toàn nghe tin, trong lòng bất an, bèn lui quân về An Trường, còn Trịnh Căn đóng ở Phù Long. Trịnh Tạc sai sứ đến Nghệ An trách cứ Toàn về tội “cha chết mà không về để tang”, rồi truyền lệnh triệu về kinh. Bấy giờ, nhiều tướng dưới quyền Toàn hoảng sợ, sang hàng quân Nguyễn. Trịnh Toàn dao động, đến hỏi ý Trịnh Căn. Căn giả vờ khuyên Toàn nên về kinh chịu tội để được dung tha. Toàn tin lời, trở về Thăng Long. Khi đến nơi, Trịnh Tạc lập tức buộc tội mưu phản, tống giam vào ngục, khép kín cánh cửa tranh chấp trong họ. Từ đó, Trịnh Tạc củng cố trọn quyền trong phủ chúa, nắm giữ thực quyền cai trị cả triều đình.
Chiến tranh với họ Nguyễn
Thời điểm Trịnh Tạc lên ngôi, chiến tranh Trịnh – Nguyễn đang vào giai đoạn khốc liệt. Quân Nguyễn vừa bắc tiến, chiếm bảy huyện phía nam sông Lam, đe dọa trực tiếp đến Nghệ An và Thanh Hóa.
Tháng 6 năm 1658, quan lang Công Cẩn ở sách Trọng Hợp nổi dậy theo chúa Nguyễn, song bị Trịnh Tạc nhanh chóng dẹp yên. Hai bên giằng co suốt các năm 1658 – 1659, nhưng không bên nào giành ưu thế rõ rệt. Nguyễn Hữu Dật của Đàng Trong tìm cách liên kết với các thế lực chống Trịnh ở miền Bắc như Phạm Hữu Lễ (Sơn Tây), họ Mạc (Cao Bằng), họ Vũ (Tuyên Quang – Chúa Bầu), nhằm tạo thế “nội công ngoại kích”. Trịnh Tạc sớm phát hiện âm mưu này nên thay vì đem quân đánh, ông dùng mưu kế dụ Phạm Hữu Lễ vào tròng rồi giết chết, khiến các phe cánh còn lại hoang mang không dám hành động. Quân Nguyễn vì mất nội ứng cũng phải tạm lui.
Sau đó, Trịnh Tạc quyết định tăng quân cho chiến trường phía nam. Nhờ viện binh của chúa, đến cuối năm 1660, Trịnh Căn đại phá quân Nguyễn, giành lại toàn bộ bảy huyện phía nam sông Lam và vùng Bắc Bố Chính.
Mùa đông năm 1661, Trịnh Tạc thân chinh cùng vua Lê Thần Tông ra mặt trận, chuẩn bị tiến công quy mô lớn. Tuy nhiên, quân Nguyễn chống trả quyết liệt, giết tướng Hoan Trung. Đến tháng 3 năm 1662, Trịnh Căn thua trận, Trịnh Tạc đành lui quân, chấm dứt lần giao tranh thứ sáu giữa hai họ.
Sau mười năm đình chiến, đến năm 1672, ông lại phát động chiến dịch mới. Trịnh Căn dẫn 3 vạn quân tấn công Nam Bố Chính, song Nguyễn Hữu Dật giữ vững lũy Trấn Ninh. Trận chiến kéo dài trong giá rét, quân Trịnh suy yếu, Trịnh Căn lại mắc bệnh nặng. Trịnh Tạc buộc phải rút quân, kết thúc đợt giao tranh cuối cùng giữa hai họ Trịnh – Nguyễn. Từ đó, hai bên chính thức đình chiến hơn một thế kỷ, lấy sông Gianh làm ranh giới phân chia Đàng Trong – Đàng Ngoài.
Dẹp yên phương Bắc
Sau khi yên mặt Nam, Trịnh Tạc quay lên Bắc Hà, lo dẹp loạn họ Mạc và các thế lực cát cứ. Họ Mạc, từ sau khi bị đánh bại thời Bình An vương Trịnh Tùng, vẫn cố thủ ở Cao Bằng, nhờ nhà Minh che chở. Đến thời Trịnh Tráng, họ nhiều lần quấy phá biên giới, song chưa bị diệt.
