Thân thế
Đỗ Anh Vũ 杜英武 (1113 – 20 tháng 1, 1159) là một đại thần sống xuyên suốt 3 đời hoàng đế nhà Lý, từ Lý Nhân Tông đến Lý Anh Tông. Ông phò tá Lý Thần Tông và làm phụ chính dưới triều Lý Anh Tông.
Theo văn bia trên bia mộ của Đỗ Anh Vũ tại làng Yên Lạc (tức Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên), Đỗ Anh Vũ có biểu tự là Quán Thế (冠世, tổ tiên bên ngoại là họ Quách ở Lũng Tây. Cha của Đỗ Anh Vũ là Đỗ Tướng 杜相, gọi Thái úy Lý Thường Kiệt là cậu ruột. Đỗ Anh Vũ có một người chị (hoặc em) gái ruột tên là Quỳnh Anh, về sau được gả cho quan Thị trung họ Phạm; rất có thể đó chính là Chiêu Hiến Hoàng hậu Đỗ thị, chính thất của Sùng Hiền hầu và là mẹ của Hoàng đế Lý Thần Tông.
Ông có người anh họ làm Quan Thị trung, có hai người con gái đều được hầu Lý Anh Tông. Người chị không rõ tên, người em tên là Đỗ Thụy Châu, về sau sinh Hoàng tử Thiên Bảo (1154) và các hoàng tử, trong đó có Hoàng tử Lý Long Cán, về sau lên ngôi là Lý Cao Tông.
Sự nghiệp chính trị
Đỗ Anh Vũ vốn có ngoại hình tuấn tú, thông minh và đa tài. Từ nhỏ, ông được tuyển vào cung làm Thượng lâm tử đệ, thường hầu cận trong nội đình. Đến năm mười lăm tuổi, ông được Thái sư Trương Bá Ngọc nhận làm nghĩa tử, sau đó được Hoàng đế Lý Thần Tông cho theo hầu trong màn trướng. Trong thời gian này, ông được Hoàng đế tin cậy giao phụ trách nhiều công việc trong cung cấm, từ xây dựng, lễ nghi cho đến các hoạt động điều hành nội viện. Ông tinh thông nhiều lĩnh vực, từ văn tự, tính toán, cưỡi ngựa, bắn cung cho đến y thuật, binh pháp.
Từ năm 1135 trở đi, ông bắt đầu tham gia các hoạt động quân sự và dẹp loạn. Trước hết là chiến dịch đánh Chân Lạp ở vùng Nghệ An, tiếp đến dẹp quân Sơn Liêu ở miền núi phía bắc.
Năm 1137 vua Lý Thần Tông lâm bệnh qua đời. Trước khi mất, Hoàng đế giao phó vận mệnh Đại Việt cho Đỗ Anh Vũ. Sau đó, ông cùng Linh Chiếu Thái hậu đón Thái tử Thiên Tộ đưa lên ngôi, tức Hoàng đế Lý Anh Tông. Khi triều đình rối ren, ông đứng ra chấn chỉnh kỷ cương và điều hành chính sự được phong Thái úy, rồi Phụ quốc Thái úy và ban quốc tính.
Năm 1138–1141, ông chỉ huy quân dẹp cuộc nổi dậy của Thân Lợi ở vùng biên cương phía Bắc. Cuộc phản loạn bị dập tắt, Thân Lợi bị bắt và xử tử. Thắng lợi này củng cố hoàn toàn địa vị chính trị của Đỗ Anh Vũ trong triều.
Do Lý Anh Tông còn nhỏ, quyền điều hành triều chính tập trung vào tay Đỗ Anh Vũ. Ông ngày càng trở nên chuyên quyền, đồng thời bị đồn có quan hệ riêng tư với Linh Chiếu Thái hậu. Điều này làm nhiều đại thần bất bình.
Khoảng năm 1150, Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái, cùng Trí Minh vương và Phò mã Dương Tự Minh tố cáo Đỗ Anh Vũ chuyên quyền và tư thông với thái hậu. Đỗ Anh Vũ bị bắt và giam giữ. Tuy nhiên, nhờ sự can thiệp của Linh Chiếu Thái hậu, ông thoát chết và sau đó được phục chức phụ chính. Trở lại nắm quyền, Đỗ Anh Vũ lập một đội quân riêng gọi là Phụng vệ đô và tiến hành thanh trừng phe đối lập. Cuối cùng Đỗ Anh Vũ tiến hành vu khống những người thuộc phe đối lập. Vua Anh Tông nghe theo Đỗ Anh Vũ, hạ chiếu giáng Trí Minh Vương làm tước hầu, các Hỏa đầu gồm 8 người bị đem chém ở chợ Tây, Điện tiền chỉ huy sứ Vũ Đái 20 người thì đem chém ở Giang Đầu, Phò mã Dương Tự Minh 30 người bị đày lên vùng nước độc. Số còn lại đều bị giáng chức làm khao giáp và điền hoành.
Năm 1158, Tả ty Nguyễn Quốc Dĩ đi sứ nhà Tống trở về, đề xuất đặt hòm góp ý trong triều để thu thập lời tâu của các quan. Khi mở hòm, xuất hiện thư nặc danh cáo buộc Đỗ Anh Vũ mưu phản. Cho rằng Nguyễn Quốc Dĩ đã tạo điều kiện để lời vu cáo lan truyền, Đỗ Anh Vũ tâu vua xử tội ông. Quốc Dĩ bị lưu đày đến Qui Hóa. Không lâu sau, vua có ý muốn giảm tội và gọi ông về. Đỗ Anh Vũ lo ngại Quốc Dĩ sẽ trở thành mối nguy, bèn sai người mang rượu độc đến ép uống. Nguyễn Quốc Dĩ hiểu tình thế không thể tránh, đành uống thuốc độc mà chết.
Từ việc phò tá Lý Anh Tông, dẹp phản loạn rồi ổn định triều chính, đến việc chuyên quyền và thanh trừng. Cuộc đời chính trị của Đỗ Anh Vũ là một chuỗi mâu thuẫn giữa công lao và tranh cãi. Ông là người góp phần duy trì sự ổn định của vương triều trong giai đoạn nhà vua còn nhỏ, nhưng đồng thời cũng là nhân vật gây phân hóa sâu sắc trong nội bộ triều Lý.
Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại ý kiến của sử gia Lê Văn Hưu về Đỗ Anh Vũ như sau: “Đỗ Anh Vũ ra vào cấm đình, tư thông với mẫu hậu, không tội gì to bằng.”
Sử gia Ngô Sĩ Liên cũng đánh giá Đỗ Anh Vũ “là kẻ đại ác”.
Thờ tự
Tại quê hương Khoái Châu, Đỗ Anh Vũ được nhân dân tôn thờ làm Thành hoàng và quen gọi là Đức Thánh Lác. Đền thờ Đỗ Anh Vũ hiện nay đặt tại Đền An Lạc, thuộc xã Đồng Tiến, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Trong đền vẫn còn lưu giữ hai tấm bia đá được dựng để ca ngợi công đức của ông. Một tấm bia còn nguyên vẹn, tấm còn lại hiện bị vỡ thành bốn mảnh nhưng đã được bảo lưu. Trên văn bia, ông được mô tả là người khẳng khái, trong sạch, liêm chính, trung nghĩa với triều đình nhà Lý, và có nhiều đóng góp trong việc giữ gìn vương triều trong giai đoạn đầy biến động. Văn bia được khắc vào thời Lê Trung Hưng, chữ Hán cổ, với văn phong chỉn chu theo thể Gối hạc – Tứ tuyệt.
Tương truyền, đền được khởi dựng từ thời Lý. Qua các cuộc khảo sát, nghiên cứu đã tìm thấy một số mảnh gạch, ngói mang dấu ấn của văn hoá Lý – Trần. Năm 1887, trong khi đàn áp phong trào Bãi Sậy, thực dân Pháp đã đốt phá toàn bộ ngôi đền. Đến năm Quý Mão (1903), nhân dân địa phương đã góp công, góp của xây dựng lại ngôi đền trên nền móng cũ với kiến trúc kiểu “nội Công ngoại Quốc” gồm 07 toà 32 gian, trong đó Ngọ môn 03 gian, Tiền tế 05 gian 2 dĩ, cung đệ Nhị 05 gian, hai Giải vũ 10 gian, Cung chính tâm 07 gian,… Trải qua hai cuộc chiến tranh, các hạng mục công trình phần nào đã bị mai một. Chính quyền và nhân dân địa phương đã từng bước khôi phục lại. Hiện nay, đền vẫn giữ kết cấu kiểu “Nội Công ngoại Quốc”. Khu thờ chính gồm: Tiền tế 05 gian, Trung từ 05 gian, Ống muống 02 gian (dọc) và Hậu cung 03 gian. Các cấu kiện kiến trúc được làm bằng gỗ thuộc nhóm tứ thiết, còn khá đồng bộ, vững chắc. Đặc biệt, toà Hậu cung được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, các cấu kiện đều được chạm khắc hoa lá rất cầu kỳ và tinh xảo.
