Đoàn Thượng (1181-1228)

Đoàn Thượng (1181-1228)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Đoàn Thượng là hào trưởng vùng Hồng, theo Đại Việt sử ký toàn thư ông có cùng vú nuôi với vua Lý Huệ Tông. Ông trưởng thành trong bối cảnh triều Lý suy yếu, vua Lý Cao Tông ham chơi, bóc lột dân chúng khiến nhân tâm ly tán và nhiều cuộc nổi dậy nổ ra. Lợi dụng thời thế ấy, Đoàn Thượng cũng dựng cờ chống triều đình tại quê nhà.

Vùng Hồng (Hồng Châu) bao gồm các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Thanh Miện, Gia Lộc, Ninh Giang và Tứ Kỳ thuộc nam Hải Dương ngày nay. Về thời điểm Đoàn Thượng khởi binh, Đại Việt sử lược (thế kỷ XIV) chép năm 1207, Toàn thư lấy mốc 1212.

Tháng 3/1207, Đoàn Thượng và Đoàn Chủ nổi dậy, xây thành đắp lũy. Lý Cao Tông sai nhiều đạo quân do Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di, Trần Hinh và Bảo Trinh hầu chỉ huy tiến đánh. Thế yếu, Đoàn Thượng bí mật đút lót Phạm Du để liên minh và xin Du đứng ra xin tội cho mình.

Đến tháng 10/1208, khi Phạm Du được cử coi quân Nghệ An nhưng lại phản lệnh, triều đình sai Phạm Bỉnh Di đánh dẹp. Du chạy về Hồng Châu hợp lực với Đoàn Thượng và Đoàn Chủ tấn công Đằng Châu khiến Bỉnh Di thất bại. Tuy nhiên tháng 2/1209, Bỉnh Di phản công, đánh bại Du và tịch thu tài sản của ông ta.

Tháng 3/1209, Bỉnh Di tiếp tục đánh quân Đoàn Thượng tại Vệ Kiều; Đoàn Chủ sa vào bùn lầy và bị tướng Hà Văn Lôi giết. Tháng 4 cùng năm, quân Đoàn Thượng lại bị đánh tan. Dù Đoàn Thượng suy yếu, nhưng sự u mê của Lý Cao Tông và việc tin dùng gian thần Phạm Du khiến triều Lý mỗi lúc một lụn bại hơn.

Làm quan nhà Lý

Phạm Du bí mật đút lót quan lại trong triều, vu cáo rằng Bỉnh Di tàn ác và xin được về kinh chờ xử. Vua Cao Tông tin lời, sai Trần Hinh triệu cả Phạm Du và Bỉnh Di vào triều. Du về trước nên lấy lòng được vua; khi Bỉnh Di tới, ông liền bị bắt cùng con là Phụ.

Nghe tin chủ bị hại, tướng Quách Bốc dẫn quân phá cửa Đại Thanh, xông vào cung để cứu. Phạm Du và em là Phạm Kinh giết Bỉnh Di và con ông rồi hộ tống vua Cao Tông chạy trốn. Quách Bốc liền lập hoàng tử Thầm lên ngôi. Cao Tông chạy đến Tam Nông (Phú Thọ) nương nhờ thủ lĩnh miền núi Hà Vạn.

Trong khi đó, Thái tử Sảm cùng mẹ và hai em gái chạy về Hải Ấp (Thái Bình), được Trần Lý và Tô Trung Từ đón rước và tôn làm Thắng Vương. Thấy con gái Trần Lý là Trần Thị Dung xinh đẹp, Sảm lấy làm vợ; Trần Lý được phong Minh Tự, Tô Trung Từ làm Điện tiền Chỉ huy sứ.

Khi biết Sảm tự lập triều đình và phong tước cho họ Trần, Cao Tông ở Quy Hóa định dẹp, bèn sai Phạm Du đi liên lạc với Đoàn Thượng. Nhưng Du lại tư thông với công chúa Thiên Cực, trễ hẹn khiến Đoàn Thượng rút lui. Sau đó Du bị quân hào trưởng Bắc Giang là Nguyễn Nậu và Nguyễn Nải bắt và giết tại Ma Lãng.

Trần Lý và Tô Trung Từ nhân đó tiến quân dẹp Quách Bốc, nhưng Trần Lý tử trận; Tô Trung Từ đưa vua Cao Tông trở lại kinh. Sau khi Cao Tông mất, Sảm lên ngôi, hiệu Lý Huệ Tông, và Trung Từ trở thành quyền thần. Đến năm 1211, Trung Từ và nhiều đại thần bị giết. Cháu ông là Trần Tự Khánh đem quân về kinh, lo việc an táng.

Đoàn Thượng và Đoàn Văn Lôi nhân cơ hội dèm pha rằng Tự Khánh có ý phế lập. Huệ Tông tin theo, ra lệnh đánh Tự Khánh và giáng Nguyên phi Trần Thị Dung xuống làm Ngự nữ, đồng thời phong Đoàn Thượng tước hầu để khuyến khích.