Năm 1661, khi quân Trịnh vừa thua Nguyễn, Mạc Kính Vũ lại nổi dậy ở Thất Tuyền. Trịnh Tạc sai Trịnh Kiền và Phùng Viết Tu đi đánh, khiến họ Mạc phải rút lui. Năm 1666, Kính Vũ giết Thông quận công Lê Sĩ Trí, Trịnh Tạc lập tức sai Trịnh Đống và Lê Thì Hiến đem quân tiến đánh Cao Bằng, buộc Kính Vũ phải bỏ trốn sang nhà Thanh.
Năm 1667, Trịnh Tạc thân chinh đem đại quân, giao Trịnh Căn làm tổng chỉ huy, cùng các tướng Đinh Văn Tả, Lê Thì Hiến, Hồ Sĩ Dương tiến công. Kính Vũ thua, chạy sang Long Châu. Đến năm 1669, nhà Thanh gửi sứ sang, ép Đại Việt trả lại Cao Bằng cho họ Mạc. Trịnh Tạc bất đắc dĩ phải thuận theo, nói: “Thờ nước lớn, phải kính cẩn nghe mệnh”.
Tuy vậy, đến năm 1677, khi nhà Thanh diệt Ngô Tam Quế và không còn bảo hộ Mạc Kính Vũ, Trịnh Tạc nhân cơ hội phát binh, sai Đinh Văn Tả đánh Cao Bằng. Tháng 8 năm ấy, quân Trịnh chiếm được toàn tỉnh, bắt được tàn quân họ Mạc. Đến năm 1683, Mạc Kính Vũ bị nhà Thanh trao trả, Đại Việt chính thức dẹp yên họ Mạc sau hơn 90 năm tồn tại.
Chính trị và xã hội
Tháng 9 năm 1658, vua Lê Thần Tông phong Trịnh Tạc làm Đại nguyên soái, Chưởng quốc chính Thượng sư Tây vương, xác lập quyền lực tuyệt đối cho phủ chúa. Sau chiến thắng năm 1660, ông phong cho con là Trịnh Căn làm Nghi quốc công, giao toàn quyền binh chính, chuẩn bị cho việc kế vị.
Trịnh Tạc tổ chức lại bộ máy hành chính: lập thêm quan Tham tụng, Bồi tụng, Chưởng phủ sự, Thự phủ sự để điều hành triều chính; quy định nghi chế về triều phục, lễ nghi triều yết vua và chúa. Ông cho định lại chế độ thuế khóa, lập “phép khoán đinh” và “bình lệ”, quy định rõ từng làng nộp thuế theo số dân nhất định, không thay đổi hàng năm.
Mùa thu năm 1662, chúa ban 47 điều giáo hóa, bắt các làng xã treo bảng và đọc công khai trong các buổi họp dân để răn dạy. Đồng thời, ông cấm quan lại không được lập trang trại nơi mình cai quản, nhằm ngăn việc cướp ruộng đất, bóc lột dân.
Tuy nhiên, Trịnh Tạc cũng ngày càng chuyên quyền, năm 1664, ông ép vua Lê cho mình vào chầu không phải lạy, tờ tấu không cần xưng tên, chỗ ngồi đặt ngang vua. Cùng năm ấy, ép vua lập con gái ông là Trịnh Thị Ngọc Áng làm hoàng hậu.
Năm 1665, ông sai Phạm Công Trứ biên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư gồm 23 quyển, đến năm 1676 giao Hồ Sĩ Dương chép tiếp. Sau đó, năm 1681, Lê Hi và Nguyễn Quý Đức biên soạn phần nối dài từ thời Huyền Tông đến Gia Tông.
Từ năm 1674, Trịnh Tạc dần trao quyền cho con là Trịnh Căn, phong làm Định Nam vương, cho tự xưng Phó vương. Ông tiếp tục củng cố thể chế, mở rộng thi Hương ở nhiều nơi, chỉnh lý phép học. Dưới triều ông, văn hóa giáo dục dần phục hưng sau nhiều năm chiến loạn.