Tại đền hiện còn lưu giữ hai pho tượng Hộ pháp bằng gỗ cao tới 1,8m, 01 tấm bia ghi thần tích và công trạng của Đỗ Anh Vũ. Để tưởng nhớ công lao của thành hoàng, đền An Lạc thường tổ chức lễ hội vào ngày ngày 20 tháng 9 âm lịch hằng năm. Ngoài bia đá, trong đền còn có bức hoành phi sơn son thếp vàng, mô tả việc an táng ông. Việc chôn cất được thực hiện theo quy tắc Cửu Trù, cho thấy sự trang trọng và tôn kính dành cho một người được xem là có công với triều đình.
Theo Quyết định số 97/QĐ ngày 21/01/1992 của Bộ Văn hóa – Thông tin và Thể thao, đền An Lạc được xếp hạng là di tích “Lịch sử và nghệ thuật” cấp Quốc gia.
Tài liệu tham khảo
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Khuyết danh (Trần Quốc Vượng dịch), 2005. Việt sử lược. NXB Thuận Hóa, Huế.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Grand Chancellor Do Anh Vu
Background
Do Anh Vu (杜英武, 1113 – 20 January 1159) was a high-ranking statesman who served under three emperors of the Ly dynasty, from Ly Nhan Tong to Ly Anh Tong. He played a crucial role as regent during the reign of Ly Anh Tong and was a trusted supporter of Emperor Ly Than Tong.
According to the inscription on his tomb stele in Yen Lac village (present-day Khoai Chau, Hung Yen province), Do Anh Vu had the courtesy name Quan The (冠世). His maternal ancestors belonged to the Quach clan of Lung Tay. His father, Do Tuong (杜相), was the maternal nephew of Grand Chancellor Ly Thuong Kiet. Do Anh Vu had a sister (or possibly younger sister) named Quynh Anh, who married a Court Chamberlain of the Pham family. She is widely believed to have been Chieu Hien Empress of the Do clan, the principal wife of Sung Hien Marquis and mother of Emperor Ly Than Tong.
He also had a cousin who served as Thi trung (Court Chamberlain). His two daughters became attendants of Emperor Ly Anh Tong—the elder whose name is unknown, and the younger, Do Thuy Chau, who later gave birth to Prince Thien Bao (1154) and several other princes, including Prince Ly Long Can, the future Emperor Ly Cao Tong.
Political Career
Do Anh Vu was known for his handsome appearance, intelligence, and versatile talents. As a child, he was selected to enter the palace as a Thuong lam tu de, serving inside the inner court. At the age of fifteen, he was adopted by Grand Preceptor Truong Ba Ngoc and later became a close attendant to Emperor Ly Than Tong. During this period, he gained the emperor’s trust and was assigned numerous responsibilities within the inner palace, including construction, ritual affairs, and administrative duties. He mastered a wide range of disciplines—from literature, mathematics, and equestrian skills to archery, medicine, and military strategy.
From 1135 onward, he took part in several military campaigns, beginning with the expedition against Chenla in the Nghe An region and later suppressing the Son Lieu rebels in the northern highlands.
In 1137, Emperor Ly Than Tong fell gravely ill. Before his death, he entrusted the fate of Dai Viet to Do Anh Vu. Afterward, Do Anh Vu, together with Empress Dowager Linh Chieu, escorted Crown Prince Thien To to the throne as Emperor Ly Anh Tong. Amid the subsequent political turmoil, he restored order, assumed control over state affairs, and was appointed Thai uy, later Phu quoc Thai uy, and was granted royal surnameship.
From 1138 to 1141, he led the campaign to suppress the rebellion of Than Loi along the northern frontier. The revolt was quelled, Than Loi was captured and executed, and Do Anh Vu’s political authority became firmly consolidated.
Because Ly Anh Tong was still a minor, administrative power concentrated in Do Anh Vu’s hands. He became increasingly authoritarian, and rumors circulated that he had an illicit relationship with Empress Dowager Linh Chieu. Many officials grew resentful.