Đoàn Thượng đem quân đánh họ Trần ở ải Hoàng Điểm; quân Trần do Lại Linh và Nguyễn Đường chỉ huy ứng chiến, Nguyễn Đường bị bắt, Tự Khánh thua trận và phá đê rút về, khiến dân Khoái Châu nghi ngờ, theo Đoàn Thượng.

Tuy nhiên, Tự Khánh là tướng giỏi. Sau đó, ông hai lần đánh bại quân của Đoàn Ma Lôi tại Đội Sơn, kiểm soát được vùng Lý Nhân và tìm cách liên minh với hào trưởng Nguyễn Tự để chống họ Đoàn.

Năm 1213, Đoàn Thượng phối hợp quân triều đình giao chiến với Tự Khánh. Do quân họ Trần mạnh và có nhiều tướng tài, trong khi vua Huệ Tông và Thái sư Đàm Dĩ Mông yếu kém chỉ huy, quân triều nhanh chóng thất bại. Cánh quân của Đoàn Cấm và Vũ Hốt bị Nguyễn Nộn đánh tan. Huệ Tông chạy lên Lạng châu, Đoàn Thượng rút về vùng Hồng.

Chống lại họ Trần

Năm 1214, anh em họ Đoàn tấn công vùng Bắc Giang do tướng Nguyễn Nộn của Trần Tự Khánh trấn giữ. Hai bên giao chiến ở núi Đông Cứu (Gia Bình, Bắc Ninh), Nguyễn Nộn giết được Đoàn Nguyễn. Tuy nhiên, ngay lúc đó nội bộ phe Tự Khánh lại rối loạn: tướng Đỗ Bị ở Cam Giá (Sơn Tây) nổi dậy, tách vùng này khỏi ảnh hưởng của họ Trần; đồng thời chính Nguyễn Nộn sau khi thắng họ Đoàn cũng phản lại Tự Khánh, lập thế lực riêng ở Bắc Giang. Sự cát cứ của Đỗ Bị và Nguyễn Nộn khiến Thăng Long bị uy hiếp, buộc Tự Khánh phải đốt kinh thành rồi rút về Lý Nhân (Hà Nam).

Dù vậy, lực lượng họ Trần vẫn mạnh lên sau nhiều biến cố, khiến vua Huệ Tông ngày càng lệ thuộc vào Trần Tự Khánh. Ông lần lượt đánh dẹp nhiều thế lực chống đối, nhưng Nguyễn Nộn vẫn tiếp tục cát cứ ở Bắc Giang.

Năm 1216, Huệ Tông phong Trần thị – người họ Trần – làm Thuận Trinh phu nhân. Đàm Thái hậu vốn ghét họ Trần nên nhiều lần tìm cách làm hại bà. Trước sức ép này, Huệ Tông cùng phu nhân lén bỏ đi sang doanh trại của Tự Khánh ở bãi Cửu Liên để nương nhờ. Tự Khánh sau đó phế vua mới Lý Nguyên vương, đưa Huệ Tông trở lại ngôi và tiếp tục bình định các thế lực như Nguyễn Nộn, Nguyễn Bát, Đoàn Văn Lôi, Đoàn Thượng và Hà Cao.

Năm 1218, Trần Thừa chỉ huy thủy quân đánh Nguyễn Nộn, cho mở đê để nước tràn vào các thái ấp rồi theo đường nước mà tấn công, khiến Nộn đại bại, phải chạy về Phù Ninh. Để giữ yên vùng Hồng Châu, Trần Tự Khánh còn gả em gái Trần Tam Nương cho Hồng hầu Đoàn Văn Lôi.

Năm 1217, Đoàn Thượng tạm quy phục triều đình và được phong vương. Sau khi Trần Tự Khánh chết (1223), Trần Thủ Độ lên nắm quyền, tiếp tục thao túng triều Lý và chuẩn bị đưa cháu là Trần Cảnh lên ngôi, mở đầu vương triều Trần.

Bị hại

Trần Thủ Độ đem quân đánh Đoàn Thượng nhưng không thắng nên phải hứa hẹn phong tước. Ông định tổ chức lễ minh thệ nhưng Đoàn Thượng không đến. Năm 1228, Thủ Độ bí mật liên kết với Nguyễn Nộn, hẹn ba bên gặp tại Đồng Đao. Đoàn Thượng mất cảnh giác, đi một mình đến nơi và bị quân Nguyễn Nộn phục kích sát hại. Con ông là Đoàn Văn đem gia quyến theo hàng Nộn. Tuy nhiên tháng 3 năm sau, Nộn cũng qua đời. Từ đây, toàn bộ đất nước quy về tay họ Trần.