Gia quyến
Cha mẹ
- Cha là Đô nguyên soái Chưởng quốc chính Minh vương Trịnh Tráng (1577 – 1657)
- Mẹ là Vương phi Lại Thị Ngọc Trân, người Thanh Hóa, xuất thân danh giá, nức tiếng đoan trang, là bậc mẫu nghi trong phủ chúa.
Chính thất: Trịnh Thị Ngọc Lung, thụy hiệu Từ Hậu, người làng Sài Sơn, huyện Vĩnh Phúc, trấn Thanh Hóa. Bà là con gái của Thái tể Quảng quận công Trịnh Vĩnh Phúc, mẹ là Nguyễn Thị, con gái của Thái tể Quỳnh Quốc công Nguyễn Mậu Nghị, người huyện Lôi Dương. Bà Ngọc Lung nổi tiếng là người đôn hậu, nhân từ, có công lớn trong việc nuôi dưỡng hai vị là Lê Gia Tông và Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn từ thuở nhỏ, chăm sóc như con ruột, khiến người trong ngoài phủ đều kính trọng. Sau khi vua Gia Tông qua đời, bà đến thăm viếng và khóc thương như chính mất đứa con thân sinh của mình. Bà mất ngày mùng 5 tháng 9, thọ 94 tuổi, được tôn làm Quốc Thái mẫu, an táng tại Tôn lăng, làng Nguyệt Áng, huyện Lôi Dương.
Thứ thất
- Thái phi Vũ Thị Ngọc Lễ, thụy hiệu Từ Tá, người xã Thạch Lỗi, huyện Cẩm Giàng, trấn Hải Dương, con gái của Hồng Nhân Công. Bà sinh ra Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn. Mất ngày 22 tháng 7, táng tại sứ Mạnh Sơn.
- Tây vương phi Vũ Thị Ngọc Tấn, người làng La Miên, huyện Quỳnh Côi, trấn Sơn Nam Hạ (nay là thôn La Vân, xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình).
- Chiêu nghi Vũ Thị Ngọc Huấn (1604 – 1686), người Minh Cảo, huyện Từ Liêm, con nuôi của Thượng tướng quân, Tham đốc Đồng tri Vũ Tất Phù. Bà sinh quận chúa Ngọc Cang.
- Chiêu nghi Mai Thị Ngọc Tiến, ít tài liệu ghi chép, song được biết là người hiền đức, giữ trọng trách trong nội cung.
- Trần Thị Thoi (còn gọi là Trần Thị Bột), được gia tặng tước Minh Châu công chúa, hiệu Riệu Ngọc, thụy Đoan Trang. Bà mất ngày 28 tháng 2, táng tại xã Thụy Khuê, huyện An Sơn.
- Chiêu nghi Đặng Thị Cúc (1610 – 1668), thụy Diệu Hộ, người làng Ổi Lỗi, xã Hoa Xá, huyện Gia Phúc (nay thuộc thôn Phương Khê, xã Hồng Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương). Cha bà là Tả hiệu điểm Văn Xá hầu Đặng Quang Tiến, mẹ là Bùi Thị Tính.
- Nội thị cung tần Lương Thị Ngọc Vinh, hiệu Thái Chân, pháp danh Tĩnh Huệ Tiên Cung Khánh Quang Bồ tát, người xã An Hòa, huyện Ý Yên, phủ Nghĩa Hưng. Bà xuất thân trong gia đình có nghề ca hát, sau được tuyển vào nội cung, rồi trở thành cung tần của Tây Định vương, sinh cho chúa một quận chúa.
Con trai
- Mậu quận công Trịnh Đức.
- Thiệu công Trịnh Úc.
- Thiếu bảo Đường quận công Trịnh Lương
- Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn (1633 – 1709): con của Thái phi Vũ Thị Ngọc Lễ, kế nghiệp làm chúa, trị vì Đàng Ngoài trong giai đoạn ổn định và thịnh trị.
- Lý Trung công, sau được gia phong Thái vương Trịnh Đống (?-1681).
- Điện Nghĩa công Trịnh Ốc (?-1681).
- Đại tư không Phái quận công Trịnh Thâu (?-1700).
- Đề đốc Diệu quận công Trịnh Ký.
- Thiếu bảo Thiều quận công Trịnh Pháp.