Around 1150, Commander of the Palace Guard Vu Dai, together with Tri Minh Prince and Prince Consort Duong Tu Minh, accused Do Anh Vu of tyranny and illicit relations with the empress dowager. He was arrested and imprisoned, but with the intervention of Empress Dowager Linh Chieu, he escaped execution and was restored to power.
Upon returning to office, Do Anh Vu formed his own military unit—the Phung ve do—and initiated a purge of opposing factions. He falsely accused his political enemies, and Emperor Ly Anh Tong, following his counsel, demoted Tri Minh Prince to marquis, executed eight Hoa dau officers at the Western Market, beheaded Vu Dai and twenty men at Giang Dau, and exiled Prince Consort Duong Tu Minh with thirty followers to regions of poisonous miasma. Others were demoted to low-ranking posts such as khao giap and dien hoanh.
In 1158, Left Secretariat Nguyen Quoc Di returned from a diplomatic mission to Song China and proposed placing a suggestion box at court for officials’ petitions. When opened, the box contained an anonymous accusation alleging that Do Anh Vu was planning treason. Believing that Nguyen Quoc Di had facilitated the spread of the allegation, Do Anh Vu urged the emperor to punish him. Quoc Di was exiled to Qui Hoa. Later, when the emperor intended to recall him, Do Anh Vu feared retaliation and dispatched a messenger with poisoned wine. Knowing escape was impossible, Nguyen Quoc Di drank the poison and died.
From assisting young Emperor Ly Anh Tong, quelling rebellions, and stabilizing the government, to becoming autocratic and conducting purges, Do Anh Vu’s political life was a complex mixture of contributions and controversies. Although he helped maintain the stability of the Ly dynasty during a turbulent transitional period, he also became a deeply polarizing figure.
The Dai Viet Su Ky Toan Thu records historian Le Van Huu’s judgment:
“Do Anh Vu entered and exited the forbidden palace and committed adultery with the empress dowager—there is no greater crime.”
Historian Ngo Si Lien similarly condemned him as:
“A man of great wickedness.”
Temple and Veneration
In his hometown Khoai Chau, Do Anh Vu is venerated as the village guardian deity (Thanh hoang) and commonly called Duc Thanh Lac. His shrine is located at An Lac Temple in Dong Tien commune, Khoai Chau district, Hung Yen province. Two stone steles praising his virtues are still preserved there—one intact, the other broken into four pieces but conserved. The inscriptions describe him as upright, incorruptible, loyal to the Ly dynasty, and instrumental in preserving the kingdom during troubled times. The steles, written in classical Chinese during the Le Trung Hung period, follow the elegant Goihac–Tuyêt poetic style.
Tradition holds that the temple originated during the Ly dynasty. Archaeological surveys uncovered tile and brick fragments characteristic of Ly–Tran culture. In 1887, while suppressing the Bai Say uprising, French colonial forces burned the temple to the ground. In 1903 (Year of Quy Mao), local villagers rebuilt it on the original foundation in the “inner Công, outer Quốc” architectural style, comprising seven buildings with thirty-two bays. Later wars damaged several structures, but restoration efforts have gradually recovered much of the complex. Today the temple retains the “Noi Cong ngoai Quoc” layout. The main worship area includes the Tien te hall, Trung tu, two longitudinal Ong muong chambers, and the Hau cung, whose wooden framework remains robust. The Hau cung features a two-tiered, eight-roof chong diem structure with intricate floral carvings.
The temple houses two wooden guardian statues, each 1.8 meters tall, and a stele recording Do Anh Vu’s biography and achievements. An annual festival takes place on the 20th day of the ninth lunar month in his honor. A gilded hoanh phi plaque describing his burial rites is also preserved. His burial followed the Cuu Tru protocol, reflecting the respect accorded to him as a figure of merit.
By Decision No. 97/QD dated 21 January 1992, the Ministry of Culture – Information and Sports classified An Lac Temple as a National Historical and Artistic Monument.
References
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Khuyết danh (Trần Quốc Vượng dịch), 2005. Việt sử lược. NXB Thuận Hóa, Huế.
Tiếng Pháp
Thai uy Do Anh Vu
Origines
Do Anh Vu 杜英武 (1113 – 20 janvier 1159) fut un haut dignitaire ayant phụcụ trois règnes de la dynastie Ly, depuis Ly Nhan Tong jusqu’à Ly Anh Tong. Il assista Ly Than Tong puis exerça la fonction de régent sous le règne de Ly Anh Tong.
Selon l’inscription funéraire de sa stèle au village de Yen Lac (actuel Khoai Chau, province de Hung Yen), Do Anh Vu portait le biaohau Quan The (冠世). Sa lignée maternelle était originaire du clan Quach de Lung Tay. Son père, Do Tuong 杜相, était le neveu de Thai uy Ly Thuong Kiet. Do Anh Vu avait une sœur (ou une cadette) nommée Quynh Anh, mariée par la suite à un mandarin de rang Thi trung du clan Pham. Il est très probable qu’il s’agisse de Chieu Hien Hoang hau Do thi, épouse du Sung Hien hau et mère de l’empereur Ly Than Tong.
Il avait un cousin occupent la charge de Quan Thi trung et deux filles servantes du roi Ly Anh Tong. L’aînée est inconnue, la cadette, nommée Do Thuy Chau, donna naissance au prince Thien Bao (1154) ainsi qu’à plusieurs princes, dont Ly Long Can, futur roi Ly Cao Tong.
Carrière politique
Do Anh Vu était réputé pour son allure élégante, son intelligence et sa polyvalence. Très jeune, il fut sélectionné pour entrer au palais en tant que Thuong lam tu de, servant régulièrement dans l’intérieur du palais impérial. À quinze ans, il fut adopté par le Thai su Truong Ba Ngoc, puis autorisé par l’empereur Ly Than Tong à servir à proximité directe du souverain.
Durant cette période, bénéficiant de la confiance impériale, il fut chargé de divers travaux dans la Cité interdite : constructions, cérémonial, et administration du palais intérieur. Il excellait dans de nombreux domaines : littérature, calculs, équitation, tir à l’arc, médecine et stratégie militaire.
À partir de 1135, il commença à participer aux expéditions militaires : d’abord la campagne contre le Chen Lap dans la région de Nghe An, puis la répression des insurgés Son Lieu dans les montagnes du Nord.
En 1137, l’empereur Ly Than Tong tomba malade et mourut. Avant de s’éteindre, il confia le destin de Dai Viet à Do Anh Vu. Celui-ci, avec Linh Chieu Thai hau, conduisit le prince héritier Thien To au trône, devenant l’empereur Ly Anh Tong. Dans un contexte de désordre politique, Do Anh Vu rétablit la discipline, gouverna l’État, fut nommé Thai uy, puis Phu quoc Thai uy, et reçut même la faveur du quoc tinh (nom impérial).
Entre 1138 et 1141, il dirigea les troupes contre la révolte de Than Loi dans le Nord. La rébellion fut écrasée, Than Loi capturé et exécuté, consolidant ainsi définitivement la position politique de Do Anh Vu.
Comme Ly Anh Tong était encore très jeune, le pouvoir s’accumula entre les mains de Do Anh Vu. De plus en plus autoritaire, il fut soupçonné d’entretenir une relation intime avec Linh Chieu Thai hau, provoquant le mécontentement de nombreux mandarins.
Vers 1150, Vu Dai, commandant Dien tien chi huy su, ainsi que Tri Minh vuong et Pho ma Duong Tu Minh accusèrent Do Anh Vu d’abus de pouvoir et de relations illicites avec la reine-mère. Do Anh Vu fut arrêté, mais grâce à l’intervention de Linh Chieu Thai hau, il échappa à la mort et retrouva sa charge. Redevenu puissant, il forma une garde personnelle appelée Phung ve do et lança une série de purges contre ses opposants.
Il fit accuser et punir sévèrement les adversaires politiques : Tri Minh vuong fut rétrogradé ; huit officiers Hoa dau furent exécutés au marché de Tay ; Vu Dai et vingt hommes furent exécutés à Giang Dau ; trente proches de Duong Tu Minh furent exilés en régions malsaines ; les autres furent rétrogradés.
En 1158, le mandarin Nguyen Quoc Di revint d’une ambassade en Chine et proposa d’installer une boîte à suggestions au palais. Une lettre anonyme accusa Do Anh Vu de trahison. Supposant que Quoc Di avait permis cette diffusion, Do Anh Vu demanda qu’il soit puni. Nguyen Quoc Di fut exilé à Qui Hoa. Peu après, alors que le roi envisageait d’alléger sa peine, Do Anh Vu, craignant un retour politique, envoya du poison pour le contraindre au suicide.