Thờ tự

Theo Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên thì Đoàn Thượng là một trung thần của nhà Lý, Anh liệt Chinh khí quân. Sau khi ông mất, được nhiều đời vua Nhà Trần, Nhà Lê, Nhà Nguyễn sắc phong là Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng Thượng đẳng thần.

Trong dân gian gọi Ông là Đức Thánh Đông Hải Đại vương Đoàn Thượng, có đền thờ ở rất nhiều nơi. Đền thờ chính ở thôn Thung Độ, xã Trường Tân, thành phố Hải Phòng (là quê của ông) và ở làng Yên Phú, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên (nơi ông hóa (chết).

Tại thôn Bần – Yên Nhân nay là phường Bần Yên Nhân, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên (là nơi ông hóa) có lập đền thờ ông. Ngài thường hay linh ứng trợ giúp dân chúng, dân chúng rất ghi ơn Ngài.Đương thời, Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm trong một lần đến thăm và yết lễ tại đây đã cảm tác đề tặng một câu đối, sau được chạm khắc ở đền thờ Ngài. Câu đối này được viết bằng chữ Hán như sau:

Thanh Miếu tuế thời hương, lăng cốc bất khai canh hoàn cục

Hồng Châu kim cổ lộ, cương thường sức kởi vãng lai nhân.

Bản dịch của Đoàn Trọng Hân như sau:

Chí thời Thanh Miếu ngát hương, Thủy Nhật Nguyệt chiếu minh Gương Trung Nghĩa

Kim cổ Hồng Châu qua lại, Khách Vãng Lai trông rõ Cột Cương Thường.

Hàng năm vào ngày 11 tháng 4 âm lịch tại đền thờ Ngài có mở hội, tế lễ. Dân chúng thôn Bần – Yên Nhân, dân làng Yên Phú và khách thập phương xa gần nô nức đi xem hội và yết lễ.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
  5. Hoàng Mạnh Thắng (2009), Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại Hưng Yên, Nghiên cứu Đông Nam À 3/2009.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Doan Thuong (1181–1228)

Background

Doan Thuong was a local chieftain of the Hong region. According to Dai Viet Su Ky Toan Thu, he was raised by the same wet nurse as King Ly Hue Tong. He grew up during a period when the Ly dynasty was in decline: King Ly Cao Tong was indulgent and exploitative, causing public discontent and numerous uprisings. Taking advantage of the situation, Doan Thuong also raised his banner against the court in his homeland.

The Hong region (Hong Chau) comprised present-day Cam Giang, Binh Giang, Thanh Mien, Gia Loc, Ninh Giang, and Tu Ky districts in southern Hai Duong Province. Regarding the time he revolted, Dai Viet Su Luoc (14th century) gives the year 1207, while Toan Thu records 1212.

In March 1207, Doan Thuong and Doan Chu rose in rebellion, building fortifications. Ly Cao Tong sent multiple armies under Dam Di Mong, Pham Binh Di, Tran Hinh, and Bao Trinh Hau to suppress them. Being at a disadvantage, Doan Thuong secretly bribed Pham Du to negotiate an alliance and ask for clemency on his behalf.

In October 1208, Pham Du was appointed Commander of Nghe An but defied royal orders. The court dispatched Pham Binh Di to subdue him. Du fled to Hong Chau and allied with Doan Thuong and Doan Chu to attack Dang Chau, defeating Binh Di. However, in February 1209, Binh Di counterattacked, defeated Du, and confiscated his property.

In March 1209, Binh Di launched another offensive against Doan Thuong’s forces at Ve Kieu; Doan Chu became mired in mud and was killed by General Ha Van Loi. By April, Doan Thuong’s forces were again crushed. Though weakened, Doan Thuong benefited from the continued misconduct of Ly Cao Tong and his reliance on corrupt officials such as Pham Du, which hastened the collapse of the Ly dynasty.

Service under the Ly Dynasty

Pham Du bribed court officials and accused Pham Binh Di of cruelty, petitioning to wait in the capital for judgment. Believing him, Ly Cao Tong sent Tran Hinh to summon both Du and Binh Di. Du arrived first and won the king’s favor; when Binh Di arrived, he and his son Phu were immediately arrested.

Hearing that his commander had been harmed, General Quach Boc stormed the Dai Thanh Gate and entered the palace to rescue him. Pham Du and his brother Pham Kinh killed Binh Di and his son, then escorted King Cao Tong away. Quach Boc enthroned Prince Thom, while Cao Tong fled to Tam Nong (Phu Tho), seeking refuge with the mountain chieftain Ha Van.

Meanwhile, Crown Prince Sam fled with his mother and two sisters to Hai Ap (Thai Binh), where Tran Ly and To Trung Tu welcomed him and proclaimed him Thang Vuong. Sam married Tran Ly’s daughter, Tran Thi Dung; Tran Ly was granted the title Minh Tu, and To Trung Tu was appointed Commander of the Imperial Guards.

