Thân thế
Đinh Điền là bạn đồng hương của Đinh Bộ Lĩnh, quê gốc ở động Hoa Lư thuộc châu Đại Hoàng, nay là xã Đại Hoàng của tỉnh Ninh Bình. Thần phả đền thờ Đinh Điền tại Yên Mô và sách Những nhân vật lịch sử thời Đinh – Lê cho biết cha ông là Đinh Thân, quê ở Gia Phương (Gia Viễn), mẹ là bà Dương Thị Liễu, quê Khánh An (Đông Hoa Lư), đều thuộc địa phận Ninh Bình. Một số tư liệu khác lại ghi mẹ ông quê ở Yên Mạc, khu Yên Phú thuộc huyện Yên Mô. Khi sinh ra, ông có tên là Đinh Trào, còn Điền là tên chữ và về sau trở thành tên gọi quen thuộc.
Đinh Điền và Đinh Bộ Lĩnh cùng sinh năm Giáp Thân (924) và đều là người làng Đại Hữu của châu Đại Hoàng. Thuở nhỏ, khi theo trâu ở vùng Thung Lau (động Hoa Lư, Gia Hưng), ông cùng đám trẻ trong làng thường lấy hoa lau làm cờ và khoanh tay làm kiệu để tôn Đinh Bộ Lĩnh làm chúa. Tình bạn gắn bó giữa Đinh Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc và Đinh Điền bắt nguồn từ thuở ấu thơ bên những cuộc chơi “cờ lau tập trận”, khác hẳn kiểu kết nghĩa khi thời thế biến động như chuyện Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi trong lịch sử Trung Quốc.
Sử sách đánh giá Đinh Bộ Lĩnh là người có tài năng và mưu lược nổi bật, Nguyễn Bặc là người thẳng thắn, quyết đoán và nhiệt huyết. Trong khi đó, Đinh Điền nổi bật với sự điềm tĩnh, thận trọng và uyên bác. Tính cách ấy phản ánh qua việc ông từng dạy học, đi tu và được Đinh Bộ Lĩnh tin tưởng giao các chức vụ quan trọng như Ngoại giáp, Nhập nội kiểm giáo Đại Tư đồ và Bình chương trọng sự.
Công thần nhà Đinh
Khi trưởng thành, Đinh Điền cùng Nguyễn Bặc, Lưu Cơ và Trịnh Tú phò tá Đinh Bộ Lĩnh từ những ngày đầu dựng cờ chiếm lĩnh vùng Hoa Lư. Trong nhóm này, ông và Nguyễn Bặc đảm nhiệm vai trò tướng võ, còn Lưu Cơ và Trịnh Tú phụ trách công việc quân vụ và chính sự.
Các tư liệu chính sử không chép phần nhiều về hành trạng của ông trong công cuộc dẹp loạn 12 sứ quân. Tuy nhiên các tư liệu thần tích và thần phả đều đồng nhất cho rằng: đến năm 965, nhà Ngô suy vong. Đinh Điền tiếp tục cùng các đồng đội hỗ trợ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân. Khi được giao chỉ huy quân đánh các thế lực của Phạm Bạch Hổ và Lã Đường qua vùng Đằng Man (nay thuộc thành phố Hưng Yên), ông lập đại bản doanh tại đây. Đinh Điền cũng là người chiêu tập được nhiều võ tướng có tài, góp phần củng cố lực lượng cho Đinh Bộ Lĩnh. Trong số đó có thiền sư Kiều Mộc Lương Tuấn ở Ninh Bình; Lê Xuân Vinh và Luận Nương tại vùng Long Biên; các tướng Phạm Thành, Lưu Công và Sát Công tại Lộc Thọ; bốn anh em họ Trịnh gồm Trịnh Minh, Trịnh Lương, Trịnh Nguyên và Trịnh Khang ở Điệp Nông; cùng tướng Nguyễn Phúc ở Thái Thụy.
Theo dã sử, Đinh Điền đã giúp Đinh Bộ Lĩnh thu phục thế lực của Phạm Phòng Át, đang trấn giữ Nam Sách giang và Bạch Đằng giang thuộc Hồng Châu. Sau thắng lợi, ông đưa quân về vườn Hồng Ba Đống tại Hải Môn (nay là làng Nhân Kiệt, xã Kẻ Sặt, Hải Phòng) để lập căn cứ và luyện quân. Triều đình thưởng ông năm trăm mẫu ruộng và nhiều trâu cày.