La carrière de Do Anh Vu est marquée simultanément par ses contributions décisives à la stabilité du royaume et par son autoritarisme et ses purges. Personnage complexe, il fut à la fois soutien indispensable de la dynastie Ly et source de profondes divisions au sein de la cour.
Le Dai Viet su ky toan thu rapporte l’avis de l’historien Le Van Huu :
« Do Anh Vu entrait et sortait du palais interdit, entretenait une relation illicite avec la reine-mère : il n’est pas de crime plus grave. »
L’historien Ngo Si Lien qualifie également Do Anh Vu de « grand malfaiteur ».
Temple et culte
À Khoai Chau, sa région natale, Do Anh Vu est vénéré comme Thanh hoang sous le nom de Duc Thanh Lac. Son temple se trouve actuellement au Den An Lac, commune de Dong Tien, district de Khoai Chau, province de Hung Yen. Deux stèles de pierre demeurent, l’une intacte, l’autre fragmentée en quatre morceaux mais conservée. L’inscription le décrit comme un homme droit, intègre, loyal, ayant œuvré pour préserver la dynastie Ly en période troublée. Les textes sont gravés en écriture chinoise classique à l’époque des Le Trung Hung, dans un style littéraire soigné.
On raconte que le temple fut fondé sous les Ly. Des fragments de briques et tuiles de style Ly – Tran ont été retrouvés. En 1887, lors de la répression du mouvement Bai Say, les Français incendièrent entièrement le temple. En 1903 (année Quy Mao), les habitants reconstruisirent l’édifice selon un plan Noi Cong ngoai Quoc comprenant sept bâtiments et trente-deux travées.
Malgré les guerres, une partie de l’architecture fut préservée et progressivement restaurée. Le temple conserve encore cette structure traditionnelle : Tien te (5 travées), Trung tu (5 travées), Ong muong (2 travées) et Hau cung (3 travées). Le Hau cung, à double étage et huit toitures, se distingue par ses sculptures florales fines et complexes.
Le temple abrite également deux statues de gardiens Ho phap de 1,8 m, une stèle retraçant ses mérites, ainsi qu’un panneau laqué doré décrivant son inhumation selon le rituel du Cuu Tru, symbole d’hommage suprême.
Chaque année, le 20ᵉ jour du neuvième mois lunaire, le temple organise une fête traditionnelle en l’honneur de Do Anh Vu.
Par décision n°97/QD du 21 janvier 1992 du ministère de la Culture, de l’Information et des Sports, le Den An Lac a été classé monument national d’histoire et d’art.
Références
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Khuyết danh (Trần Quốc Vượng dịch), 2005. Việt sử lược. NXB Thuận Hóa, Huế.
TiếngTrung
太尉杜英武(Do Anh Vu)
身世
杜英武(杜英武 Do Anh Vu,1113-1159年1月20日)是李朝三代君主——李仁宗(李仁宗 Ly Nhan Tong)、李神宗(李神宗 Ly Than Tong)及李英宗(李英宗 Ly Anh Tong)时期的重要大臣。他辅佐李神宗,并在李英宗朝担任辅政大臣。
据兴安省快州(今兴安省快州县)安乐村墓碑所载,杜英武的表字为冠世(冠世 Quan The),其外家为陇西郭氏。其父杜相(杜相 Do Tuong)是李常杰(李常傑 Ly Thuong Kiet)的外甥。杜英武有一位亲姐妹名为琼英(琼英 Quynh Anh),后嫁给中侍官范氏,极可能便是后世所称的昭宪皇后杜氏——崇贤侯(崇賢侯 Sung Hien Hau)之正妻、李神宗之母。
他尚有一位堂兄任中侍官,并有两位女儿入侍李英宗。其中姐姐姓名不详,妹妹名为杜瑞珠(杜瑞珠 Do Thuy Chau),后生下皇子天保(天保 Thien Bao,1154)及多位皇子,其中包括李龙简(李龍簡 Ly Long Can),后即位为李高宗(李高宗 Ly Cao Tong)。
政治生涯
杜英武相貌俊美,聪慧多才,自幼入宫为上林子弟,常侍于内庭。十五岁时,被太师张伯玉(張伯玉 Truong Ba Ngoc)收为义子,此后受李神宗亲信,得以在帷幄中伺奉皇帝。在此期间,他获委以多项宫中事务,从建筑、礼仪到内院管理,无所不通;其知识广博,精于文字、算术、骑射、医术与兵法。
自1135年起,他参与军事行动,先率军征讨乍剌于乂安地区,继而平定北方山寮叛乱。
1137年,李神宗崩逝。临终前,皇帝将大越社稷托付给杜英武。其后,他与灵昭太后(靈昭太后 Linh Chieu Thai Hau)共同迎立皇太子天祚(天祚 Thien To)即位,是为李英宗。朝廷动荡之际,他整顿纪纲、主持政务,被封为太尉、辅国太尉,并获赐国姓。
1138–1141年间,他率军平定北境的申利(申利 Than Loi)叛乱,生擒申利并处死,从而巩固了其在朝廷中的政治权势。
因李英宗年幼,朝政大权多由杜英武掌握,他亦变得愈发专权,并因与灵昭太后有暧昧关系的传闻,引起众臣不满。
约1150年,殿前指挥使武带(武帶 Vu Dai)联合智明王(智明王 Tri Minh Vuong)和驸马杨自明(楊自明 Duong Tu Minh)弹劾杜英武专权及与太后私通。杜英武被捕下狱,但因灵昭太后干预而免死,随后复职继续辅政。重掌权力后,他组建“奉卫都”亲军,并清洗反对派。他诬陷反对者,李英宗听从其言,下诏贬黜智明王为侯,八名火头军在西市斩首,武带与其属下二十人被处斩于江头,杨自明及其党羽三十人被流放至瘴毒之地,其余皆贬为虎贲或田横。
1158年,左司阮国矣(阮國矣 Nguyen Quoc Di)出使宋朝归国后,建议在朝中设立意见箱,以收纳群臣奏议。开启木箱后,出现匿名信指控杜英武谋反。杜英武认为阮国矣是纵容谣言传播之人,因而上奏治罪。阮国矣被流放至奎化。不久皇帝有意赦免召回,杜英武担心其报复,遂派人逼其饮下毒酒,阮国矣知无可逃避,只得含恨饮毒身亡。
自辅佐李英宗、平乱、整肃朝政,到专权与肃清反对者,杜英武的一生是功勋与争议并存。他在维系幼主时期的政局稳定方面有不可否认的贡献,但同时也是导致李朝政治分裂的关键人物。
《大越史记全书》载史家黎文休(黎文休 Le Van Huu)评曰:
“杜英武出入禁闱,与太后通奸,其罪莫大焉。”
史家吴士连(吳士連 Ngo Si Lien)亦称其为“大恶之人”。
祠庙与祭祀
在家乡快州,当地百姓尊奉杜英武为城隍,俗称“德圣勒”。现今供奉杜英武的安乐殿位于兴安省快州县同进社。殿中保存两块歌颂其功德的石碑,一块完整,另一块虽破为四段但已修复。碑文描述他刚直清廉、忠义辅国,于李朝动荡时期多有贡献。碑刻属黎中兴时代,汉字古体,文风谨严,采用“鵠背—四绝”格式。
传说祠庙初建于李朝。考古调查曾发现多块带有李–陈文化特征的砖瓦。1887年,法军在镇压“芦甫起义”(Bãi Sậy)期间焚毁庙宇。1903年(癸卯年),当地民众在旧址上按“内工外国”格局重建,共七栋三十二间,包括午门三间、前殿五间二翼、二殿五间、两廊十间、正心殿七间等。历经两次战乱,部分建筑遭毁坏,后经地方政府与民众逐步修复。现存格局仍为“内工外国”:前殿五间、中殿五间、过道二间、后殿三间。结构多为“四铁木材”,保存较好,其中后殿为两层八檐覆叠式,木构件雕刻繁复精美。
殿内现存两尊高达1.8米的护法木像、一块记载杜英武生平功业的神道碑。每年农历九月二十日,安乐殿举行祭典以纪念其功德。殿中还存有描绘其安葬礼制的朱金匾额,葬礼遵循“九俎”之法,可见其受崇敬程度之高。
根据1992年1月21日文化—信息—体育部第97/QĐ号文件,安乐殿被列为国家级“历史与艺术”遗迹。
参考
- Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần (tập 1), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1), Nxb Giáo dục, Hà Nội.
- Khuyết danh (Trần Quốc Vượng dịch), 2005. Việt sử lược. NXB Thuận Hóa, Huế.