Làm quan triều Lý
Theo ghi chép của Toàn thư, Đàm Dĩ Mông sớm xuất hiện trên chính trường Đại Việt từ thời Lý Anh Tông, từ năm 1150 đã làm chức Hỏa đầu ở Tả Hưng Đô. Khi các quan Vũ Đái, Nguyễn Dương muốn giết Đỗ Anh Vũ, chính ông là người ngăn cản. Cương mục chép: “Tả Hưng đô là Đàm Dĩ Mông giật lấy cây giáo, ngăn lại, rằng: “Quan Điện tiền cho tội Anh Vũ là đáng chết thật đấy, nhưng phải đợi mệnh lệnh của vua chứ không được tự tiện giết chết”. Sau này nhờ là ngoại thích của vua Lý Cao Tông mà sự nghiệp quan trường của ông cũng nhanh chóng thăng tiến.
Năm 1190, Thái phó Ngô Lý Tín qua đời. Sau đó, Đàm Dĩ Mông được triều đình tin cậy giao giữ chức Thái phó và tham gia phụ chính cho vua Lý Cao Tông.
Đến năm 1192, tại giáp Cổ Hoành (Thanh Hóa), Lê Vãn nổi dậy chống triều đình. Đàm Dĩ Mông được lệnh đem quân từ phủ Thanh Hóa đi dẹp loạn. Khi đến nơi, ông cho quân đốn nhiều cây cối ném xuống sông để cản trở đường đi của thuyền quân nổi loạn, khiến lực lượng của Lê Vãn không thể dàn trận như dự tính. Nhân thời cơ đó, ông lập tức phát động tấn công, nhanh chóng đánh tan quân phản loạn và bắt sống Lê Vãn, giải về Thăng Long.
Cũng trong tháng Chạp năm ấy, Hồ Điệp ở Diễn Châu lại khởi binh chống triều đình. Một lần nữa, Đàm Dĩ Mông được giao cầm quân. Ông tiếp tục giành thắng lợi và bắt giữ được Hồ Điệp.
Đầu năm 1194, thủ lĩnh châu Chân Đăng là Hà Lê nổi dậy. Đàm Dĩ Mông tiếp tục được cử đi dẹp loạn và lại giành chiến thắng, bắt sống Hà Lê.
Tháng 7 năm 1203, vua Chiêm Thành Bố Trì bị người chú là Bố Do lật đổ. Ông đem hơn 200 thuyền chở gia quyến chạy sang Đại Việt, đến cửa Kỳ La cầu cứu. Vua Lý Cao Tông cử Đàm Dĩ Mông và Khu mật xứ Đỗ An đến xử lý sự việc. Khi đến nơi, Đàm Dĩ Mông nghe theo lời Đỗ An, bỏ qua kiến nghị của Phạm Diên và Đỗ Thanh, quyết định không thu nhận Bố Trì mà trở về kinh báo cáo. Hai tướng Phạm Diên và Đỗ Thanh lo sợ bị kết tội nên tự ý đưa quân đi đánh Bố Trì nhưng thất bại; Bố Trì sau đó cũng trở về nước.
Nhân cơ hội này, Thượng tướng Nguyễn Bảo Lương và Thượng thư Bộ Lại Tử Anh Nhị vốn có thù riêng với Đàm Dĩ Mông đã tâu lên vua Lý Cao Tông buộc tội ông là kẻ “mọt nước hại dân”. Vua liền giáng ông xuống chức Đại liêu, tước bỏ quyền phụ chính.
Tháng 2 năm 1206, Đàm Dĩ Mông được phong Thái bảo và được đội mũ củng thần. Đến tháng 4 năm 1207, vua Lý Cao Tông phục chức phụ chính cho ông.
Trong biến loạn Quách Bốc
Tháng 8 năm 1207, khi Đoàn Thượng và Đoàn Chủ nổi dậy ở Hồng Châu, Lý Cao Tông huy động đại binh tiến đánh. Đàm Dĩ Mông đem quân đạo Đại Thông phối hợp với Phạm Bỉnh Di, Trần Hinh và Bảo Trinh hầu tấn công lực lượng của Đoàn Thượng. Tuy nhiên, Đoàn Thượng bí mật đút lót Phạm Du khiến Phạm Du xin tha cho ông ta, buộc vua phải triệu hồi Đàm Dĩ Mông và Phạm Bỉnh Di, làm nảy sinh hiềm khích giữa hai ông với Phạm Du.