Learning that Sam had formed his own court and granted ranks to the Tran clan, Cao Tong—then at Quy Hoa—attempted to suppress him and sent Pham Du to contact Doan Thuong. However, Du secretly consorted with Princess Thien Cuc and missed the appointment, causing Doan Thuong to withdraw. Shortly afterward, Du was captured and killed by the local leaders Nguyen Nau and Nguyen Nai at Ma Lang.

Taking advantage of the situation, Tran Ly and To Trung Tu marched to suppress Quach Boc, but Tran Ly was killed. To Trung Tu then escorted Cao Tong back to the capital. After Cao Tong’s death, Sam ascended the throne as Ly Hue Tong, and To Trung Tu became the dominant power. By 1211, he and several high officials were killed. His nephew, Tran Tu Khanh, marched to the capital to oversee the royal funeral.

Doan Thuong and Doan Van Loi seized the opportunity to slander Tran Tu Khanh, claiming that he sought to depose the king. Believing them, Ly Hue Tong ordered an attack on Tu Khanh, demoted Consort Tran Thi Dung to the rank of Palace Maid, and granted Doan Thuong the title of marquis to encourage him.

Doan Thuong attacked the Tran forces at Hoang Diem Pass. The Tran generals Lai Linh and Nguyen Duong resisted; Nguyen Duong was captured. Tu Khanh was defeated and retreated after breaching the dikes, causing the people of Khoai Chau to distrust him and turn to Doan Thuong.

However, Tu Khanh was an exceptional strategist. He later defeated the forces of Doan Ma Loi twice at Doi Son, seized control of Ly Nhan, and sought an alliance with the chieftain Nguyen Tu to oppose the Doan family.

In 1213, Doan Thuong cooperated with the royal army to fight Tu Khanh. Due to the strength of the Tran forces and their capable generals—while King Hue Tong and Grand Preceptor Dam Di Mong were ineffective commanders—the royal forces collapsed rapidly. The contingents led by Doan Cam and Vu Hot were annihilated by Nguyen Non. Hue Tong fled to Lang Chau, and Doan Thuong withdrew to the Hong region.

Resistance Against the Tran Clan

In 1214, the Doan brothers attacked Bac Giang, then under the control of Tran Tu Khanh’s general Nguyen Non. The two sides clashed at Mount Dong Cuu (Gia Binh, Bac Ninh), where Nguyen Non killed Doan Nguyen. However, internal disturbances soon destabilized the Tran faction: General Do Bi of Cam Gia (Son Tay) revolted and broke away from Tran influence, and Nguyen Non himself rebelled after defeating the Doan brothers, establishing an independent domain in Bac Giang. The uprisings of Do Bi and Nguyen Non threatened Thang Long, forcing Tu Khanh to burn the capital and retreat to Ly Nhan.

Nevertheless, the Tran grew stronger through these upheavals, and King Ly Hue Tong increasingly depended on Tran Tu Khanh. Tu Khanh gradually eliminated many rival powers, though Nguyen Non continued to hold Bac Giang.

In 1216, the king elevated a Tran woman to the rank of Thuan Trinh Lady. Dowager Empress Dam, who despised the Tran, repeatedly attempted to harm her. Under pressure, Hue Tong fled with her to Tu Khanh’s camp at Cuu Lien, seeking protection. Tu Khanh subsequently deposed the newly installed King Ly Nguyen Vuong, restored Hue Tong, and continued to suppress factions including Nguyen Non, Nguyen Bat, Doan Van Loi, Doan Thuong, and Ha Cao.

In 1218, Tran Thua led the navy against Nguyen Non. He ordered the dikes opened to flood the fiefs of Non’s followers, using the waterways to launch a surprise attack that forced Non to flee to Phu Ninh. To stabilize Hong Chau, Tran Tu Khanh also married his sister, Tran Tam Nuong, to Doan Van Loi.

In 1217, Doan Thuong temporarily submitted to the court and was granted the title of prince. After Tran Tu Khanh died in 1223, Tran Thu Do rose to power, manipulating the Ly court and preparing to enthrone his nephew Tran Canh, inaugurating the Tran dynasty. Death

Tran Thu Do launched a campaign against Doan Thuong but failed, and thus promised him noble rank. He planned a ritual oath ceremony, but Doan Thuong did not attend. In 1228, Thu Do secretly allied with Nguyen Non, arranging a three-way meeting at Dong Dao. Lowering his guard, Doan Thuong arrived alone and was ambushed and killed by Nguyen Non’s forces. His son, Doan Van, surrendered with his family to Nguyen Non. However, Nguyen Non died in the third month of the following year. After this, the entire realm fell under Tran control.

Veneration

According to Viet Dien U Linh Tap by Ly Te Xuyen, Doan Thuong was a loyal subject of the Ly dynasty and honored as Anh Liet Chinh Khi Quan. After his death, he received numerous imperial investitures under the Tran, Le, and Nguyen dynasties as Dong Hai Dai Vuong Doan Thuong Thuong Dang Than.

He is venerated in many places under the title Duc Thanh Dong Hai Dai Vuong Doan Thuong. His principal temples are located in Thung Do Village (his birthplace) in Truong Tan Commune, Hai Phong City, and in Yen Phu Village, Yen My District, Hung Yen Province (the place of his death).

In Ban Village, now Ban Yen Nhan Ward of My Hao Town, Hung Yen Province—also the site of his death—he is likewise worshipped. He is believed to frequently manifest spiritual aid to the people, who remain deeply grateful to him. During her visit, the renowned poetess Hong Ha Nu Si Doan Thi Diem composed a couplet honoring him, later engraved at his temple. Written in classical Chinese characters:

青廟歲時香,稜穀不開耕還局
洪州今古路,綱常肅起往來人

Translation by Doan Trong Han:

“At Qing Temple, incense drifts through the seasons;

Sun and Moon illuminate the mirror of loyalty.

Across the ancient roads of Hong Chau,

Wayfarers behold the pillar of moral order.”

Every year on the 11th day of the 4th lunar month, his temples hold a major festival, attracting villagers of Ban–Yen Nhan, the people of Yen Phu, and pilgrims from afar.

References

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
  5. Hoàng Mạnh Thắng (2009), Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại Hưng Yên, Nghiên cứu Đông Nam À 3/2009.

Tiếng Pháp

Doan Thuong (1181–1228)

Origines

Doan Thuong était un chef local de la région de Hong. Selon le Dai Viet su ky toan thu, il partageait la même nourrice que le roi Ly Hue Tong. Il grandit dans un contexte où la dynastie Ly s’affaiblissait fortement : le roi Ly Cao Tong s’adonnait aux plaisirs et accablait le peuple d’impôts, provoquant la perte de confiance de la population et l’éclatement de nombreuses révoltes. Profitant de cette situation, Doan Thuong leva lui aussi l’étendard contre la cour depuis sa terre natale.

La région de Hong (Hong Chau) comprenait les districts de Cam Giang, Binh Giang, Thanh Mien, Gia Loc, Ninh Giang et Tu Ky, correspondant au sud de la province actuelle de Hai Duong. Concernant la date de sa rébellion, le Dai Viet su luoc (XIVᵉ siècle) la situe en 1207, tandis que le Toan thu fixe le début à l’année 1212.

En mars 1207, Doan Thuong et Doan Chu se soulevèrent, construisant fortifications et retranchements. Ly Cao Tong dépêcha plusieurs corps d’armée commandés par Dam Di Mong, Pham Binh Di, Tran Hinh et Bao Trinh hau pour les réprimer. En situation défavorable, Doan Thuong soudoya secrètement Pham Du afin de former une alliance et demanda à celui-ci d’intercéder en sa faveur.

En octobre 1208, Pham Du, nommé à la tête des troupes de Nghe An, refusa d’obéir aux ordres, ce qui conduisit la cour à charger Pham Binh Di de le réprimer. Du se réfugia à Hong Chau et s’allia à Doan Thuong et Doan Chu pour attaquer Dang Chau, provoquant la défaite de Binh Di. Toutefois, en février 1209, Binh Di lança une contre-attaque victorieuse, battit Du et confisqua ses biens.

En mars 1209, Binh Di affronta de nouveau les forces de Doan Thuong à Ve Kieu ; Doan Chu s’enlisa dans les marécages et fut tué par le général Ha Van Loi. En avril, les troupes de Doan Thuong furent de nouveau écrasées. Malgré cet affaiblissement, l’incurie du roi Ly Cao Tong et sa confiance aveugle envers le traître Pham Du précipitèrent davantage la décadence de la dynastie Ly.

Au service de la dynastie Ly

Pham Du soudoya secrètement les mandarins de la cour, accusant faussement Binh Di de cruauté et demandant à être rappelé pour jugement. Ly Cao Tong, le croyant, ordonna à Tran Hinh de convoquer Pham Du et Binh Di à la capitale. Arrivé le premier, Du gagna la faveur du roi ; lorsque Binh Di arriva, il fut immédiatement arrêté avec son fils Phu.

Apprenant que son maître était capturé, le général Quach Boc mena ses troupes à travers la porte Dai Thanh, pénétra dans le palais pour tenter de le sauver. Pham Du et son frère Pham Kinh tuèrent Binh Di et son fils, puis escortèrent le roi Cao Tong dans sa fuite. Quach Boc proclama alors le prince Tham comme nouveau souverain. Quant à Cao Tong, il s’enfuit à Tam Nong (Phu Tho) sous la protection du chef montagnard Ha Van.

Pendant ce temps, le prince héritier Sam, accompagné de sa mère et de ses sœurs, atteignit Hai Ap (Thai Binh), où ils furent accueillis par Tran Ly et To Trung Tu, qui le reconnurent comme Thang Vuong. Sam épousa Tran Thi Dung, fille de Tran Ly ; Tran Ly devint Minh Tu, et To Trung Tu fut nommé Dien tien Chi huy su.

Lorsque Cao Tong apprit que Sam avait établi sa propre cour et concédé des titres aux Tran, il voulut le réprimer depuis Quy Hoa et envoya Pham Du prendre contact avec Doan Thuong. Mais Du, qui entretenait une liaison avec la princesse Thien Cuc, manqua le rendez-vous, obligeant Doan Thuong à se retirer. Du fut ensuite capturé et exécuté à Ma Lang par les chefs locaux Nguyen Nau et Nguyen Nai.

Tran Ly et To Trung Tu saisirent cette opportunité pour vaincre Quach Boc, mais Tran Ly fut tué ; To Trung Tu ramena ensuite Cao Tong à la capitale. À la mort de Cao Tong, Sam monta sur le trône sous le nom de Ly Hue Tong, tandis que To Trung Tu devint le véritable maître du royaume. En 1211, Trung Tu et plusieurs mandarins furent assassinés. Son neveu Tran Tu Khanh marcha aussitôt sur la capitale pour prendre le contrôle.

Doan Thuong et Doan Van Loi profitèrent du chaos pour accuser Tu Khanh de comploter un renversement. Hue Tong les crut et ordonna d’attaquer Tu Khanh, tout en rétrogradant la reine Tran Thi Dung au rang de Ngu nu et en accordant à Doan Thuong le titre de hau.

Doan Thuong combattit les Tran au col de Hoang Diem ; les troupes Tran menées par Lai Linh et Nguyen Duong livrèrent bataille, Nguyen Duong fut capturé, Tu Khanh perdit la bataille et fit rompre les digues pour se retirer, provoquant le mécontentement de la population de Khoai Chau, qui rallia Doan Thuong.

Cependant, Tu Khanh demeurait un excellent stratège. Il vainquit par deux fois les forces de Doan Ma Loi à Doi Son, prit le contrôle de Ly Nhan et tenta d’allier le chef Nguyen Tu contre les Doan.

En 1213, Doan Thuong coopéra avec les troupes de la cour pour affronter Tu Khanh. Les forces Tran, bénéficiant d’un commandement compétent, l’emportèrent rapidement. Les troupes de Doan Cam et Vu Hot furent anéanties par Nguyen Non. Hue Tong s’enfuit vers Lang Chau, tandis que Doan Thuong se retira dans la région de Hong.

Lutte contre les Tran

En 1214, les frères Doan attaquèrent la région de Bac Giang, tenue par le général Nguyen Non, au service de Tran Tu Khanh. Les deux camps s’affrontèrent au mont Dong Cuu (Gia Binh, Bac Ninh), où Nguyen Non tua Doan Nguyen. Mais au même moment, le camp de Tu Khanh fut perturbé : Do Bi, seigneur de Cam Gia (Son Tay), se révolta et établit une zone autonome ; Nguyen Non, malgré sa victoire, se déclara à son tour indépendant et établit son pouvoir à Bac Giang. Cette fragmentation entre Do Bi et Nguyen Non menaça Thang Long, obligeant Tu Khanh à incendier la capitale et à se replier vers Ly Nhan (Ha Nam).

Malgré tout, les Tran consolidèrent progressivement leur pouvoir, rendant Ly Hue Tong de plus en plus dépendant de Tu Khanh. Ce dernier réprima nombre d’adversaires, mais Nguyen Non persista à régner en maître à Bac Giang.

En 1216, Hue Tong fit de Tran Thi, membre du clan Tran, la dame Thuan Trinh. La reine mère Dam, hostile aux Tran, chercha à plusieurs reprises à lui nuire. Sous cette pression, Hue Tong et son épouse s’enfuirent pour rejoindre Tu Khanh dans son camp à Bai Cuu Lien. Tu Khanh détrôna alors le nouveau roi Ly Nguyen Vuong, ramena Hue Tong au pouvoir et continua de pacifier les forces telles que Nguyen Non, Nguyen Bat, Doan Van Loi, Doan Thuong et Ha Cao.

En 1218, Tran Thua dirigea la flotte contre Nguyen Non, fit ouvrir les digues pour inonder les domaines fortifiés, puis attaqua en profitant du courant, infligeant une lourde défaite à Non, qui s’enfuit vers Phu Ninh. Pour stabiliser Hong Chau, Tu Khanh maria sa sœur Tran Tam Nuong au seigneur de Hong, Doan Van Loi.

En 1217, Doan Thuong se rendit temporairement à la cour et reçut le titre de vuong. Après la mort de Tu Khanh (1223), Tran Thu Do prit le contrôle et prépara la montée sur le trône de son neveu Tran Canh, fondateur de la dynastie Tran.

Assassinat

Tran Thu Do lança une campagne contre Doan Thuong mais, incapable de le vaincre, tenta de le gagner en lui promettant un titre. Il projeta une cérémonie de serment solennel, mais Doan Thuong refusa de s’y rendre. En 1228, Thu Do conclut secrètement une alliance avec Nguyen Non et fixa un rendez-vous triangulaire à Dong Dao. Doan Thuong, imprudent, s’y rendit seul et fut assassiné dans une embuscade tendue par les troupes de Nguyen Non. Son fils Doan Van se rallia à Non avec sa famille. Mais celui-ci mourut à son tour en mars de l’année suivante. À partir de ce moment, tout le pays passa sous la domination des Tran.

Culte

Selon le Viet dien u linh tap de Ly Te Xuyen, Doan Thuong fut considéré comme un loyal serviteur de la dynastie Ly, portant le titre honorifique d’Anh liet Chinh khi quan. Après sa mort, il fut plusieurs fois élevé au rang de divinité par les dynasties Tran, Le et Nguyen sous le nom de Dong Hai Dai vuong Doan Thuong Thuong dang than.

Dans la tradition populaire, il est vénéré sous le nom de Duc Thanh Dong Hai Dai vuong Doan Thuong, avec de nombreux temples qui lui sont dédiés. Le temple principal se situe au village Thung Do (commune Truong Tan, ville de Hai Phong), son lieu natal, et au village Yen Phu (district Yen My, province de Hung Yen), où il mourut.

À Ban – Yen Nhan (actuellement phuong Ban Yen Nhan, My Hao, Hung Yen), lieu de sa mort, un temple lui est également consacré. Il est réputé pour ses miracles et la population lui manifeste une profonde gratitude. À son époque, la poétesse Hong Ha Doan Thi Diem, lors d’une visite au temple, composa une distique en caractères chinois, aujourd’hui gravée dans le sanctuaire :

Thanh Mieu tue thoi huong, lang coc bat khai canh hoan cuc

Hong Chau kim co lo, cuong thuong suc khoi vang lai nhan.

Traduction de Doan Trong Han :

« À Thanh Mieu, le parfum des offrandes en toute saison ; l’eau, le soleil et la lune illuminent le miroir de la droiture.

À travers l’antique Hong Chau, voyageurs d’hier et d’aujourd’hui observent la colonne des principes moraux immuables. »

Chaque année, le 11ᵉ jour du 4ᵉ mois lunaire, le temple organise une grande fête en son honneur. Les habitants de Ban – Yen Nhan, ceux de Yen Phu ainsi que des pèlerins de toutes régions y affluent pour assister aux cérémonies.

Références

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
  5. Hoàng Mạnh Thắng (2009), Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại Hưng Yên, Nghiên cứu Đông Nam À 3/2009.

Tiếng Trung

李尚上(Doan Thuong,1181–1228)

身世

李尚上(Doan Thuong)是洪州地方的豪長。《大越史記全書》記載,他與李惠宗(Ly Hue Tong)同乳母而長大。他成年於李朝衰弱之際,當時李高宗(Ly Cao Tong)荒於遊樂、橫徵暴斂,以致民心離散,各地叛亂四起。李尚上遂乘時勢,在故鄉揭旗反對朝廷。

洪州包括今海陽省南部之錦江、平江、清勉、嘉祿、寧江、四岐諸縣。關於李尚上起兵之時間,《大越史略》(14世紀)記為1207年,《全書》則取1212年為始。

1207年三月,李尚上及李主(Doan Chu)共同起兵、築城固壘。李高宗遣多路軍隊,由覃以蒙(Dam Di Mong)、范秉彝(Pham Binh Di)、陳興(Tran Hinh)、保貞侯領兵討伐。勢弱之下,李尚上密賄范瑜(Pham Du),結為盟友,並請瑜為之請罪。

1208年十月,范瑜受命鎮守乂安,但違抗詔令。朝廷遣范秉彝征討。瑜逃回洪州,與李尚上、李主合軍攻打登州,使秉彝敗退。然1209年二月,秉彝反攻,擊敗瑜並沒收其財產。

1209年三月,秉彝再戰李尚上軍於衞橋,李主陷入泥濘為將軍河文雷(Ha Van Loi)所殺。同年四月,李尚上軍再敗。儘管李尚上勢力衰弱,然而李高宗愚昧無能,又偏信奸臣范瑜,致使李朝日益崩壞。

仕李朝

范瑜暗中賄賂朝臣,誣告范秉彝殘酷,並請求回京受審。高宗信之,命陳興召瑜與秉彝入朝。瑜先入京,甚得皇帝歡心;秉彝抵京後即被捕,其子范亦同囚。

聞主君被害,將領郭卜(Quach Boc)率軍破大清門,闖宮救援。范瑜與弟范經殺秉彝父子,護送高宗出逃。郭卜乃立皇子深為帝。高宗逃至三農(如今富壽省),依附山區首領河萬(Ha Van)。