- Quốc lão Tuyên Trung công, sau tiến phong Tuyên Mậu công Trịnh Quán.
- Liêu quân công Trịnh Phức và Trà quân công Trịnh Cầm đều phạm tội nghịch, bị tước tịch, con cháu phải cải sang họ mẹ.
Con gái
- Trịnh Thị Ngọc Thuyên (1626 – 1707): trưởng nữ, mẹ là Thái phi Vũ Thị Ngọc Lễ, chị ruột Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn. Bà được tôn phong Ôn Cung Đoan Tĩnh Thái trưởng Quận thượng chúa, thụy Từ Đức, gả cho Yên quận công Đặng Tiến Thự (1631 – 1698).
- Trịnh Thị Ngọc (?-1648): cũng là con của Thái phi Vũ Thị Ngọc Lễ, chị cùng mẹ với Trịnh Căn. Bà mất sớm, trước kia là vợ của Đặng Tiến Thự; sau khi bà mất, chúa gả người chị là Ngọc Thuyên cho ông Thự làm kế thất.
- Trịnh Thị Ngọc Án: mẹ là Chiêu nghi Vũ Thị Ngọc Huấn.
- Trịnh Thị Ngọc Cang: cũng là con của Chiêu nghi Vũ Thị Ngọc Huấn.
- Trịnh Thị Ngọc Áng: trở thành Hoàng hậu của vua Lê Hy Tông, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì mối liên hệ giữa triều Lê và phủ Chúa.
- Trịnh Thị Ngọc Sanh: gả cho Nguyễn Đức Trung, thuộc dòng quý tộc danh giá.
Cuối đời – thờ phụng
Năm 1682, khi tuổi đã cao, Trịnh Tạc vẫn minh mẫn, ông cách chức Tham tụng Nguyễn Mậu Tài theo lời can gián của quan Thanh Hoa Nguyễn Văn Đương, để tỏ ra biết nghe lời trung trực.
Tháng 8 âm lịch 1682 (tức 24 tháng 9 dương lịch), Trịnh Tạc qua đời, hưởng thọ 77 tuổi. Ông nắm quyền suốt 25 năm, trải qua bốn đời vua Lê: Thần Tông, Huyền Tông, Gia Tông và Hy Tông. Sau khi mất, ông được tôn là Hoằng Tổ, thụy Thông Hiến Dương vương, an táng tại Vạn Lại.
Nhận định – đánh giá
Tây Định vương Trịnh Tạc là một trong những vị chúa có tầm ảnh hưởng lớn của họ Trịnh trong giai đoạn trung kỳ thời Lê Trung hưng. Ông kế nghiệp cơ đồ cha là Minh vương Trịnh Tráng, giữa lúc thế nước rối ren, trong ngoài đều có biến: nội bộ phủ chúa có mầm hiềm khích huynh đệ, bên ngoài thì chiến tranh Trịnh – Nguyễn vẫn chưa dứt, phương Bắc lại bị nhà Mạc ở Cao Bằng quấy rối.
Trịnh Tạc được ghi nhận là người quyết đoán, cứng rắn nhưng thận trọng, có tài thao lược và nhãn quan chính trị sáng suốt. Ở ông kết hợp giữa tính thực dụng của nhà chính trị và sự nghiêm khắc của người quân nhân. Trước những cuộc binh biến nội bộ (như vụ Trịnh Toàn), ông xử lý dứt khoát nhằm tránh loạn trong phủ; trước thế công của quân Nguyễn, ông chủ trương “thủ để trị”, vừa phòng bị chặt chẽ, vừa củng cố lực lượng nhằm tránh tổn thất lâu dài. Mặc dù không giành được thắng lợi quyết định trong chiến tranh Nam – Bắc, song dưới thời ông, ranh giới chính trị giữa hai miền được định hình ổn định, đất nước bước vào giai đoạn cân bằng và hòa hoãn sau nhiều thập kỷ binh đao.