Đến tháng 7 năm 1209, nghe lời Phạm Du, Lý Cao Tông giết Phạm Bỉnh Di. Bộ tướng của Bỉnh Di là Quách Bốc lập tức tấn công kinh thành, buộc vua Cao Tông phải chạy lên Quy Hóa; thái tử Sảm cũng phải lánh về Hải Ấp. Quách Bốc đưa hoàng tử Lý Thẩm lên ngôi. Đàm Dĩ Mông ở lại Thăng Long phò Lý Thẩm và được phong Thái úy.
Cuối năm 1209, họ Trần ở Hải Ấp nhân danh phò trợ thái tử Sảm đã đánh bại Quách Bốc, phế Lý Thẩm và rước vua Cao Tông về kinh. Lo sợ bị tội theo Lý Thẩm, Đàm Dĩ Mông tìm cách lập công bằng việc bắt 28 người từng nhận chức của Sảm khi ở Hải Ấp để nộp cho Đỗ Anh Doãn. Nhưng chính ông lại bị Doãn buộc tội theo Lý Thẩm. Tuy vậy, Lý Cao Tông vẫn tha cho ông, cho giữ chức Thái sư.
Năm 1210, vua Cao Tông mất, thái tử Sảm lên ngôi (Lý Huệ Tông). Dù họ Trần và Tô Trung Từ nắm thực quyền, thế lực cựu thần như Đàm Dĩ Mông vẫn còn. Ông được phong Thái úy, thay Đỗ Kính Tu làm phụ chính và sau đó được ban tước vương.
Khi Tô Trung Từ bị giết, triều đình rơi vào loạn lạc, nhiều phe phái tranh chấp. Lý Huệ Tông lúc dựa họ Trần, lúc liên kết họ Đoàn và họ Nguyễn để chống lại họ Trần. Năm 1213, Huệ Tông sai Đàm Dĩ Mông liên minh với Đoàn Thượng chống Trần Tự Khánh, rồi tiếp tục đưa ông đến Tam Đái để tập hợp quân.
Năm 1214, Huệ Tông và Đàm Dĩ Mông trực tiếp chỉ huy quân đi đánh họ Trần, nhưng khi mới chạm trán tại Mễ Sở, quân triều đình đã tự tan vỡ. Cánh quân Bắc Giang do Đàm Dĩ Mông chỉ huy cũng thất bại trước quân Trần Thừa tại An Diên. Khi Huệ Tông muốn chạy lên Lạng Châu, Đàm Dĩ Mông cố khuyên vua lập căn cứ ở Đại Thất để chờ quân họ Đoàn, nhưng viện binh không đến, buộc Huệ Tông phải rút lên Lạng Châu.
Sau khi không thể mời Huệ Tông về kinh, Trần Tự Khánh lập Lý Nguyên vương lên ngôi và bắt người nhà Đàm Dĩ Mông để uy hiếp. Cuối năm, Tự Khánh lại thả Đàm Kinh Bang – thân nhân của ông – đi theo bộ tướng Nguyễn Ngạnh thuyết phục Huệ Tông trở về. Khi mọi liên minh khác tan rã, Huệ Tông trở lại Thăng Long dưới quyền kiểm soát của Trần Tự Khánh (1216).
Từ sau thất bại trước họ Trần, sử sách không còn ghi nhận hoạt động của Đàm Dĩ Mông. Không rõ ông có theo Huệ Tông lên Lạng Châu hay đã mất trong loạn lạc. Tổng cộng, ông hoạt động khoảng 25 năm dưới hai đời vua Lý Cao Tông và Lý Huệ Tông.
Chủ trương với Phật giáo
Cuối thế kỷ XII, Phật giáo Đại Việt phát triển cực thịnh, số người xuất gia quá nhiều, trong đó có không ít tăng sĩ phá giới, không chuyên tâm tu hành. Năm 1198, Đàm Dĩ Mông tâu lên vua Cao Tông về tình trạng này và đề nghị buộc những người không giữ giới luật phải hoàn tục. Vua nghe theo, giao ông triệu tập các tăng đồ trong kinh sư, tuyển chọn chỉ vài chục người nghiêm trì giới pháp được tiếp tục ở lại chùa, còn lại đều phải trở về đời sống thế tục.
Cũng trong năm ấy, ông trực tiếp xét xử các vụ hình ngục thuộc Đô hội phủ ngoài trú quan, thể hiện vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính – tư pháp triều đình.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Ngôn ngữ khác
Tiềng Anh
Grand Commandant Dam Di Mong
Court official of the Ly dynasty
According to Dai Viet Su Ky Toan Thu, Dam Di Mong appeared early on the political stage of Dai Viet during the reign of Ly Anh Tong. As early as 1150, he already served as Hoa dau of the Left Hung Do. When officials Vu Dai and Nguyen Duong attempted to kill Do Anh Vu, he was the one who intervened. Kham Dinh Viet Su Thong Giam Cuong Muc records: “Dam Di Mong of the Left Hung Do snatched the spear and stopped them, saying: ‘The Palace Guard Officer is right that Anh Vu deserves death, but we must wait for the king’s order; we cannot kill him at will.’” Later, as an in-law of King Ly Cao Tong, his political career advanced rapidly.
In 1190, after the death of Grand Tutor Ngo Ly Tin, Dam Di Mong was entrusted by the court with the position of Grand Tutor and participated in assisting King Ly Cao Tong in state affairs.
In 1192, at Co Hoanh (Thanh Hoa), Le Van rose in rebellion. Dam Di Mong was ordered to lead troops from Thanh Hoa Prefecture to suppress the revolt. Upon arrival, he had his soldiers cut down trees and throw them into the river to block the boats of the rebels, preventing Le Van’s forces from deploying as planned. Seizing the opportunity, he launched an immediate attack, defeated the rebels, and captured Le Van, bringing him back to Thang Long.
Later that same lunar month, Ho Diep of Dien Chau also rose against the court. Dam Di Mong was again sent to command the army, and once more he achieved victory, capturing Ho Diep.
In early 1194, Ha Le, chief of Chan Dang Prefecture, rebelled. Dam Di Mong was once again appointed to quell the uprising, and again he succeeded, capturing Ha Le alive.
In the seventh lunar month of 1203, the Cham king Po Tri was overthrown by his uncle Po Do. Po Tri fled with more than 200 boats carrying his family, seeking refuge at Ky La. King Ly Cao Tong sent Dam Di Mong and Khu mat xu Do An to handle the matter. Upon arrival, Dam Di Mong followed Do An’s advice, ignoring the recommendations of Pham Dien and Do Thanh, and decided not to receive Po Tri, returning instead to the capital to report. Fearing punishment, Pham Dien and Do Thanh independently led troops to attack Po Tri but failed; Po Tri soon returned to Champa.
Taking advantage of the situation, Senior General Nguyen Bao Luong and Minister of Personnel Tu Anh Nhi—who harbored personal grudges against Dam Di Mong—accused him before King Ly Cao Tong of being a “parasite who harms the state and the people.” The king demoted him to Dai lieu and stripped him of his regency authority.
In the second lunar month of 1206, Dam Di Mong was granted the title of Grand Protector (Thai bao) and permitted to wear the cung than ceremonial headdress. In the fourth lunar month of 1207, King Ly Cao Tong restored him to the position of regent.
During the Quach Boc Rebellion
In the eighth lunar month of 1207, when Doan Thuong and Doan Chu rebelled in Hong Chau, King Ly Cao Tong mobilized large forces to suppress them. Dam Di Mong led the Dai Thong Army in coordination with Pham Binh Di, Tran Hinh, and Bao Trinh Hau to attack Doan Thuong’s forces. However, Doan Thuong secretly bribed Pham Du, who then requested leniency for him, forcing the king to recall Dam Di Mong and Pham Binh Di—creating deep resentment between them and Pham Du.
In the seventh lunar month of 1209, persuaded by Pham Du, King Ly Cao Tong executed Pham Binh Di. Binh Di’s general Quach Boc immediately stormed the capital, forcing the king to flee to Quy Hoa and the crown prince Sam to retreat to Hai Ap. Quach Boc enthroned Prince Ly Tham. Dam Di Mong stayed in Thang Long to support Ly Tham and was appointed Grand Commandant (Thai uy).
At the end of 1209, the Tran clan of Hai Ap, claiming to support the crown prince Sam, defeated Quach Boc, deposed Ly Tham, and escorted King Ly Cao Tong back to the capital. Fearing punishment for supporting Ly Tham, Dam Di Mong attempted to redeem himself by arresting 28 people who had received appointments from Prince Sam in Hai Ap and delivering them to Do Anh Doan. However, he was himself accused by Doan of following Ly Tham. Nevertheless, King Ly Cao Tong pardoned him and allowed him to retain the office of Grand Preceptor (Thai su).
In 1210, King Ly Cao Tong died, and the crown prince ascended the throne as Ly Hue Tong. Although the Tran clan and To Trung Tu held real power, veteran officials like Dam Di Mong still had influence. He was appointed Grand Commandant, replacing Do Kinh Tu as regent, and was later granted the title of prince.
When To Trung Tu was assassinated, the court plunged into chaos, with many factions vying for dominance. At times, Ly Hue Tong relied on the Tran clan; at other times, he allied with the Doan and Nguyen clans to counter the Tran. In 1213, Hue Tong sent Dam Di Mong to form an alliance with Doan Thuong against Tran Tu Khanh and then dispatched him to Tam Dai to mobilize troops.
In 1214, Hue Tong and Dam Di Mong personally led troops against the Tran, but at the very first encounter at Me So, the royal forces collapsed on their own. The Bac Giang contingent under Dam Di Mong was also defeated by Tran Thua at An Dien. When Hue Tong planned to flee to Lang Chau, Dam Di Mong urged him to establish a base at Dai That and wait for reinforcements from the Doan clan. However, help never arrived, and Hue Tong was forced to retreat to Lang Chau.
After failing to bring Hue Tong back to the capital, Tran Tu Khanh enthroned Prince Ly Nguyen as king and captured Dam Di Mong’s relatives to coerce him. Later that year, Tu Khanh released Dam Kinh Bang—a relative of Dam Di Mong—and sent him with General Nguyen Nganh to persuade Hue Tong to return. When all other alliances disintegrated, Hue Tong finally returned to Thang Long under Tran Tu Khanh’s control (1216).
After his defeats by the Tran clan, historical records no longer mention Dam Di Mong. It is unclear whether he followed Hue Tong to Lang Chau or died in the turmoil. Altogether, he was active for about 25 years under Kings Ly Cao Tong and Ly Hue Tong.
Policies Toward Buddhism
In the late 12th century, Buddhism in Dai Viet flourished to its peak, with an excessive number of people entering monastic life—many of whom violated monastic discipline and failed to devote themselves to study and practice. In 1198, Dam Di Mong reported this situation to King Ly Cao Tong and proposed forcing those who did not observe the precepts to return to lay life. The king agreed and ordered him to summon all monks in the capital, selecting only a few dozen who strictly followed the precepts to remain in the temples; the rest were required to return to secular life.
That same year, he also personally adjudicated criminal cases under the authority of Do hoi phu ngoai tru quan, reflecting his important role in the administrative and judicial system of the Ly dynasty.
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Pháp
Un haut fonctionnaire de la dynastie Ly
Selon les annales du Dai Viet su ky toan thu, Dam Di Mong apparaît très tôt sur la scène politique du Dai Viet, dès le règne de Ly Anh Tong. En 1150, il occupe déjà la fonction de Hoa dau au Ta Hung Do. Lorsque les hauts fonctionnaires Vu Dai et Nguyen Duong projettent d’exécuter Do Anh Vu, c’est lui qui intervient pour les en empêcher. Le Kham dinh Viet su thong giam cuong muc note : « Le Ta Hung Do Dam Di Mong saisit la lance, les arrêta et déclara : “Le Dien tien juge qu’Anh Vu mérite la mort, certes, mais il faut attendre l’ordre du roi, on ne peut se permettre de l’exécuter de manière arbitraire.” » Par la suite, bénéficiant de son lien d’alliance avec le roi Ly Cao Tong, sa carrière administrative progresse rapidement.
En 1190, à la mort du Thai pho Ngo Ly Tin, Dam Di Mong reçoit la confiance de la cour et est nommé Thai pho, chargé en outre de la régence aux côtés de Ly Cao Tong.
En 1192, lorsque Le Van se soulève contre la cour à Giap Co Hoanh (Thanh Hoa), Dam Di Mong reçoit l’ordre de marcher depuis la préfecture de Thanh Hoa pour réprimer la rébellion. Sur place, il fait couper de nombreux arbres et les jeter dans la rivière afin d’entraver les déplacements des forces insurgées, empêchant Le Van de déployer ses troupes comme prévu. Profitant de la situation, il lance une attaque rapide, écrase les rebelles et capture Le Van qu’il ramène à Thang Long.
Durant le même mois, Ho Diep à Dien Chau se révolte également. Dam Di Mong est de nouveau envoyé en campagne, remporte la victoire et arrête Ho Diep.
Au début de 1194, Hà Le, chef du chau Chan Dang, se soulève. Une fois encore, Dam Di Mong est envoyé rétablir l’ordre et triomphe en capturant Ha Le.
En juillet 1203, le roi de Champa Bo Tri, renversé par son oncle Bo Do, quitte le pays avec plus de deux cents embarcations transportant sa famille et se réfugie au Dai Viet, arrivant à la porte de Ky La. Le roi Ly Cao Tong charge Dam Di Mong et le Khu mat xu Do An de gérer cette affaire. Sur place, Dam Di Mong, suivant l’avis de Do An, refuse les demandes de Pham Dien et Do Thanh, et décide de ne pas accorder l’asile à Bo Tri, préférant retourner à la capitale pour rendre compte. Craignant d’être accusés, Pham Dien et Do Thanh conduisent leurs troupes attaquer Bo Tri mais échouent ; Bo Tri finit par regagner son royaume.
Profitant de cette situation, les hauts dignitaires Nguyen Bao Luong et Tu Anh Nhi, qui nourrissaient une rancune personnelle contre Dam Di Mong, accusent celui-ci auprès du roi d’être un « fléau pour l’État et le peuple ». Ly Cao Tong le rétrograde alors au rang de Dai lieu, lui retirant ses prérogatives de régent.
En février 1206, Dam Di Mong est rétabli comme Thai bao et autorisé à porter le mũ cung thần. En avril 1207, il retrouve la fonction de régent.
Durant la révolte de Quach Boc
En août 1207, lorsque Doan Thuong et Doan Chu se soulèvent à Hong Chau, Ly Cao Tong mobilise une grande armée. Dam Di Mong commande l’armée de Dai Thong en coordination avec Pham Binh Di, Tran Hinh et Bao Trinh Hau pour attaquer les insurgés. Toutefois, Doan Thuong soudoye Pham Du, qui demande pour lui la clémence, obligeant le roi à rappeler Dam Di Mong et Pham Binh Di, ce qui provoque une profonde animosité entre eux et Pham Du.
En juillet 1209, sous l’influence de Pham Du, Ly Cao Tong fait exécuter Pham Binh Di. Le général Quach Boc, subordonné fidèle de Binh Di, attaque aussitôt la capitale, forçant Ly Cao Tong à fuir à Quy Hoa et le prince héritier Sam à se réfugier à Hai Ap. Quach Boc installe alors le prince Ly Tham sur le trône. Dam Di Mong reste à Thang Long pour soutenir Ly Tham et reçoit la charge de Thai uy.
À la fin de 1209, les Tran de Hai Ap, au nom du soutien au prince Sam, vainquent Quach Boc, déposent Ly Tham et ramènent Ly Cao Tong à la capitale. Craignant d’être puni pour avoir servi Ly Tham, Dam Di Mong tente de se racheter en arrêtant vingt-huit personnes ayant accepté des charges sous Sam à Hai Ap, qu’il remet à Do Anh Doan. Mais ce dernier l’accuse lui-même d’avoir soutenu Ly Tham. Néanmoins, Ly Cao Tong lui accorde son pardon et le nomme Thai su.