此時太子杉(Ly Sam)與其母及二妹逃至海邑(Thai Binh),為陳理(Tran Ly)與蘇忠嗣(To Trung Tu)所迎,尊為勝王。杉娶陳理之女陳氏玉(Tran Thi Dung)為妻;陳理封明嗣,蘇忠嗣任殿前指揮使。

高宗在閭化聞杉自立並封陳氏諸功臣,意欲征討,命范瑜聯絡李尚上。但瑜與天極公主私通,延誤軍期,使李尚上退兵。後瑜為北江豪長阮耨(Nguyen Nau)、阮鼐(Nguyen Nai)所殺於麻浪。

陳理、蘇忠嗣遂乘勢平定郭卜,惟陳理戰死;蘇忠嗣迎高宗還京。高宗崩後,杉即位,是為李惠宗(Ly Hue Tong),而忠嗣專權。1211年忠嗣與諸大臣被殺,其姪陳嗣慶(Tran Tu Khánh)率軍返京主持喪禮。

李尚上與李文雷(Doan Van Loi)遂讒言嗣慶有廢立之意。惠宗信之,下令討伐,並降原妃陳氏玉為御女,同時加封李尚上為侯以示懷柔。

李尚上率軍攻陳氏於黃點隘,陳軍由賴靈(Lai Linh)、阮棟(Nguyen Duong)指揮,阮棟被擒;嗣慶戰敗決堤而退,引起檜州之民疑懼,改而追隨李尚上。

然嗣慶為名將,後於隊山兩次擊敗李魔雷(Doan Ma Loi),控制黎仁(Ly Nhan),並圖與豪長阮序(Nguyen Tu)聯手抗李氏。

1213年,李尚上與朝軍聯合與嗣慶交戰。因陳軍強盛且名將眾多,而惠宗與太師覃以蒙指揮無方,朝軍大敗。李禁(Doan Cam)、武忽(Vu Hot)所部為阮論(Nguyen Non)擊破。惠宗逃往諒州,李尚上退保洪州。

反抗陳氏

1214年,李氏兄弟攻北江,該地由嗣慶部將阮論鎮守。雙方戰於東救山(今北寧嘉平),阮論斬李阮(Doan Nguyen)。然而嗣慶陣營內部動盪:將領杜備(Do Bi)於甘柘起兵自立;阮論亦在擊敗李氏後反叛,奪據北江。杜備、阮論據地,使昇龍受威脅,嗣慶被迫焚京師,退守黎仁。

雖經多次變局,陳氏勢力漸盛,惠宗愈加依賴嗣慶。嗣慶連續平定諸勢力,惟阮論仍據北江不服。

1216年,惠宗冊陳氏女子為順貞夫人。覃太后憎陳氏,多所加害。惠宗與順貞夫人在壓力下逃至嗣慶營中。嗣慶旋即廢新立之李元王,迎惠宗復位,並整肅阮論、阮拔、李文雷、李尚上及河高。

1218年,陳承(Tran Thua)率水軍攻阮論,決堤引水,沿水道猛擊,使論大敗逃往扶寧。為安洪州,嗣慶又以妹陳三娘嫁於洪侯李文雷。

1217年,李尚上暫歸順朝廷,受封為王。嗣慶(1223)死後,陳守度(Tran Thu Do)掌權,逐步操縱李朝,準備立其姪陳煚(Tran Canh)為帝,開創陳朝。

遇害

陳守度率兵攻李尚上不克,遂以封爵誘之,並擬舉行盟誓禮。但李尚上未赴。1228年,守度密與阮論通謀,約三方會於銅刀。李尚上失備,獨自赴約,被阮論伏兵所殺。其子李文(Doan Van)攜家眷歸降阮論。翌年三月,阮論亦死。自此天下盡歸陳氏統治。

祭祀

據李濟川《越甸靈應集》載,李尚上為李朝忠臣,封號「英烈征氣軍」。身後歷陳、黎、阮三朝多次加封為「東海大王李尚上上等神」。

民間稱其為「德聖東海大王李尚上」,各地多有祠廟。主祠在海防市長新社通度村(其故里)及興安省安美縣安富村(其薨化地)。

在本、安仁(今興安省美浩市本安仁坊)亦建有祠,民眾常得其庇佑。紅河女史段氏點(Doan Thi Diem)曾至此瞻禮,吟成一副楹聯,刻於祠內:

「清廟歲時香,稜谷不開耕還局;
洪州今古路,綱常肅起往來人。」

段仲欣(Doan Trong Han)之譯為:

「至時清廟溢香,水日月照明鏡中義;
今古洪州往來,客往來看見綱常柱。」

每年農曆四月十一日,祠廟舉行盛會,安仁、本地與安富村居民及遠近善信雲集瞻禮

参考

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  3. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
  4. Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
  5. Hoàng Mạnh Thắng (2009), Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng tại Hưng Yên, Nghiên cứu Đông Nam À 3/2009.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (34)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)