Theo ghi chép chính sử, sau khi bình định mười hai sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế và phong Đinh Điền giữ chức Ngoại giáp, phụ trách các công việc đối ngoại và quân sự. Thần phả một số địa phương ghi nhận ông còn nắm giữ chức Nhập nội kiểm giáo Đại Tư đồ, Bình chương trọng sự. Nhận được ban thưởng ruộng đất và gia súc, Đinh Điền chiêu tập dân cư, hình thành hai làng Nhân Kiệt và Tuấn Kiệt tại Kẻ Sặt (Hải Phòng), đồng thời phát triển nhiều thôn làng dọc theo sông Vạc thuộc các xã Yên Khánh và Yên Mô ở Ninh Bình.
Bị hại
Năm Kỷ Mão 979, sau khi Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt Vương Đinh Liễn bị sát hại, triều đình đưa Đinh Toàn mới sáu tuổi lên ngôi. Quyền lực thực tế rơi vào tay Lê Hoàn trong vai trò Nhiếp chính. Ông thường ra vào cung cấm và có quan hệ tư thông với Dương Thái hậu, mẹ của ấu chúa. Không lâu sau, Lê Hoàn tự xưng Phó Vương và nắm toàn bộ việc lớn trong triều.
Trước tình thế đó, Đinh Điền nhận thấy Lê Hoàn có ý định tiếm đoạt và bàn bạc với Nguyễn Bặc, Phạm Hạp cùng một số trung thần để tìm cách khôi phục quyền lực cho nhà Đinh. Họ rời bỏ chức vị, chiêu tập nghĩa sĩ và chuẩn bị lực lượng chống lại Lê Hoàn.
Đinh Điền liên kết với Nguyễn Bặc và Phạm Hạp, tổ chức hai đạo quân thủy bộ từ Ái Châu tiến về kinh đô Hoa Lư nhằm trừ bỏ Lê Hoàn. Tuy nhiên, Lê Hoàn đã tận dụng gió đông nam để tiến hành hỏa công, thiêu hủy toàn bộ thuyền bè và làm tan rã lực lượng thủy quân của đối phương. Đinh Điền tử trận trong cuộc giao chiến này. Không lâu sau, Nguyễn Bặc và Phạm Hạp cũng thất bại, bị bắt và bị xử tử.
Các tài liệu ghi nhận thời điểm trận chiến và cái chết của Đinh Điền không thống nhất. Sử sách thường cho rằng sự kiện xảy ra cuối năm 979. Thần phả ở Ninh Bình lại ghi vào ngày 20 tháng 4 năm Canh Thìn tương ứng 5 tháng 6 năm 980. Một số thần phả khác cho rằng vợ chồng ông thua trận và tự vẫn ngày 20 tháng 11 năm Kỷ Mão tức 12 tháng 12 năm 979, thay vì tử trận trên chiến trường.
Thờ tự
Nhiều địa phương, nhất là tại Ninh Bình, lập đền thờ ông và Nguyễn Bặc. Đinh Điền được phong làm thành hoàng của nhiều làng ở miền Bắc, đền thờ ông có ở nhiều nơi như: Ninh Bình, Hải Phòng, Hà Nội và Hưng Yên, tiêu biểu như:
Đền Kim Đằng ở phường Sơn Nam, Hưng Yên, là nơi Đinh Điền đã đóng quân và kết duyên cùng Phan Thị Môi.
Đình Đằng Chương ở xã Vạn Thắng, tỉnh Ninh Bình.
Đình Nhân Kiệt, xã Kẻ Sặt Hải Phòng.
Đình Tuấn Kiệt, xã Kẻ Sặt Hải Phòng.
Đền Đinh Điền ở xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên.
Đình Tam Dương, xã Khánh Dương huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
Đền Tứ Trụ ở quần thể danh thắng Tràng An, Ninh Bình phối thờ ông cùng Nguyễn Bặc, Trịnh Tú, Lưu Cơ
Đền Tứ Trụ hay đình Bái ở xã Thanh Sơn (Ninh Bình).
Đình Tình Quang ở xã Việt Hưng và Phúc Lợi, Hà Nội thờ Đinh Điền cùng 2 vị vị Vua Lý Nam Đế và Lý Chiêu Hoàng.
Đình Lộc Thọ, xã Lê Quý Đôn, Hưng Yên thờ Đinh Điền cũng Nguyễn Bặc, Lưu Công và Sát Công.
Mộ và đền thờ tại Trúc Lâm (Yên Tử, Quảng Ninh), nơi đây là quê mẹ của ông và cũng là nơi ông tu hành.
Cố đô Hoa Lư và đền thờ Đinh Bộ Lĩnh (Đại Hoàng, Ninh Bình) phối thờ ông cùng Vua Đinh Tiên Hoàng.
Đình Đống Xung, khu Thắng Lợi, xã Chương Dương, Hà Nội thờ Đinh ngoại giáp (Đinh Điền) cùng Trần triều Hoàng hậu
Dù giành được ngôi báu, Lê Hoàn vẫn kính trọng Đinh Điền và sắc phong ông là Tế Thế Hộ Quốc Hiển Ứng Linh Quang Đại Vương. Phan Môi Nương vợ ông, cũng được phong Huệ Hoa Gia Tĩnh Trinh Thục phu nhân. Về sau, vua Lê Thái Tổ tiếp tục truy phong Đinh Điền là Thượng đẳng Vạn cổ Phúc thần Trung thánh Đại tư đồ Bình chương sự Khai ốc Công đức Văn Đại Vương.
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Giao Chau’s Seven Heroes – Dinh Dien
Background
Dinh Dien was a fellow countryman and close companion of Dinh Bo Linh, originating from Dong Hoa Lu in Chau Dai Hoang, now part of Dai Hoang commune in Ninh Binh province. According to the deity records at the Dinh Dien temple in Yen Mo and the book Nhung nhan vat lich su thoi Dinh – Le, his father was Dinh Than from Gia Phuong (Gia Vien), and his mother was Duong Thi Lieu from Khanh An (Dong Hoa Lu), all within the present-day boundaries of Ninh Binh. Some other sources record his mother’s hometown as Yen Mac in the Yen Phu area of Yen Mo district. At birth, he was named Dinh Trao; “Dien” was his courtesy name and later became his commonly known name.
Dinh Dien and Dinh Bo Linh were both born in the year Giap Than (924), and both came from Dai Huu village of Chau Dai Hoang. As children herding buffalo in the Thung Lau area (Dong Hoa Lu, Gia Hung), they and other village boys often used reeds as flags and formed makeshift palanquins with their arms to honor Dinh Bo Linh as their chieftain. The bond among Dinh Bo Linh, Nguyen Bac, and Dinh Dien began in childhood during these “reed-flag mock battles,” contrasting with the sworn brotherhood formed by Liu Bei, Guan Yu, and Zhang Fei amid political upheaval in Chinese history.
Historical sources describe Dinh Bo Linh as exceptionally talented and strategic, while Nguyen Bac was straightforward, decisive, and fervent. In contrast, Dinh Dien was known for his composure, prudence, and erudition. These traits are reflected in the fact that he once taught, practiced religious life, and was later entrusted by Dinh Bo Linh with important positions such as Ngoai giap, Nhap noi kiem giao Dai Tu do, and Binh chuong trong su.
A Meritorious Official of the Dinh Dynasty
As an adult, Dinh Dien, together with Nguyen Bac, Luu Co, and Trinh Tu, supported Dinh Bo Linh from the earliest days of consolidating power in the Hoa Lu region. In this group, he and Nguyen Bac served as military commanders, while Luu Co and Trinh Tu handled administrative and military affairs.
Official historical sources record little about his activities during the campaign to suppress the Twelve Warlords. However, deity records consistently state that by 965, after the Ngo dynasty declined, Dinh Dien continued assisting Dinh Bo Linh in subduing the Twelve Warlords. When tasked with leading the army against the forces of Pham Bach Ho and Lu Duong in the Dang Man region (now part of Hung Yen City), he established his main camp there. He was also known for recruiting many talented generals, strengthening Dinh Bo Linh’s forces. Among them were the monk-general Kieu Moc Luong Tuan of Ninh Binh; Le Xuan Vinh and Luan Nuong from Long Bien; the generals Pham Thanh, Luu Cong, and Sat Cong from Loc Tho; the four Trinh brothers—Trinh Minh, Trinh Luong, Trinh Nguyen, and Trinh Khang—from Diep Nong; and the general Nguyen Phuc from Thai Thuy.
According to folklore, Dinh Dien helped Dinh Bo Linh defeat Pham Phong At, who controlled the Nam Sach and Bach Dang river regions in Hong Chau. After the victory, he stationed his troops at the Hong Ba Dong garden in Hai Mon (now Nhan Kiet village, Ke Sat commune, Hai Phong) to build a base and train soldiers. The court rewarded him with five hundred mau of farmland and many plow buffaloes.
Official records state that after the unification of the Twelve Warlords, Dinh Bo Linh ascended the throne and appointed Dinh Dien as Ngoai giap, responsible for external affairs and military matters. Local deity records note that he also held positions such as Nhap noi kiem giao Dai Tu do and Binh chuong trong su. Granted land and livestock by the court, Dinh Dien gathered people to form the villages of Nhan Kiet and Tuan Kiet in Ke Sat (Hai Phong), and also developed many villages along the Vac River in the areas of Yen Khanh and Yen Mo in Ninh Binh.
Death
In the year Ky Mao, 979, after Dinh Tien Hoang and Nam Viet Vuong Dinh Lien were assassinated, the court enthroned the six-year-old Dinh Toan. Real power fell into the hands of Le Hoan, who served as Regent. He frequently entered the inner palace and had illicit relations with Duong Thai hau, the emperor’s mother. Soon after, Le Hoan declared himself Pho Vuong and monopolized all major affairs.
Recognizing Le Hoan’s intent to usurp the throne, Dinh Dien discussed with Nguyen Bac, Pham Hap, and several loyal officials to restore authority to the Dinh dynasty. They abandoned their official positions, rallied righteous men, and prepared forces against Le Hoan.
Dinh Dien aligned with Nguyen Bac and Pham Hap to lead two land and naval forces from Ai Chau toward the Hoa Lu capital to eliminate Le Hoan. However, Le Hoan exploited the southeast wind to launch a fire attack, burning their fleet and scattering their naval forces. Dinh Dien was killed in the ensuing battle. Shortly after, Nguyen Bac and Pham Hap were defeated, captured, and executed.
Historical records differ on the timing of the battle and of Dinh Dien’s death. Most sources place the event at the end of 979. Deity records in Ninh Binh, however, state it occurred on the 20th day of the 4th month of the Canh Thin year, corresponding to June 5, 980. Other records claim that he and his wife committed suicide after defeat on the 20th day of the 11th month of the Ky Mao year, or December 12, 979, instead of dying in battle.
Veneration
Many localities, especially in Ninh Binh, established temples dedicated to him and Nguyen Bac. Dinh Dien is revered as a Thanh Hoang (tutelary deity) in numerous northern villages. Temples dedicated to him exist in many locales, including Ninh Binh, Hai Phong, Hanoi, and Hung Yen. Notable examples include:
- Kim Dang Temple in Son Nam ward, Hung Yen, where Dinh Dien once stationed troops and married Phan Thi Moi.
- Dang Chuong communal house in Van Thang commune, Ninh Binh.
- Nhan Kiet communal house, Ke Sat, Hai Phong.
- Tuan Kiet communal house, Ke Sat, Hai Phong.
- Dinh Dien Temple in Luong Bang commune, Hung Yen.
- Tam Duong communal house in Khanh Duong commune, Yen Mo district, Ninh Binh.
- Tu Tru Temple in the Trang An Scenic Complex, Ninh Binh, jointly venerating him with Nguyen Bac, Trinh Tu, and Luu Co.
- Tu Tru Temple (also known as Bai communal house) in Thanh Son commune, Ninh Binh.
- Tinh Quang communal house in Viet Hung and Phuc Loi communes, Hanoi, venerating Dinh Dien along with Ly Nam De and Ly Chieu Hoang.
- Loc Tho communal house in Le Quy Don commune, Hung Yen, venerating Dinh Dien together with Nguyen Bac, Luu Cong, and Sat Cong.
- His tomb and temple at Truc Lam (Yen Tu, Quang Ninh), the homeland of his mother and the place where he once practiced religious life.
- The Hoa Lu Ancient Capital and the Dinh Bo Linh Temple (Dai Hoang, Ninh Binh), where he is venerated alongside Emperor Dinh Tien Hoang.
- Dong Xung communal house in Thang Loi hamlet, Chuong Duong commune, Hanoi, venerating “Dinh Ngoai giap” (Dinh Dien) together with a Tran dynasty empress.
Though he seized the throne, Le Hoan respected Dinh Dien and granted him the posthumous title Te The Ho Quoc Hien Ung Linh Quang Dai Vuong. His wife, Phan Moi Nuong, received the title Hue Hoa Gia Tinh Trinh Thuc phu nhan. Later, King Le Thai To posthumously elevated him to Thuong dang Van co Phuc than Trung thanh Dai tu do Binh chuong su Khai oc Cong duc Van Dai Vuong.
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Pháp
Giao Chau that hung Dinh Dien
Origines
Dinh Dien était un compatriote de Dinh Bo Linh, originaire du dong Hoa Lu du chau Dai Hoang, correspondant aujourd’hui à la commune Dai Hoang de la province de Ninh Binh. Selon la than pha du temple dédié à Dinh Dien à Yen Mo et l’ouvrage Nhung nhan vat lich su thoi Dinh – Le, son père était Dinh Than, originaire de Gia Phuong (Gia Vien), et sa mère, Duong Thi Lieu, originaire de Khanh An (Dong Hoa Lu), tous deux situés dans l’actuelle province de Ninh Binh. D’autres sources mentionnent que sa mère serait originaire de Yen Mac, dans la zone Yen Phu du district Yen Mo. À sa naissance, il portait le nom de Dinh Trao, tandis que Dien était son nom de courtoisie, devenu plus tard le nom utilisé couramment.
Dinh Dien et Dinh Bo Linh, tous deux nés en l’an Giap Than (924), étaient originaires du village Dai Huu du chau Dai Hoang. Dans leur enfance, lorsqu’ils gardaient les buffles dans la région Thung Lau (dong Hoa Lu, Gia Hung), ils jouaient avec les enfants du village en utilisant des fleurs de roseau comme drapeaux, portant Dinh Bo Linh sur un palanquin improvisé et le proclamant « chef ». L’amitié étroite entre Dinh Bo Linh, Nguyen Bac et Dinh Dien remonte à ces jeux d’enfants dits co lau tap tran, différents des serments fraternels inspirés par les temps troublés tels que ceux de Liu Bei, Guan Yu et Zhang Fei dans l’histoire chinoise.
Les chroniqueurs décrivent Dinh Bo Linh comme un homme de talent et de stratégie exceptionnels, Nguyen Bac comme franc, énergique et résolu. Quant à Dinh Dien, il se distinguait par sa pondération, sa prudence et son érudition. Ces traits se reflétaient dans son passé de maître d’école et de religieux, ainsi que dans la confiance que lui accorda Dinh Bo Linh qui lui confia d’importantes fonctions telles que Ngoai giap, Nhap noi kiem giao Dai Tu do et Binh chuong trong su.
Grand serviteur de la dynastie Dinh
Devenu adulte, Dinh Dien, accompagné de Nguyen Bac, Luu Co et Trinh Tu, soutint Dinh Bo Linh dès les premières campagnes visant à prendre le contrôle de la région d’Hoa Lu. Parmi eux, lui et Nguyen Bac exerçaient un rôle militaire, tandis que Luu Co et Trinh Tu s’occupaient des affaires administratives et militaires.
Les sources officielles ne relatent que peu d’éléments sur ses actions durant la pacification des Douze Seigneurs rebelles. Toutefois, les traditions locales et les than tich s’accordent à dire qu’en 965, alors que la dynastie Ngo déclinait, Dinh Dien continua d’assister Dinh Bo Linh dans la soumission des douze factions. Chargé de vaincre les forces de Pham Bach Ho et La Duong dans la région Dang Man (actuelle province Hung Yen), il y installa son quartier général. Dinh Dien sut aussi rallier de nombreux chefs militaires talentueux pour renforcer les troupes de Dinh Bo Linh. Parmi eux figuraient le moine-commandeur Kieu Moc Luong Tuan de Ninh Binh ; Le Xuan Vinh et Luan Nuong de Long Bien ; les généraux Pham Thanh, Luu Cong et Sat Cong de Loc Tho ; les quatre frères Trinh Minh, Trinh Luong, Trinh Nguyen et Trinh Khang de Diep Nong ; ainsi que le général Nguyen Phuc de Thai Thuy.
Selon des récits traditionnels, Dinh Dien apporta également son aide à Dinh Bo Linh dans la conquête des territoires contrôlés par Pham Phong At, qui gardait alors Nam Sach giang et Bach Dang giang du Hong Chau. Après la victoire, il établit une base militaire au jardin Hong Ba Dong à Hai Mon (aujourd’hui village Nhan Kiet, commune Ke Sat, Hai Phong) pour entraîner ses troupes. La cour lui octroya cinq cents mau de terres et de nombreux bœufs de labour.
D’après les sources officielles, après la pacification des Douze Seigneurs, Dinh Bo Linh monta sur le trône et nomma Dinh Dien Ngoai giap, responsable des affaires militaires et diplomatiques. Plusieurs than pha locaux indiquent également qu’il occupa les fonctions de Nhap noi kiem giao Dai Tu do et Binh chuong trong su. Bénéficiant de terres et de bétail, Dinh Dien attira des colons et fonda les villages Nhan Kiet et Tuan Kiet à Ke Sat (Hai Phong), tout en développant plusieurs hameaux le long de la rivière Vac dans les communes Yen Khanh et Yen Mo de Ninh Binh.
Mort tragique
En l’an Ky Mao (979), après l’assassinat de Dinh Tien Hoang et du Nam Viet Vuong Dinh Lien, le jeune Dinh Toan, âgé de six ans, fut placé sur le trône. Le véritable pouvoir passa entre les mains de Le Hoan, régent, qui entrait librement dans le palais et entretint une liaison avec la reine-mère Duong Thai hau, mère du jeune souverain. Peu de temps après, Le Hoan se proclama Pho Vuong et prit en charge toutes les affaires du royaume.
Face à cette situation, Dinh Dien comprit que Le Hoan avait l’intention de s’emparer du trône et s’allia avec Nguyen Bac, Pham Hap et d’autres fidèles pour restaurer l’autorité de la maison Dinh. Ils abandonnèrent leurs charges, recrutèrent des partisans et préparèrent une offensive contre Le Hoan.
Dinh Dien, avec Nguyen Bac et Pham Hap, organisa deux armées – terrestre et fluviale – partant d’Ai Chau vers Hoa Lu pour éliminer Le Hoan. Cependant, ce dernier utilisa le vent du sud-est pour déclencher une attaque incendiaire, brûlant toute la flotte adverse et provoquant la déroute des troupes navales. Dinh Dien fut tué au combat. Peu après, Nguyen Bac et Pham Hap furent également vaincus, capturés et exécutés.
Les sources ne concordent pas sur la date exacte de la bataille et de la mort de Dinh Dien. Les chroniques officielles situent l’événement à la fin de l’année 979. Les than pha de Ninh Binh indiquent le 20e jour du 4e mois de l’an Canh Thin, correspondant au 5 juin 980. D’autres traditions affirment que lui et son épouse auraient été défaits puis se seraient suicidés le 20e jour du 11e mois de l’an Ky Mao, soit le 12 décembre 979, au lieu de mourir au combat.
Culte
De nombreuses localités, en particulier dans la province de Ninh Binh, érigèrent des temples en son honneur ainsi qu’en celui de Nguyen Bac. Dinh Dien est vénéré comme thanh hoang dans de nombreux villages du Nord. On trouve des temples qui lui sont dédiés notamment à :
- Den Kim Dang (phuong Son Nam, Hung Yen), où il stationna ses troupes et épousa Phan Thi Moi.
- Dinh Dang Chuong (xa Van Thang, Ninh Binh).
- Dinh Nhan Kiet (Ke Sat, Hai Phong).
- Dinh Tuan Kiet (Ke Sat, Hai Phong).
- Den Dinh Dien (xa Luong Bang, Hung Yen).
- Dinh Tam Duong (xa Khanh Duong, Yen Mo, Ninh Binh).
- Den Tu Tru du site Trang An (Ninh Binh), dédié conjointement à lui, Nguyen Bac, Trinh Tu et Luu Co.
- Den Tu Tru (ou Dinh Bai) à Thanh Son (Ninh Binh).
- Dinh Tinh Quang (xa Viet Hung et Phuc Loi, Hanoi), où il est vénéré aux côtés de Ly Nam De et Ly Chieu Hoang.
- Dinh Loc Tho (xa Le Quy Don, Hung Yen), où il est honoré avec Nguyen Bac, Luu Cong et Sat Cong.
- Le tombeau et le temple de Truc Lam (Yen Tu, Quang Ninh), terre natale de sa mère et lieu où il mena une vie religieuse.
- L’ancienne capitale Hoa Lu et le temple Dinh Bo Linh (Dai Hoang, Ninh Binh), où il est vénéré avec Dinh Tien Hoang.
- Dinh Dong Xung (xa Chuong Duong, Hanoi), dédié à Dinh ngoai giap (Dinh Dien) avec une impératrice de la dynastie Tran.
Bien qu’il eût usurpé le trône, Le Hoan respecta la mémoire de Dinh Dien et lui décerna le titre honorifique Te The Ho Quoc Hien Ung Linh Quang Dai Vuong. Son épouse Phan Moi Nuong reçut le titre Hue Hoa Gia Tinh Trinh Thuc phu nhan. Plus tard, le roi Le Thai To lui décerna à titre posthume l’appellation Thuong dang Van co Phuc than Trung thanh Dai tu do Binh chuong su Khai oc Cong duc Van Dai Vuong.
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
Tiếng Trung
交州七雄——丁田 (Dinh Dien)
身世
丁田 (Dinh Dien) 與 丁部領 (Dinh Bo Linh) 同鄉,原籍大黃州之華閭洞,即今寧平省大黃社。據燕慕丁田廟神譜及《丁–黎時期歷史人物》一書記載,其父為丁申 (Dinh Than),原籍嘉遠府嘉祥;母為楊氏了 (Duong Thi Lieu),原籍東華閭之慶安,皆屬寧平境內。另有資料稱其母出自燕謨縣燕富坊。生時名丁潮 (Dinh Trao),“田”為其字,後遂以字行。
丁田 (Dinh Dien) 與 丁部領 (Dinh Bo Linh) 同生於甲申(924)年,同為大黃州大有村人。幼時放牛於華閭洞(嘉興)之蓊嶺草澤,與村中兒童以蘆花為旗、以臂作轎,奉丁部領為主。丁部領、阮伯 (Nguyen Bac)、丁田三人之友誼源於幼時“蘆花習陣”的遊戲,並非如中國歷史上劉備、關羽、張飛因亂世而結義之類。
史籍評丁部領 (Dinh Bo Linh) 為智勇兼備、謀略出眾之人,阮伯 (Nguyen Bac) 性剛直果決、熱誠不屈;丁田 (Dinh Dien) 則以沉穩、慎重、博識見稱。丁田曾講學、亦曾出家修行,被丁部領深信,任以外甲、入內檢教大司徒、平章重事等要職。
丁朝功臣
成年後,丁田 (Dinh Dien) 與 阮伯 (Nguyen Bac)、劉基 (Luu Co)、鄭秀 (Trinh Tu) 自丁部領初起兵據華閭之時即隨侍輔佐。其間,丁田與阮伯統領武軍,劉基與鄭秀則掌軍務與政務。
正史雖未詳載其平定十二使君之事跡,但據多部神冊、神譜一致記載:至九六五年吳朝衰敗,丁田 (Dinh Dien) 與同伴協助丁部領掃平十二使君。奉命征討白虎使君范白虎 (Pham Bach Ho) 及路陽使君呂堂 (Lu Duong),由登蠻(今興安)進軍,並於當地立大本營。
丁田 (Dinh Dien) 又延攬多位武將名士,以強化丁部領之軍勢。其中包括寧平高僧橋木梁俊 (Kieu Moc Luong Tuan);龍編之黎春榮 (Le Xuan Vinh)、論娘 (Luan Nuong);祿壽之范成 (Pham Thanh)、劉公 (Luu Cong)、薩公 (Sat Cong);滅農之鄭明 (Trinh Minh)、鄭良 (Trinh Luong)、鄭原 (Trinh Nguyen)、鄭康 (Trinh Khang);以及太瑞之阮福 (Nguyen Phuc)。
據野史記載,丁田 (Dinh Dien) 曾助丁部領奪取鎮守南策江、白藤江之范房遏 (Pham Phong At) 勢力。勝後移軍至海門洪巴董園(今海防奇錫社仁傑村),建據點並操練士卒。朝廷賞其五百畝田地與眾多耕牛。
據正史記載,平定十二使君後,丁部領即位稱帝,任命丁田 (Dinh Dien) 為外甲,主管外交與軍務。若干地方神譜載其兼任入內檢教大司徒、平章重事。受賞土地與牲畜後,丁田聚民開墾,在奇錫(海防)建立仁傑、俊傑二村,並於寧平之安慶、燕慕諸地沿雲雁河開拓多個村落。
遭害
己卯九七九年,丁先皇 (Dinh Tien Hoang) 與南越王丁璉 (Dinh Lien) 被弒後,年僅六歲之丁璿 (Dinh Toan) 被立為帝。實權落入攝政者黎桓 (Le Hoan) 手中。黎桓時常出入宮禁,與楊太后 (Duong Thai hau) 私通,不久自稱副王,專擅朝政。
局勢危急,丁田 (Dinh Dien) 認定黎桓有篡奪之意,遂與阮伯 (Nguyen Bac)、范合 (Pham Hap) 及諸忠臣密議,圖恢復丁氏政權。他們離職聚義,募集義士,準備討伐黎桓。
丁田與阮伯、范合分統水陸二軍,自愛州南下進攻華閭京城,欲除黎桓。但黎桓把握東南風施行火攻,焚盡丁軍舟艦,使水軍潰散。丁田 (Dinh Dien) 戰死於此役。不久阮伯與范合亦敗,被擒後處死。
史料對丁田之死期不一。正史一般稱事發於九七九年末;寧平神譜則記庚辰四月二十日(九八〇年六月五日);亦有神譜稱其夫妻敗後自盡於己卯十一月二十日(九七九年十二月十二日),而非死於戰場。
祀奉
多地建廟祭祀丁田 (Dinh Dien) 與阮伯 (Nguyen Bac),其中尤以寧平為盛。其為北方諸多村社之城隍。主要祀所如下:
- 興安省山南坊金登廟,為其駐軍與迎娶潘氏梅 (Phan Thi Moi) 之地。
- 寧平省萬勝社登章亭。
- 海防奇錫社仁傑亭。
- 海防奇錫社俊傑亭。
- 興安省良平社丁田廟。
- 寧平燕慕縣慶陽社三陽亭。
- 寧平長安名勝群之四柱廟,配祀阮伯、鄭秀、劉基。
- 寧平清山社四柱廟(或稱拜亭)。
- 河內越興、福利兩社之情光亭,祀丁田與李南帝、李昭皇二位君主。
- 興安黎貴敦社祿壽亭,祀丁田與阮伯、劉公、薩公。
- 廣寧安子竹林之墓祠,為其母家故里及出家之所。
- 寧平大黃古都之丁部領廟配祀丁田 (Dinh Dien)。
- 河內章陽社勝利村之洞崇亭,祀外甲丁(即丁田)與陳朝皇后。
黎桓雖奪取帝位,仍敬重丁田 (Dinh Dien),追封其為濟世護國顯應靈光大王。其妻潘梅娘 (Phan Moi Nuong) 封為惠花嘉靖貞淑夫人。後來,黎太祖復追封丁田為上等萬古福神、中聖大司徒、平章事、開屋功德文大王。
参考
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục, Nxb Giáo dục.
- Khuyết danh (2006), Việt sử lược, Trần Quốc Vượng dịch, Nxb Thuận Hóa.