En 1210, à la mort de Ly Cao Tong, le prince Sam accède au trône sous le nom de Ly Hue Tong. Même si les Tran et To Trung Tu détiennent le pouvoir réel, l’influence des anciens dignitaires tels que Dam Di Mong demeure importante. Il est nommé Thai uy, remplaçant Do Kinh Tu comme régent, et reçoit plus tard le titre de vuong.
Après l’assassinat de To Trung Tu, le royaume sombre dans les luttes de factions. Ly Hue Tong, tantôt appuyé par les Tran, tantôt par les clans Doan et Nguyen, cherche à contrer l’influence des Tran. En 1213, il envoie Dam Di Mong conclure une alliance avec Doan Thuong contre Tran Tu Khanh, puis l’envoie à Tam Dai pour rassembler des troupes.
En 1214, Ly Hue Tong et Dam Di Mong prennent personnellement la tête des troupes pour attaquer les Tran, mais à leur arrivée à Me So, l’armée royale se disloque d’elle-même. L’aile venue de Bac Giang, commandée par Dam Di Mong, est vaincue par Tran Thua à An Dien. Lorsque Hue Tong souhaite se retirer à Lang Chau, Dam Di Mong le persuade de s’installer à Dai That pour attendre les renforts du clan Doan. Ceux-ci n’arrivant pas, le roi doit finalement se replier sur Lang Chau.
Plus tard, Tran Tu Khanh installe Ly Nguyen Vuong sur le trône et capture des membres de la famille de Dam Di Mong pour faire pression. À la fin de l’année, il relâche Dam Kinh Bang, parent de Dam Di Mong, pour l’envoyer avec le général Nguyen Nganh convaincre Hue Tong de revenir. Lorsque toutes les autres alliances échouent, Hue Tong retourne à Thang Long sous le contrôle de Tran Tu Khanh (1216).
Après sa défaite face aux Tran, les sources n’évoquent plus les activités de Dam Di Mong. On ignore s’il suivit Hue Tong à Lang Chau ou s’il mourut durant les troubles. Au total, il fut actif environ vingt-cinq ans sous Ly Cao Tong et Ly Hue Tong.
Sa politique envers le bouddhisme
À la fin du XIIe siècle, le bouddhisme connaît au Dai Viet une prospérité exceptionnelle, entraînant un nombre excessif d’ordinations, parmi lesquelles beaucoup de moines ne respectent plus les règles monastiques. En 1198, Dam Di Mong signale ce problème au roi Ly Cao Tong et propose d’obliger les déviants à retourner à la vie laïque. Le roi approuve et lui confie la convocation de tous les moines de la capitale : seuls quelques dizaines de pratiquants respectant strictement la discipline furent autorisés à rester dans les monastères, les autres durent être renvoyés dans la société.
La même année, il supervise directement les affaires judiciaires relevant du Do hoi phu hors des bureaux administratifs, montrant son rôle important dans le système politico-judiciaire de la dynastie.
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
Tiếng Trung
太尉 譚以蒙 (Dam Di Mong)
仕於李朝
據《全書》記載,譚以蒙 (Dam Di Mong) 自李英宗時期便早在大越政壇露面,自1150年起任左興都火頭。當武岱、阮陽欲誅杜英武 (Do Anh Vu) 時,正是他加以制止。《綱目》載:「左興都譚以蒙奪槊以止之曰:『殿前官以英武之罪固當死,然須待君命,不可擅殺。』」後因為是李高宗之外戚,其仕途迅速躍升。
1190年,太傅吳理信 (Ngo Ly Tin) 逝世,朝廷委任譚以蒙為太傅,參與輔政,輔佐李高宗。
1192年,古橫甲(清化)黎浣 (Le Van) 作亂,譚以蒙奉命率軍自清化府征討。至地後,他命軍士砍伐大樹投入河中,以阻其舟艦行進,使黎浣軍無法佈陣。乘勢發動進攻,迅速擊破叛軍,生擒黎浣,押解昇龍。
同年臘月,演州胡蝶 (Ho Diep) 再度舉兵反叛,譚以蒙再次受命領軍,復獲全勝,擒胡蝶。
1194年初,真登州酋首河黎 (Ha Le) 反叛,譚以蒙又被派往征討,再度奏捷,生擒河黎。
1203年七月,占城國王布持 (Bo Tri) 為其叔布由 (Bo Do) 所廢,攜家屬乘二百餘艘船逃至大越,在岐羅門求援。李高宗遣譚以蒙與樞密使杜安 (Do An) 處理其事。至地後,譚以蒙聽從杜安之議,未採納范延 (Pham Dien)、杜清 (Do Thanh) 的主張,決定不予收留布持,返京覆命。范延與杜清恐遭治罪,擅自出兵擊布持而敗,布持其後亦返回本國。
此時,上將阮保良 (Nguyen Bao Luong) 與吏部尚書子英貳 (Tu Anh Nhi) 因與譚以蒙素有怨隙,遂向李高宗參奏,誣其為「蠹國害民」。王因而貶其為大寮,罷其輔政之權。
1206年二月,譚以蒙獲封太保,並賜纁神冠。至1207年四月,李高宗復其輔政之職。
在郭卜之亂中
1207年八月,段尚 (Doan Thuong)、段主 (Doan Chu) 於洪州起兵,李高宗調大軍征討。譚以蒙率大通道軍與范丙彌 (Pham Binh Di)、陳馨 (Tran Hinh)、保貞侯 (Bao Trinh hou) 合擊段尚。然而段尚賄賂范遊 (Pham Du),使其求赦,李高宗被迫召回譚以蒙與范丙彌,致使二人與范遊之間生隙。
1209年七月,李高宗聽信范遊讒言,殺范丙彌。其部將郭卜 (Quach Boc) 立即攻入京城,迫使李高宗奔歸化,太子杉 (Sam) 亦避往海邑。郭卜擁立皇子李沈 (Ly Tham) 即位。譚以蒙留守昇龍,輔佐李沈,並獲封太尉。
1209年底,海邑陳氏以輔太子杉為名,擊敗郭卜,廢李沈,迎李高宗返京。譚以蒙因畏罪,欲立功贖罪,擒28名曾受杉職者上交杜英尹 (Do Anh Doan),卻反被其治罪。然李高宗仍赦其罪,任為太師。
1210年,李高宗崩,太子杉即位(李惠宗)。雖陳氏與蘇忠嗣 (To Trung Tu) 掌權,但譚以蒙等舊臣仍具勢力。他被封為太尉,取代杜敬修 (Do Kinh Tu) 為輔政,後更受封為王。
蘇忠嗣被殺後,朝廷大亂,各派爭鋒。李惠宗時依靠陳氏,時聯合段氏、阮氏以抗陳氏。1213年,惠宗命譚以蒙聯段尚攻陳自慶 (Tran Tu Khanh),後又遣他至三岱招兵。
1214年,惠宗與譚以蒙親率軍擊陳氏,但甫至米舍,王師潰散。由譚以蒙率領的北江軍亦於安延敗於陳承 (Tran Thua)。惠宗欲走朗州,譚以蒙力諫在大瑟建據點待段氏援兵,但援軍未至,惠宗被迫奔朗州。
及後陳自慶立李元王 (Ly Nguyen vuong),並扣押譚以蒙家屬以脅降。年底,自慶又釋譚京邦 (Dam Kinh Bang),令其隨將阮硬 (Nguyen Nganh) 說服惠宗返京。當諸盟盡散,1216年惠宗在陳自慶控制下回到昇龍。
自敗於陳氏後,史籍不再記載譚以蒙之行跡,不知其是否隨惠宗上朗州,或已沒於亂中。他共於李高宗、李惠宗兩朝活動約25年。
佛教政策
12世紀末,大越佛教極盛,出家者眾多,其中不少僧人破戒,不專心修行。1198年,譚以蒙奏聞高宗此事,建議令不守戒者還俗。高宗聽從,命他召集京師僧眾,遴選數十名嚴持戒法者留寺,其餘皆令還俗。
同年,他亦親自審理都會府之外註官諸刑獄案件,顯示其在朝廷行政與司法中的重要地位。
參考資料
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.