Về đối nội, Trịnh Tạc đặc biệt chú trọng củng cố nền chính trị trung ương, khôi phục uy tín triều đình Lê, chấn chỉnh hệ thống quan lại, sắp xếp lại cơ cấu phủ chúa và triều đình theo hướng phân minh, vua Lê vẫn là chính thống, nhưng phủ chúa nắm toàn bộ quyền quân chính. Cơ chế “vua trị văn, chúa trị võ” được định hình rõ ràng, trở thành mô hình hành chính đặc trưng của thời Lê Trung hưng. Dưới triều ông, việc tuyển bổ quan lại, chỉnh đốn phép nước được tiến hành khá nghiêm ngặt, góp phần đưa triều cục trở lại trật tự sau nhiều năm hỗn loạn.
Trịnh Tạc cũng quan tâm đến giáo dục và Phật giáo, thường đích thân ban chiếu tu sửa chùa chiền, khuyến khích sĩ tử học hành, mở mang Nho học. Các công trình tôn giáo và văn hóa ở kinh thành Đông Kinh và vùng Thanh – Nghệ được trùng tu, mở rộng, góp phần ổn định đời sống tinh thần nhân dân. Ở phương diện này, ông thể hiện tính ôn hòa và nhân hậu trong quản trị, khác với sự khắc nghiệt của một số chúa trước.
Tuy nhiên, sử sách cũng phê phán rằng Trịnh Tạc có lúc đa nghi, nghiêm khắc đến hà khắc, nhất là trong việc đối xử với em là Trịnh Toàn. Dẫu vậy, xét trong bối cảnh quyền lực tập trung và nguy cơ loạn lạc thường trực, hành động của ông phản ánh một ý thức chính trị tỉnh táo, nhằm bảo vệ cơ nghiệp họ Trịnh khỏi sự chia rẽ nội tộc.
Nhìn tổng thể, Trịnh Tạc là một nhà chính trị thực dụng, điềm tĩnh, kiên trì và có viễn kiến. Ông không phải là người gây dựng quyền lực từ đầu như Trịnh Tùng, cũng không có công lớn chấn hưng văn trị như Trịnh Căn, nhưng lại là người giữ cho cơ nghiệp họ Trịnh vượt qua giai đoạn hiểm nguy nhất, tạo tiền đề cho một thời kỳ hưng thịnh và ổn định kéo dài hơn nửa thế kỷ sau đó.
Dù không thể tiến công thành công vào Đàng Trong, Trịnh Tạc đã chấm dứt giai đoạn chiến tranh ác liệt giữa hai miền, thiết lập thế cân bằng quyền lực Trịnh – Nguyễn, khiến đất nước tuy chia cắt nhưng ít biến động lớn. Chính từ thời ông, giới tuyến sông Gianh được ngầm định như một biên giới tự nhiên giữa hai chính thể, duy trì gần 120 năm.
Ông chỉnh đốn hàng ngũ quan lại, đặt lại thể lệ bổ nhiệm, thưởng phạt minh bạch hơn, đồng thời quan tâm đến việc thuế khóa, quân lương, hậu cần. Chính sách này giúp kinh tế miền Bắc phục hồi sau chiến tranh, đời sống dân chúng được cải thiện.
Trịnh Tạc cho trùng tu nhiều chùa chiền, mở mang học điền, khuyến khích sĩ tử học Nho học và Lý học. Ông trọng lễ nghĩa, thường dùng lễ nhạc để giáo hóa nhân dân, tạo nên khí cốt văn trị cho thời kỳ sau. Một số di tích tôn giáo và kiến trúc cung đình ở Thăng Long, Thanh Hóa, Nghệ An hiện còn mang dấu ấn thời ông.
Di sản chính trị lớn nhất mà Trịnh Tạc để lại là một triều cục vững vàng, quân đội tinh nhuệ, nội trị ổn định và nền kinh tế từng bước phục hồi. Chính từ nền tảng này mà người con trai ông Chiêu Tổ Khang vương Trịnh Căn có thể mở ra thời kỳ cực thịnh của phủ chúa, kéo dài gần 40 năm thanh bình.
Tài liệu tham khảo
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên,… (1993), Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học Xã hội.
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Nhiều tác giả (2018), Đại Việt sử ký tục biên, Ngô Thế Long; Nguyễn Kim Hưng biên dịch, Nxb Hồng Đức.
- Ngô Thì Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Nxb Văn Sử.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Trịnh Như Tấu (1933), Trịnh gia chính phả, Nxb Nhật Nam.