Niên đại: Triều vua Khải Định
Chất liệu: Bê tông cốt thép / Xi măng đá rửa (thay thế cho chất liệu đá thanh truyền thống)
Kích thước: Tỷ lệ kích thước nhân thể tương đương người thật (tỷ lệ 1:1); chiều cao khoảng 1,55 – 1,60 m (tương ứng vóc dáng thực tế của người Việt đầu thế kỷ XX)|
Loại hình: Tượng tròn điêu khắc lăng mộ
Nơi phát hiện: Sân Bái đình (tầng thứ ba), Lăng Khải Định (Ứng Lăng), núi Châu Chữ (Châu Ê), xã Thủy Bằng, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Đơn vị lưu giữ: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế
Giới thiệu hiện vật
Hiện vật là cặp tượng quan võ đúc khối đứng nghiêm trang trong hàng tượng Bái đình, đối xứng trục thần đạo cùng với hàng tượng quan văn, lính túc vệ, voi và ngựa chiến. Khác với quy cách tạc tượng đá ước lệ của các lăng tiền triều, tượng quan võ ở lăng Khải Định được tạo tác bằng kỹ thuật đúc bê tông xi măng cốt thép hiện đại kết hợp nghệ thuật đắp vữa truyền thống.
Tượng được tạc ở tư thế đứng thẳng đĩnh đạc, hai tay giữ chặt đốc gươm (hoặc đao lệnh) cắm thẳng xuống đất trước bụng theo quy cách võ quan túc trực hộ giá. Đầu đội mũ hổ đầu (hoặc mũ võ quan thất phẩm/bát phẩm) có viền hoa văn sắc nét, thân khoác nhung phục/chiến bào chạm nổi chi tiết các lớp vảy giáp, hộ tâm phiến và đai lưng thắt nút mực thước, chân đi ủng mũi cong.
Diện mạo tượng mang tính tả thực rất cao: gương mặt thể hiện thần thái quắc thước, mắt mở to cương nghị, hàng ria mép tỉa tỉ mỉ, gò má và nếp nhăn sinh động, lột tả chính xác diện mạo một viên tướng trung niên Đại Nam đầu thế kỷ XX. Tỷ lệ cơ thể được mô phỏng theo kích thước người thật, không phóng đại uy quyền thần thánh mà nhấn mạnh sự chân thực, gần gũi.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Là chứng tích vật chất độc đáo phản ánh giai đoạn giao thời Đông – Tây sâu sắc của lịch sử Việt Nam dưới thời vua Khải Định. Hàng tượng quan võ tại sân Bái đình ghi dấu sự chuyển biến của thể chế cung đình triều Nguyễn trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, phản ánh chân thực nhân dạng, quân phục và vũ khí của đội ngũ võ quan triều đình trước khi chế độ phong kiến chấm dứt.
Giá trị văn hóa: Tượng trưng cho thiết chế phẩm trật “Văn hữu – Võ tả” trong nghi lễ thiết triều và hộ tống đấng quân vương sang thế giới bên kia; thể hiện quan niệm “sự tử như sự sinh” (phục vụ người chết như lúc còn sống) của hoàng gia triều Nguyễn, bảo lưu hệ thống biểu tượng trung quân và tinh thần thượng võ dân tộc.
Giá trị nghệ thuật: Đánh dấu bước ngoặt cách tân táo bạo trong nghệ thuật điêu khắc lăng tẩm Việt Nam. Sự kết hợp giữa vật liệu bê tông Tây học với tư duy tạo hình tả thực giải phẫu cơ thể đã phá vỡ tính ước lệ, cứng nhắc của tượng đá truyền thống, tạo nên một trường phái mỹ thuật kiến trúc độc bản mang phong cách “Tân cổ điển Á – Âu” riêng biệt của triều Khải Định.
Giá trị độc đáo: Là cụm tượng lăng tẩm duy nhất trong hệ thống lăng vua triều Nguyễn đạt tỷ lệ chuẩn xác 1:1 theo tầm vóc thực của người Việt bản địa đương thời; nằm trong tổng thể kiến trúc Ứng Lăng được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới, hiện vật mang giá trị nghiên cứu đặc biệt đối với lịch sử quân sự, nhân chủng học và mỹ thuật điêu khắc đầu thế kỷ XX.
Nguồn ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế