Hoàng hậu Bạch Ngọc

Hoàng hậu Bạch Ngọc

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Hoàng hậu Bạch Ngọc (tên thật là Trần Thị Ngọc Hào) là một nhân vật lịch sử tiêu biểu sống vào cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, được biết đến với công lao to lớn trong việc khai hoang lập ấp và hỗ trợ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn

Xuất thân

Hoàng hậu Bạch Ngọc xuất thân trong một gia đình dân dã, song lai lịch thân phụ của bà hiện còn nhiều điểm chưa thống nhất trong thư tịch cổ. Theo một số tài liệu, bà là con gái của ông Trần Công Thiệu, nhưng cũng có nguồn ghi là Trần Công Nhu hoặc Trần Ngọc Thiện. Cha bà thường được mô tả là một trại chủ, tuy nhiên các nhà nghiên cứu cho rằng cách ghi chép này còn giản lược, chưa phản ánh đầy đủ địa vị thực sự của gia đình bà. Đáng chú ý, có giả thuyết cho rằng thân phụ bà có thể chính là Thái bảo Trần Liêu, nhân vật được nhắc đến trong Đại Việt sử ký toàn thư, song nhận định này hiện vẫn cần tiếp tục đối chiếu và kiểm chứng.

Về quê quán, phần lớn tài liệu cho biết bà sinh ra tại làng Tri Bản, huyện Thổ Hoàng (nay thuộc xã Hòa Hải, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh). Một số nguồn khác lại cho rằng bà là người huyện Chi La, khu vực nay thuộc các huyện Hương Sơn và Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh. Dù còn dị biệt về địa danh cụ thể, các nguồn đều thống nhất rằng bà xuất thân từ vùng đất Hà Tĩnh – nơi nổi tiếng với truyền thống hiếu học, khí tiết và lòng yêu nước.

Sử sách ghi nhận Hoàng hậu Bạch Ngọc là người đoan trang, tài sắc vẹn toàn, nết na, thông tuệ và có tài đối đáp, ứng xử mực thước. Dù sống trong môi trường cung đình với nhiều khuôn phép và xa hoa, bà vẫn giữ được cốt cách quật cường, cùng tinh thần yêu nước sâu sắc, tạo nên hình ảnh một bậc mẫu nghi vừa mềm mại trong đức hạnh, vừa kiên định trong nhân cách.

Cuộc đời 

Hoàng hậu Bạch Ngọc nổi tiếng là người xinh đẹp, đoan trang, tài sắc vẹn toàn, có tư chất thông minh và tài đối đáp, được sử sách và truyền ngôn địa phương nhiều lần nhắc đến. Trong một lần vua Trần Duệ Tông  tuần du phương Nam, nhà vua cảm mến dung mạo và khí chất của bà, đưa bà về kinh thành Thăng Long, tuyển vào hậu cung. Theo chính sử, vua Trần Duệ Tông có Hoàng hậu Gia Từ họ Lê, song theo phổ ký tại chùa Am (Diên Quang tự) và truyền thống địa phương, bà Trần Thị Ngọc Hào được tuyển làm vợ thứ ba, về sau được suy tôn hoặc gọi là Hoàng hậu Bạch Ngọc.

Bà sinh cho vua Trần Duệ Tông một người con gái là Công chúa Huy Chân, tên thật Trần Thị Ngọc Hiền. Là con gái duy nhất của nhà vua trong thời kỳ này, công chúa Huy Chân được Duệ Tông đặc biệt yêu quý; nhờ đó, vị thế của bà Bạch Ngọc trong cung cũng ngày càng được coi trọng.

Biến cố triều đại và quyết định rời kinh thành

Năm 1377, vua Trần Duệ Tông thân chinh đánh Chiêm Thành và tử trận tại thành Đồ Bàn. Sau cái chết của ông, triều Trần rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng: Phế Đế Trần Nghiễn bị phế truất và giết chết; quyền lực dần rơi vào tay Hồ Quý Ly, dẫn tới sự suy vong của vương triều Trần, rồi tiếp đó là cuộc xâm lược của quân Minh.

Trước nguy cơ biến động triều chính, cung phi Bạch Ngọc từ khi chồng chết thì đau buồn, sầu muộn chốn hoàng cung, nay biết rằng khó mà yên ổn được nữa, sợ tai họa sẽ ập đến bèn bàn bạc với hai anh là Trần Đạt, Trần Duy cùng gia thần thân tín là Trần Quốc Trung, Nguyễn Thời Kính đem con gái là công chúa Huy Chân và người hầu thân thuộc, tổng cộng 572 người âm thầm rời khỏi kinh thành Thăng Long lánh về quê cha ở phủ Đức Quang, lộ Nghệ An tránh nạn.

Chuyện kể rằng sau khi rời khỏi Thăng Long, mẹ con bà hoàng Bạch Ngọc, Huy Chân có một chuyến hành trình gần 50 ngày đêm đầy gian khổ, nhiều người kiệt sức, ốm đau mà chết dọc đường. Khi đến nơi chỉ còn lại 172 người, họ chọn một ngọn núi trong vùng thâm sơn cùng cốc thuộc dãy Trà Sơn để dựng trại (núi này về sau được gọi là núi Vua để tỏ lòng ghi ơn bà). Sau khi giúp Lê Lợi đánh thắng giặc Minh, cả hai anh em Trần Đạt và Trần Duy đều được phong tước Đường Quốc Công. Cụ Trần Duy về thôn Thịnh Quả, huyện Đức Thọ, nay là xã Đức Châu, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, còn cụ Trần Đạt thì vào lập làng tại bờ bắc sông Gianh, làng đó là tổng An Bài, sau này là Thuận Bài. Mộ cụ Trần Đạt hiện nằm ở đảo Yến, còn mộ con trai Trần Khai nằm cách mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp 30m về phía Đông Bắc.

Đoàn người ban đầu có khoảng 572 người, trải qua gần 50 ngày đêm hành trình gian khổ, nhiều người chết dọc đường vì đói khát, bệnh tật. Khi đến vùng núi Cốc Sơn – Trà Sơn (nay thuộc các huyện Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Can Lộc), đoàn chỉ còn lại 172 người.

Khai hoang lập ấp, xây dựng cơ nghiệp ở Tây Hà Tĩnh

Tại vùng thâm sơn cùng cốc này, Hoàng hậu Bạch Ngọc không chọn đời sống ẩn dật đơn thuần mà bắt tay vào chiêu mộ lưu dân, cứu giúp dân nghèo và tổ chức khai khẩn đất hoang. Chỉ trong một thời gian, bà đã tập hợp được hơn 3.000 người, mở mang ruộng đất, rừng núi, đồi hoang.

Kết quả, một vùng trang trại rộng lớn được hình thành, với diện tích lên tới 3.965 mẫu ruộng, trải dài qua các địa bàn ngày nay thuộc Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê, Can Lộc và Vũ Quang. Bà cho lập nhiều làng xóm trù phú, khởi đầu từ bốn xóm/điếm: Lai Sơn, Ngũ Khê, Hằng Nga, Tùng Chinh, rồi mở rộng thành hàng chục xã thôn.

Bà còn gả các cung nữ thân tín cho gia thần, tiêu biểu như gả nàng Kỵ cho Nguyễn Thời Kính, nàng Phạm cho Trần Quốc Trung, rồi lấy tên hai cặp vợ chồng đặt cho các xóm mới là Kính Kỵ và Trung Phạm. Nhờ tài tổ chức và đức độ của bà, vùng đất Tây Hà Tĩnh dần trở thành một khu vực trù phú, ổn định, có lực lượng tự vệ vững mạnh nhưng kín đáo, tránh được sự dòm ngó của quân Minh.

Góp sức cho khởi nghĩa Lam Sơn

Trước khi chính thức xưng đế lập ra triều Hồ (1400–1407), Hồ Quý Ly đã tiến hành nhiều cuộc thanh trừng tôn thất, quý tộc nhà Trần, bức ép và sát hại các vua cuối triều Trần. Sau khi nắm quyền bính, triều Hồ tiếp tục thực thi hàng loạt chính sách nhằm hạn chế quyền lợi của vương hầu, quý tộc và các đại địa chủ, gây nên sự bất mãn sâu sắc trong tầng lớp quý tộc họ Trần và những lực lượng gắn bó với vương triều cũ. Chính trong bối cảnh đó, phong trào phản kháng họ Hồ do các quý tộc Trần khởi xướng đã nhanh chóng hình thành và lan rộng.

Xuất thân từ gia đình họ Trần, lại là Hoàng hậu của vua Trần Duệ Tông, Hoàng hậu Bạch Ngọc có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với tầng lớp quý tộc Trần. Ý thức về nguồn gốc dòng dõi và trách nhiệm lịch sử đã hình thành ở bà tâm niệm khôi phục cơ nghiệp nhà Trần. Trong quá trình sinh sống tại vùng rừng núi Hà Tĩnh, Hoàng hậu Bạch Ngọc không chỉ tổ chức khai hoang, lập ấp mà còn tập hợp được một lực lượng nông dân đông đảo, tạo tiền đề cho các hoạt động phản kháng chính trị – quân sự.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Hoàng hậu Bạch Ngọc đã trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia tổ chức phong trào chống triều Hồ tại khu vực Hương Sơn – Hương Khê – Đức Thọ. nSau khi nhà Hồ thất bại năm 1407, đất nước rơi vào ách thống trị tàn bạo của nhà Minh. Trước tình cảnh đó, phong trào đấu tranh vũ trang chống Minh bùng nổ mạnh mẽ trên phạm vi cả nước. Trong số các cuộc khởi nghĩa lớn, nổi bật nhất là hai cuộc khởi nghĩa do Trần Ngỗi (cuối năm 1407) và Trần Quý Khoáng (năm 1409) lãnh đạo. Cả hai đều do quý tộc họ Trần đứng đầu, tập hợp lực lượng đông đảo và hoạt động trên địa bàn rộng lớn, đặc biệt là khu vực miền Trung Đại Việt.

Cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng có ý nghĩa đặc biệt khi được phát động tại vùng rừng núi Hà Tĩnh. Huyện Chi La đầu thế kỷ XV chính là vùng Đức Thọ (Hà Tĩnh) ngày nay – nơi tập trung nhiều làng xã được hình thành từ công cuộc khai hoang quy mô lớn của Hoàng hậu Bạch Ngọc vào cuối thế kỷ XIV. Việc Trần Quý Khoáng chọn Chi La làm nơi dựng cờ khởi nghĩa không phải là ngẫu nhiên. Đây là khu vực có địa hình hiểm trở, thuận lợi cho tiến công và rút lui, đồng thời đã có nguồn lương thực dồi dào và dân cư ổn định nhờ quá trình khẩn hoang kéo dài hơn hai thập niên. Hệ thống kho lương tích trữ của Hoàng hậu Bạch Ngọc đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp hậu cần và bổ sung nhân lực cho nghĩa quân.

Chính quyền của vua Trùng Quang tồn tại trong 5 năm (1409–1414), với bộ máy gồm nhiều nhân vật kiệt xuất như Nguyễn Súy, Nguyễn Cảnh Dị, Đặng Dung, Nguyễn Chương… Dù đã gây cho quân Minh nhiều tổn thất, song phong trào cuối cùng vẫn thất bại do tính chất phân tán, thiếu một trung tâm lãnh đạo thống nhất và đủ uy tín.

Dẫu vậy, có thể khẳng định rằng Hoàng hậu Bạch Ngọc đã tích cực tham gia và đóng vai trò quan trọng trong phong trào kháng Minh giai đoạn đầu thế kỷ XV, thông qua việc xây dựng căn cứ địa, cung cấp lương thực và tạo nguồn nhân lực cho các cuộc khởi nghĩa tại Hà Tĩnh.

Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) do Lê LợiNguyễn Trãi lãnh đạo là đỉnh cao của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV. Trải qua gần mười năm gian khổ “nếm mật nằm gai”, cuộc khởi nghĩa đã phát triển thành một phong trào toàn quốc và kết thúc bằng thắng lợi vĩ đại, được Nguyễn Trãi khái quát trong Bình Ngô đại cáo:

Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ nay đổi mới

Từ năm 1424, theo kế sách của Nguyễn Chích, nghĩa quân Lam Sơn mở cuộc hành quân chiến lược vào Nghệ An – Hà Tĩnh, biến khu vực này thành địa bàn chiến lược và hậu phương quan trọng. Nhiều vùng đất Hà Tĩnh đã trở thành căn cứ quân sự và nơi cung cấp lương thực cho nghĩa quân.

Theo thống kê của GS. Phan Huy Lê, tại Hà Tĩnh hiện còn nhiều di tích liên quan đến nghĩa quân Lam Sơn, tiêu biểu như thành Lục Niên trên núi Thiên Nhẫn, núi Phù Lê (Hương Khê)… Đặc biệt, ông nhấn mạnh ơ Đức Thọ còn di tích một công trình khai hoang tương đối lớn của bà Hoàng hậu Bạch Ngọc vào đầu thế kỷ XV. Khi nghĩa quân tiến vào vùng này, cả trang trại rộng lớn đã nhanh chóng trở thành nguồn cung cấp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến.

Trong quá trình hành quân, các tướng Lam Sơn đã giao chiến với quân Minh chiếm đóng tại một số trang trại thuộc vùng khẩn hoang của Hoàng hậu Bạch Ngọc. Nhờ sự hỗ trợ của dân cư địa phương, quân Minh bị tiêu diệt, vùng đất này tiếp tục trở thành hậu cứ an toàn cho nghĩa quân.

Sau đó, Lê Lợi trực tiếp đến yết kiến Hoàng hậu Bạch Ngọc. Bà đã hiến toàn bộ lương thực, của cải tích trữ và vùng đất khai phá cho nghĩa quân Lam Sơn, đồng thời cho phép nông dân, tá điền gia nhập quân đội. Hai gia thần thân tín là Nguyễn Thời Kính và Trần Quốc Trung cũng theo Lê Lợi chinh chiến và lập nhiều chiến công.

Việc gả Công chúa Huy Chân cho Lê Lợi không chỉ mang ý nghĩa hôn nhân chính trị mà còn giúp thu hút sự ủng hộ của tầng lớp quý tộc và con cháu nhà Trần, góp phần củng cố tính chính danh cho khởi nghĩa Lam Sơn.

Sau khi đất nước giành lại độc lập, Hoàng Thái hậu Bạch Ngọc từ chối vinh hoa phú quý, xin dựng chùa Am (Diên Quang tự) và chùa Tiên Lữ, dành những năm cuối đời tu hành, chăm lo đời sống tinh thần cho nhân dân.

Có thể khẳng định rằng Hoàng Thái hậu Bạch Ngọc là một nhân vật lịch sử có đóng góp đặc biệt quan trọng đối với phong trào kháng Minh và khởi nghĩa Lam Sơn đầu thế kỷ XV. Bà không chỉ hỗ trợ hậu cần và nhân lực cho nghĩa quân mà còn xây dựng một vùng khẩn hoang rộng lớn, tạo nền tảng kinh tế – xã hội vững chắc cho cuộc kháng chiến. Những cống hiến của bà và con cháu xứng đáng được ghi nhận trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là lịch sử vùng Hà Tĩnh.

Phi tần nhà Hậu Lê

Sau khi sự nghiệp “bình Ngô” hoàn thành, Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, sáng lập ra nhà Hậu Lê, đó chính là Thái Tổ Cao hoàng đế – Lê Thái Tổ. Huy Chân Công chúa được phong làm Thục phi. Bà sinh hạ Trang Từ Công chúa Lê Thị Ngọc Châu. Từ đó không còn thấy tư liệu gì kể về bà. Về phần mẹ bà xin lại quê nhà tu hành, chọn chùa Am (còn gọi là chùa Diên Quang ở xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh ngày nay) làm nơi tu tập, ngày ngày tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thái dân an, cầu cho vong linh các quân sĩ đã hy sinh cho đất nước được siêu thoát.

Quy y cửa Phật và những năm cuối đời

Sau ngày đất nước độc lập, Hoàng hậu Bạch Ngọc xin trở về quê, quy y đạo Phật, chọn con đường tu hành. Bà cho dựng chùa Diên Quang (chùa Am) trên núi Am và chùa Tiên Lữ tại Đức Thọ, ngày ngày tụng kinh niệm Phật, cầu cho quốc thái dân an.

Về sau, Công chúa Huy Chân cũng rời cung điện về tu cùng mẹ; cháu ngoại của bà là Công chúa Trang Từ (Lê Thị Ngọc Châu) cũng xuất gia tại đây. Ba thế hệ nữ lưu hoàng tộc đã dành hơn 20 năm cuối đời sống thanh tịnh nơi cửa Phật, giúp đỡ nhân dân, được dân chúng vô cùng kính trọng.

Hoàng hậu Bạch Ngọc mất ngày 22 tháng 6 âm lịch, niên hiệu Hồng Đức, được an táng tại núi Phúc Sơn (Núi Vua), làng Hòa Yên. Nhân dân lập miếu, sau xây đền thờ bà; ngày kỵ 22 tháng Sáu hằng năm trở thành ngày hội chùa, tưởng niệm một bậc hoàng hậu đã rời bỏ quyền lực để chọn con đường phụng dân, hộ quốc và hộ pháp.

Thờ phụng

Việc thờ phụng Hoàng hậu Bạch Ngọc việc quan trọng trong đời sống văn hóa – tâm linh của cư dân vùng Hà Tĩnh, đặc biệt tập trung ở huyện Đức Thọ và khu vực Tây Hà Tĩnh. Trong tâm thức dân gian, bà không chỉ được tưởng niệm với tư cách một bậc mẫu nghi hoàng tộc mà còn được suy tôn như vị thần có công khai cơ lập ấp, hộ quốc an dân, gắn bó sâu sắc với lịch sử khai phá và kháng chiến của vùng đất này.

Tín ngưỡng thờ Bạch Ngọc Thánh Mẫu là sự hòa quyện giữa ký ức lịch sử, Phật giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu truyền thống, phản ánh cách người dân Việt Nam thiêng hóa những nhân vật lịch sử có công đức lớn đối với cộng đồng. Hiện nay, dấu ấn thờ phụng Hoàng hậu Bạch Ngọc hiện diện tại nhiều đền, chùa, điện, miếu trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, tập trung nhiều nhất ở vùng Thượng Đức Thọ.

  • Chùa Am (Diên Quang tự): Chùa Am tọa lạc trên núi Am, thuộc xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ. Đây là nơi Hoàng hậu Bạch Ngọc dựng chùa tu hành sau thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn, đồng thời cũng là trung tâm thờ phụng bà lớn và quan trọng nhất hiện nay. Trong chùa hiện còn tượng Hoàng hậu Bạch Ngọc được đúc bằng đồng đen, phủ vàng, đặt tại gian bên trái chính điện để nhân dân và Phật tử chiêm bái. Chùa Am đã được xếp hạng Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1995, khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc biệt của di tích.
  • Đền Ngũ Long (Đền Thánh Mẫu): Đền Ngũ Long nằm trên núi Phúc Sơn (còn gọi là Núi Vua), thuộc xã Đức Lạc. Đây là nơi thờ Hoàng hậu Bạch Ngọc cùng Công chúa Huy Chân và Công chúa Trang Từ. Theo truyền tụng dân gian, khu vực xung quanh đền là nơi an táng Hoàng hậu và các công chúa, vì vậy vùng này còn được gọi là “xứ mộ vua”. Hiện nay, đền Ngũ Long đã trở thành phế tích, song vẫn giữ vị trí quan trọng trong ký ức tâm linh của cộng đồng địa phương.
  • Đền Tứ Phi (Ngũ Long điện): Đền Tứ Phi, thuộc xã Đức Châu, là nơi thờ bốn vị nữ nhân thời Lê, trong đó có Hoàng hậu Bạch Ngọc và Công chúa Huy Chân. Ngôi đền phản ánh rõ nét truyền thống tôn vinh nữ giới hoàng tộc có công với dân, với nước. Đền đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1999.
  • Đền Cả Mỹ Xuyên (Đền Thánh Mẫu Mỹ Xuyên): Đền Cả Mỹ Xuyên, nay thuộc xã Đức Lập, thờ Hoàng hậu Bạch Ngọc cùng hai vị cận thần trung tín là Trần Quốc Trung và Phạm Thị Nương – những người đã theo bà trong hành trình lánh nạn, khai hoang và giúp nghĩa quân Lam Sơn.
  • Điện Phượng Hoàng: Điện Phượng Hoàng được xây dựng trên núi Phượng Hoàng, xã Đức Long, vốn là cung điện do Lê Lợi cho dựng làm nơi cư ngụ cho Hoàng hậu Bạch Ngọc và Công chúa Huy Chân. Về sau, nơi đây trở thành địa điểm thờ tự, tuy hiện nay chỉ còn dấu tích nền móng, nhưng vẫn được ghi nhớ trong địa chí và truyền thuyết dân gian.
  • Đền Cả xã Liên Minh: Tại xã Liên Minh, Hoàng hậu Bạch Ngọc được thờ với tôn hiệu Bạch Ngọc Hoàng Thái hậu. Ngôi đền hiện cũng đã trở thành phế tích, song từng giữ vai trò quan trọng trong hệ thống thờ Mẫu của vùng.

Trong đời sống tín ngưỡng, nhân dân địa phương dành cho Hoàng hậu Bạch Ngọc nhiều danh xưng tôn kính, phản ánh cả địa vị lịch sử lẫn sự linh thiêng dân gian:

  • Bạch Ngọc Thánh Mẫu, Thánh mẫu Bạch Ngọc, hoặc gọi giản dị là Đức Mẹ.
  • Hoàng Thái hậu, Mẫu nghi thiên hạ, ghi nhớ thân phận hoàng hậu nhà Trần.
  • “Bà Hoàng đi tu”, nhấn mạnh việc bà rời bỏ vinh hoa phú quý để quy y cửa Phật.

Ở một số làng xã, bà còn được tôn làm Thành hoàng làng, che chở cho dân cư và mùa màng. Ngày kỵ chính của Hoàng hậu Bạch Ngọc được tổ chức vào 22 tháng 6 âm lịch hằng năm.

Công lao của bà được nhiều triều đại phong kiến, từ thời Lê sơ đến Nguyễn (Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị…), ghi nhận bằng sắc phong và mỹ tự, hợp thức hóa việc thờ phụng trong dân gian.

Có thể thấy, tín ngưỡng thờ Hoàng hậu Bạch Ngọc là sự kết hợp hài hòa giữa thờ nhân thần lịch sử và đạo Mẫu Việt Nam. Trong tâm thức cộng đồng, bà là biểu tượng của lòng yêu nước và đức hy sinh, khi hiến dâng toàn bộ cơ nghiệp cho kháng chiến. Tinh thần khai phá và nhân ái, gắn bó với người dân nghèo vùng sơn cước. Đức tu hành và từ bi Phật giáo, thể hiện qua quãng đời cuối nơi cửa thiền.

Việc thờ phụng bà tại các di tích, phế tích và lễ hội không chỉ là sinh hoạt tâm linh mà còn là biểu hiện sinh động của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tri ân một nữ nhân hoàng tộc đã sống trọn vẹn cho dân – nước – đạo.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Tiến Dũng, Chuyện về Bạch Ngọc hoàng hậu, Bao Đắk Lắk, ngày 30/05/2020.
  2. Phan Thư Hiền, Các đền thờ Thánh Mẫu Bạch Ngọc, Huy Chân và Trang Từ ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, Tạp chí Thế giới di sản điện tử, ngày 18/08/2016.
  3. Vĩnh Khánh, Thông điệp từ lịch sử] Hoàng hậu Bạch Ngọc với sự nghiệp khai hoang lập làng và cứu nước, Báo Kinh tế & Đô thị, ngày 14/11/2020.
  4. Nguyễn Hữu Tâm, Hoàng hậu Bạch Ngọc với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tạp chí văn hóa Nghệ An, ngày 21/08/2012.
  5. TS. Đặng Như Thường, Tín ngưỡng thờ Bạch Ngọc Thánh Mẫu trên đất Hà Tĩnh, Gia phả Việt Nam ngày 05/09/2023.
__________________

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English) 

General Information

Empress Bach Ngoc (birth name Tran Thi Ngoc Hao) was a prominent historical figure who lived from the late fourteenth century to the early fifteenth century. She is widely known for her major contributions to land reclamation and settlement development, as well as her crucial support for the Lam Son uprising during the early struggle against Ming domination.

Origin

Empress Bach Ngoc was born into a modest family, though the identity of her father remains inconsistent in classical sources. Some records identify him as Tran Cong Thieu, while others mention Tran Cong Nhu or Tran Ngoc Thien. He is often described as a local estate head, but modern scholars suggest this designation may be oversimplified and does not fully reflect the family’s true social standing. Notably, there is a hypothesis that her father may have been Thai Bao Tran Lieu, a figure recorded in Dai Viet su ky toan thu; however, this claim still requires further verification.

Regarding her birthplace, most sources state that she was born in Tri Ban village, Tho Hoang district (now Hoa Hai commune, Huong Khe district, Ha Tinh province). Other sources suggest Chi La district, corresponding to parts of present-day Huong Son and Duc Tho districts. Despite these discrepancies, all accounts agree that she originated from Ha Tinh, a region renowned for its scholarly traditions, moral integrity, and patriotism.

Historical records portray Empress Bach Ngoc as dignified, virtuous, intelligent, and eloquent, with refined manners and exceptional character. Although she lived within the constraints and luxuries of the royal court, she preserved a resolute spirit and deep patriotic conviction, embodying the ideal image of a queen who combined moral gentleness with unwavering integrity.

Life

Empress Bach Ngoc was renowned for her beauty, intelligence, and refined demeanor, qualities frequently mentioned in both official histories and local oral traditions. During a southern inspection tour by King Tran Due Tong, the king was impressed by her appearance and character and brought her to the capital Thang Long, where she was selected for the royal harem. Official histories record Queen Gia Tu of the Le clan as the primary empress, but genealogies preserved at Am Pagoda (Dien Quang Tu) and local tradition state that Tran Thi Ngoc Hao became the king’s third consort and was later honored or referred to as Empress Bach Ngoc.

She bore King Tran Due Tong a daughter, Princess Huy Chan, whose personal name was Tran Thi Ngoc Hien. As the king’s only daughter during that period, Princess Huy Chan was deeply cherished, which further elevated Empress Bach Ngoc’s position at court.

Dynastic upheaval and departure from the capital

In 1377, King Tran Due Tong personally led a campaign against Champa and was killed at Do Ban citadel. Following his death, the Tran dynasty entered a severe crisis: Emperor Tran Nghien was deposed and executed, power gradually fell into the hands of Ho Quy Ly, leading to the collapse of the Tran dynasty and subsequently the Ming invasion.

Amid political turmoil, court purges, and imminent danger, Empress Bach Ngoc decided to leave the capital. She took her daughter Princess Huy Chan, along with trusted retainers such as Nguyen Thoi Kinh and Tran Quoc Trung and numerous household members, and returned to her ancestral homeland in the Duc Quang region of former Nghe An (now Ha Tinh) to seek refuge.

The initial group numbered approximately 572 people. After nearly fifty days of arduous travel, marked by hunger and disease, many perished along the way. Upon reaching the Coc Son – Tra Son mountain region (now within Duc Tho, Huong Khe, Huong Son, and Can Loc districts), only 172 people remained.

Land reclamation and settlement in western Ha Tinh

Rather than living in seclusion, Empress Bach Ngoc recruited displaced people, aided the poor, and organized large-scale land reclamation. Within a short time, she gathered more than 3,000 people and developed vast areas of farmland, forests, and hills.

A large estate was established, covering approximately 3,965 mau of cultivated land across areas now belonging to Duc Tho, Huong Son, Huong Khe, Can Loc, and Vu Quang. Numerous prosperous villages were founded, beginning with four initial hamlets: Lai Son, Ngu Khe, Hang Nga, and Tung Chinh, later expanding into dozens of villages and communes.

She arranged marriages between her trusted palace attendants and key retainers, such as marrying Lady Ky to Nguyen Thoi Kinh and Lady Pham to Tran Quoc Trung. The newly formed hamlets were named Kinh Ky and Trung Pham after these couples. Thanks to her organizational ability and moral authority, western Ha Tinh gradually became a stable and prosperous region with discreet but effective self-defense capabilities, avoiding Ming surveillance.

Contribution to the Lam Son Uprising

Before proclaiming the Ho dynasty in 1400, Ho Quy Ly conducted extensive purges against Tran royals and aristocrats. The Ho regime later imposed policies restricting the privileges of nobles and large landowners, generating deep resentment among Tran loyalists. In this context, resistance movements led by Tran aristocrats rapidly emerged.

As a member of the Tran clan and empress of King Tran Due Tong, Empress Bach Ngoc maintained close ties with Tran nobility. A strong sense of lineage and historical responsibility fostered in her the aspiration to restore the Tran legacy. While residing in the mountainous regions of Ha Tinh, she not only reclaimed land but also mobilized a large peasant population, laying the groundwork for political and military resistance.

Many scholars believe that Empress Bach Ngoc directly or indirectly participated in organizing anti-Ho resistance in the Huong Son – Huong Khe – Duc Tho area. After the Ho dynasty fell in 1407, the country came under brutal Ming rule. Armed resistance movements erupted nationwide, notably those led by Tran Ngoi in late 1407 and Tran Quy Khoang in 1409.

Tran Quy Khoang’s uprising was launched in the Chi La region, corresponding to present-day Duc Tho, an area heavily shaped by Empress Bach Ngoc’s land reclamation efforts. The region’s rugged terrain, stable population, and abundant food supplies made it an ideal revolutionary base. Her grain storage system played a critical role in sustaining the insurgent forces.

Although the regime of Emperor Trung Quang (1409–1414) ultimately failed due to fragmentation and lack of unified leadership, Empress Bach Ngoc’s contributions to early anti-Ming resistance were significant, particularly through base construction, logistical support, and manpower provision.

The Lam Son uprising (1418–1427), led by Le Loi and Nguyen Trai, represented the pinnacle of the liberation struggle. From 1424, following Nguyen Chich’s strategy, Lam Son forces advanced into Nghe An and Ha Tinh, transforming the region into a vital strategic rear base. According to historian Phan Huy Le, remnants of Empress Bach Ngoc’s reclamation estates in Duc Tho became major supply centers for the uprising.

Le Loi later personally visited Empress Bach Ngoc, who donated all her stored resources and reclaimed lands to the Lam Son forces and allowed peasants and tenants to enlist. Her trusted retainers Nguyen Thoi Kinh and Tran Quoc Trung joined Le Loi and achieved notable military successes. The marriage of Princess Huy Chan to Le Loi further strengthened political legitimacy and attracted Tran aristocratic support.

Later Life and Buddhist Ordination

After national independence was restored, Empress Bach Ngoc declined honors and wealth, requesting instead to establish Am Pagoda (Dien Quang Tu) and Tien Lu Pagoda, devoting her final years to Buddhist practice and spiritual care for the people.

Princess Huy Chan later joined her mother in monastic life, as did her granddaughter Princess Trang Tu (Le Thi Ngoc Chau). Three generations of royal women spent over twenty years living in quiet devotion, earning profound respect from the local population.

Empress Bach Ngoc passed away on the 22nd day of the sixth lunar month during the Hong Duc reign and was buried at Phuc Son Mountain (also known as Nui Vua) in Hoa Yen village. A shrine was later built in her honor, and her death anniversary became an annual commemorative festival.

Veneration

The worship of Empress Bach Ngoc holds an important place in the spiritual and cultural life of Ha Tinh, particularly in Duc Tho and western Ha Tinh. In popular belief, she is revered not only as a royal matriarch but also as a tutelary deity associated with land reclamation, national protection, and social stability.

Her cult represents a synthesis of historical memory, Buddhism, and the Vietnamese Mother Goddess tradition. Worship sites dedicated to her are found throughout Ha Tinh, especially in Upper Duc Tho.

Key sites include Am Pagoda (Dien Quang Tu), where her gilded bronze statue is enshrined; Ngu Long Temple at Phuc Son Mountain; Tu Phi Temple; Ca My Xuyen Temple; Phuong Hoang Shrine; and Lien Minh communal temple. She is honored under titles such as Bach Ngoc Thanh Mau, Hoang Thai Hau, Mau Nghi Thien Ha, and affectionately as Duc Me.

Her main death anniversary is observed annually on the 22nd day of the sixth lunar month. Numerous royal decrees from the Early Le to Nguyen dynasties formally recognized her merits and legitimized her worship.

Overall, the veneration of Empress Bach Ngoc exemplifies the harmonious integration of historical hero worship and Vietnamese Mother Goddess belief, embodying patriotism, sacrifice, compassion, and Buddhist virtue.

References

  1. Nguyễn Tiến Dũng, Chuyện về Bạch Ngọc hoàng hậu, Bao Đắk Lắk, ngày 30/05/2020.
  2. Phan Thư Hiền, Các đền thờ Thánh Mẫu Bạch Ngọc, Huy Chân và Trang Từ ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, Tạp chí Thế giới di sản điện tử, ngày 18/08/2016.
  3. Vĩnh Khánh, Thông điệp từ lịch sử] Hoàng hậu Bạch Ngọc với sự nghiệp khai hoang lập làng và cứu nước, Báo Kinh tế & Đô thị, ngày 14/11/2020.
  4. Nguyễn Hữu Tâm, Hoàng hậu Bạch Ngọc với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tạp chí văn hóa Nghệ An, ngày 21/08/2012.
  5. TS. Đặng Như Thường, Tín ngưỡng thờ Bạch Ngọc Thánh Mẫu trên đất Hà Tĩnh, Gia phả Việt Nam ngày 05/09/2023.

Tiếng Trung (中文)

一般信息

白玉皇后(原名陈氏玉豪)是生活于十四世纪末至十五世纪初的一位重要历史人物,以其在开垦荒地、建立聚落以及支持蓝山起义方面所作出的巨大贡献而闻名。

出身

白玉皇后出身于一个朴素的民间家庭,但其父亲的具体身世在古代文献中尚存诸多分歧。据部分资料记载,她为陈公绍之女;亦有文献称其父为陈公儒或陈玉善。其父通常被描述为一位寨主,然而学界普遍认为这一记载过于简略,尚不足以全面反映其家族的真实社会地位。值得注意的是,有学者推测其父或即《大越史记全书》中所载之太保陈辽,但该观点仍有待进一步比对与考证。

关于籍贯,多数文献认为白玉皇后出生于芝板村,属土黄县(今属河静省香溪县和海社);另有资料认为她为芝罗县人,该地区今分属河静省香山县与德寿县。尽管具体地名尚有歧异,但各类史料一致确认,她出身于河静地区——一片以重教尚学、气节坚贞与爱国传统著称的土地。

史书记载,白玉皇后端庄娴雅,才貌双全,性情淑慎,聪慧通达,善于应对言谈。即便身处礼制森严、奢华繁复的宫廷环境,她依然保持着坚毅不屈的风骨与深厚的爱国精神,展现出一位既温柔于德行、又坚定于人格的母仪典范形象。

生平

白玉皇后以美貌端庄、才德兼备著称,聪慧机敏,善于言辞,应对得体,其事迹屡见于史籍及地方传说。一次,陈睿宗皇帝南巡时,被其容貌与气质所吸引,将其迎回升龙京城,选入后宫。按正史记载,陈睿宗已有黎氏嘉慈皇后;但据庵寺(延光寺)族谱及地方传统,陈氏玉豪被选为第三位妻室,后世遂尊称或称之为白玉皇后。

她为陈睿宗生下一女,即辉珍公主,原名陈氏玉贤。作为当时皇帝唯一的女儿,辉珍公主深受睿宗宠爱,白玉皇后在宫中的地位亦随之日益提高。

王朝变故与离京决断

1377年,陈睿宗亲征占城,于都盘城战死。其后,陈朝陷入严重危机:废帝陈晏被废并遭杀害,权力逐渐落入胡季犛之手,导致陈朝衰亡,继而引发明军入侵。

面对政局混乱、宫廷清洗频仍及灾祸迫近的局势,白玉皇后毅然离开京城,携女辉珍公主及亲信家臣如阮时敬、陈国忠等人,并率众多随从,自升龙返回祖籍地德光一带(古属乂安,今属河静省)以避祸。

起初随行者约五百七十二人,历经近五十个昼夜的艰辛跋涉,因饥饿、疾病等原因,途中多人亡故。抵达谷山—茶山地区(今属德寿、香溪、香山、甘禄等县)时,仅余一百七十二人。

西河静地区的垦荒与建设

在这片深山险阻之地,白玉皇后并未选择单纯隐居,而是招募流民,赈济贫弱,组织大规模垦荒。不久,她便聚集三千余人,开垦田地、山林与荒丘。

最终形成一处面积达三千九百六十五亩的大型庄园,分布于今德寿、香山、香溪、甘禄、武光等地。她先后建立赖山、五溪、恒娥、松征四个村落,并逐步扩展为数十个乡社。

她还将亲信宫女许配给家臣,如将骑女嫁与阮时敬,将范女嫁与陈国忠,并以两对夫妇之名为新村命名为“敬骑”“忠范”。在其卓越的组织能力与德望感召下,西河静逐渐发展为富庶安定、拥有隐秘而稳固自卫力量的地区,成功避开明军的窥伺。

对蓝山起义的贡献

胡季犛在称帝建立胡朝前后,大肆清洗陈氏宗族与贵族,激起强烈不满。其后明军入侵,全国武装抗争迭起。陈氏贵族领导的起义中,以陈季扩(1407年末)与陈贵矿(1409年)尤为著名。

陈贵矿起义的重要根据地正是河静山区。十五世纪初的芝罗县,即今德寿一带,正是白玉皇后于十四世纪末开垦而成的聚落核心区。其长期积蓄的粮仓为义军提供了关键后勤与人力支持。

陈重光政权(1409–1414)虽最终失败,但对白玉皇后在抗明初期通过基地建设、粮草供给与民力动员所起的作用,史家多予肯定。

蓝山起义(1418–1427)在黎利、阮廌领导下取得最终胜利。自1424年起,按阮殖之策,义军进军乂安—河静,白玉皇后所建庄园迅速成为坚实后方。

黎利曾亲赴拜谒白玉皇后,她将全部粮储、财物及垦殖土地献予义军,并允许农民、佃户参军。其家臣阮时敬、陈国忠亦随军立下战功。辉珍公主下嫁黎利,更在政治上团结陈氏后裔,增强起义正统性。

归依佛门与晚年

国家独立后,白玉皇后辞谢荣华,回乡出家,创建延光寺(庵寺)与仙侣寺,晚年潜心修行。辉珍公主及其外孙女庄慈公主黎氏玉珠亦随之出家,三代皇族女子在此清修二十余年,深受百姓敬仰。

白玉皇后卒于洪德年间六月二十二日,葬于福山(王山)和安村。百姓建祠奉祀,其忌日成为地方重要庙会。

祭祀信仰

白玉皇后的祭祀在河静地区尤为盛行,尤其集中于德寿及西河静一带。民间尊其为开基立业、护国安民之圣母。

现存主要奉祀遗址包括:

  • 庵寺(延光寺):国家级历史文化遗迹(1995年)。
  • 五龙庙(圣母庙):位于福山,今为遗址
  • 四妃庙:国家级历史遗迹(1999年)。
  • 美川圣母庙、凤凰殿、联明社大庙等。

民间尊称其为“白玉圣母”“皇太后”“出家皇后”等,忌日为农历六月二十二。其功绩历代获敕封确认。

总体而言,白玉皇后信仰体现了历史人物神圣化、佛教与越南母神信仰的融合,象征着爱国、牺牲、开拓、仁爱与慈悲的精神。

参考文献

  1. Nguyễn Tiến Dũng, Chuyện về Bạch Ngọc hoàng hậu, Bao Đắk Lắk, ngày 30/05/2020.
  2. Phan Thư Hiền, Các đền thờ Thánh Mẫu Bạch Ngọc, Huy Chân và Trang Từ ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, Tạp chí Thế giới di sản điện tử, ngày 18/08/2016.
  3. Vĩnh Khánh, Thông điệp từ lịch sử] Hoàng hậu Bạch Ngọc với sự nghiệp khai hoang lập làng và cứu nước, Báo Kinh tế & Đô thị, ngày 14/11/2020.
  4. Nguyễn Hữu Tâm, Hoàng hậu Bạch Ngọc với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tạp chí văn hóa Nghệ An, ngày 21/08/2012.
  5. TS. Đặng Như Thường, Tín ngưỡng thờ Bạch Ngọc Thánh Mẫu trên đất Hà Tĩnh, Gia phả Việt Nam ngày 05/09/2023.

Tiếng Pháp (Français’)

Informations generales

L’imperatrice Bach Ngoc (nom reel : Tran Thi Ngoc Hao) est une figure historique marquante ayant vecu a la fin du XIVe siecle et au debut du XVe siecle. Elle est connue pour ses grandes contributions a la mise en valeur des terres, a la fondation de villages, ainsi que pour son soutien essentiel aux mouvements de resistance, en particulier a l’insurrection de Lam Son.

Origines

L’imperatrice Bach Ngoc etait issue d’une famille modeste. Toutefois, l’identite exacte de son pere reste sujette a divergences dans les sources anciennes. Selon certains documents, elle etait la fille de Tran Cong Thieu, tandis que d’autres la mentionnent comme fille de Tran Cong Nhu ou de Tran Ngoc Thien. Son pere est souvent decrit comme un chef de camp ou de domaine, mais les chercheurs estiment que cette description est simplifiee et ne reflete pas pleinement le statut reel de sa famille.

Une hypothese notable suggere que son pere pourrait avoir ete le Thai bao Tran Lieu, personnage mentionne dans le Dai Viet su ky toan thu, mais cette hypothese necessite encore des comparaisons et verifications approfondies.

Concernant son lieu de naissance, la plupart des sources indiquent le village de Tri Ban, district de Tho Hoang (actuellement commune de Hoa Hai, district de Huong Khe, province de Ha Tinh). D’autres sources la situent dans le district de Chi La, correspondant aujourd’hui aux districts de Huong Son et Duc Tho, dans la meme province. Malgre ces divergences, les sources s’accordent pour affirmer qu’elle etait originaire de la region de Ha Tinh, reputee pour son esprit d’etude, sa droiture morale et son patriotisme.

Les chroniques la decrivent comme une femme digne, belle et vertueuse, d’une intelligence vive, eloquente et d’un comportement mesure. Bien qu’ayant vecu dans le cadre rigide et luxueux de la cour, elle conserva un caractere ferme et un profond sentiment patriotique, incarnant l’image d’une imperatrice a la fois douce par la vertu et resolue par la personnalite.

Vie

L’imperatrice Bach Ngoc etait celebre pour sa beaute, sa dignite, son intelligence et son talent oratoire, souvent evoques dans les chroniques et la tradition orale locale. Lors d’un voyage du roi Tran Due Tong vers le Sud, celui-ci fut charme par son apparence et son port, et la ramena a la capitale Thang Long pour l’integrer au harem royal.

Selon les annales officielles, le roi Tran Due Tong avait pour epouse principale l’imperatrice Gia Tu, du clan Le. Toutefois, selon les genealogies conservees au chua Am (Dien Quang tu) et la tradition locale, Tran Thi Ngoc Hao fut prise comme troisieme epouse, puis plus tard honoree ou designee sous le nom d’imperatrice Bach Ngoc.

Elle donna naissance a une fille, la princesse Huy Chan (nom reel Tran Thi Ngoc Hien), unique fille du roi durant cette periode. Tres aimee par son pere, la princesse contribua a renforcer la position de Bach Ngoc au sein du palais.

Crise dynastique et depart de la capitale

En 1377, le roi Tran Due Tong mourut au combat contre le Champa a la citadelle de Do Ban. Sa mort plongea la dynastie Tran dans une crise profonde : le roi Phe De Tran Nghien fut depose puis execute, tandis que le pouvoir passa progressivement entre les mains de Ho Quy Ly, entrainant la chute de la dynastie Tran et, par la suite, l’invasion des troupes Ming.

Face aux purges politiques, a l’instabilite et aux dangers imminents, l’imperatrice Bach Ngoc quitta la capitale, emmenant sa fille la princesse Huy Chan, ainsi que des proches fideles tels que Nguyen Thoi Kinh, Tran Quoc Trung et de nombreux serviteurs, pour se refugier dans la region de Duc Quang, ancien territoire de Nghe An (actuellement Ha Tinh).

Le groupe comptait initialement environ 572 personnes. Apres pres de cinquante jours d’un voyage extremement penible, marque par la faim, les maladies et les deces, seuls 172 survivants atteignirent la region montagneuse de Coc Son – Tra Son.

Mise en valeur des terres et fondation de villages a l’ouest de Ha Tinh

Dans cette region isolee, l’imperatrice Bach Ngoc ne choisit pas une vie de retraite passive. Elle entreprit de rassembler des refugies, d’aider les populations pauvres et d’organiser le defrichement des terres incultes. En peu de temps, elle rassembla plus de 3 000 personnes, developpant terres agricoles, forets et collines abandonnees.

Un vaste domaine agricole fut ainsi cree, couvrant pres de 3 965 mau de terres, reparties sur les territoires actuels de Duc Tho, Huong Son, Huong Khe, Can Loc et Vu Quang. Elle fonda de nombreux villages prosperes, a partir de quatre premiers hameaux : Lai Son, Ngu Khe, Hang Nga et Tung Chinh.

Elle maria egalement ses suivantes a ses fideles serviteurs, notamment Ky avec Nguyen Thoi Kinh et Pham avec Tran Quoc Trung, donnant naissance aux villages de Kinh Ky et Trung Pham. Grace a son sens de l’organisation et a sa vertu, l’ouest de Ha Tinh devint une region stable, prospere et discretement fortifiee, echappant a la surveillance des forces Ming.

Soutien aux mouvements de resistance et a l’insurrection de Lam Son

Issue du clan Tran et veuve du roi Tran Due Tong, l’imperatrice Bach Ngoc entretenait des liens etroits avec l’aristocratie Tran. Consciente de son heritage et de sa responsabilite historique, elle nourrit l’ideal de restaurer la dynastie Tran. Durant son sejour a Ha Tinh, elle constitua une base humaine et economique essentielle aux mouvements de resistance contre les regimes Ho puis Ming.

De nombreux chercheurs estiment qu’elle participa directement ou indirectement a l’organisation des resistances contre la dynastie Ho dans les regions de Huong Son, Huong Khe et Duc Tho. Apres la chute des Ho en 1407 et l’etablissement de la domination Ming, les revoltes menees par Tran Ngoi et Tran Quy Khoang trouverent un appui logistique et humain considerable dans les zones mises en valeur par Bach Ngoc.

Le choix de Chi La comme base de l’insurrection de Tran Quy Khoang n’etait pas fortuit : le relief montagneux, les reserves alimentaires abondantes et la population stable issues des travaux de defrichement de Bach Ngoc en firent un centre strategique majeur.

Bien que le regime de Trung Quang n’ait dure que cinq ans (1409–1414), il infligea de lourdes pertes aux Ming. Les structures economiques mises en place par Bach Ngoc jouerent un role cle dans l’approvisionnement et le soutien humain.

Lors de l’insurrection de Lam Son (1418–1427), dirigee par Le Loi et Nguyen Trai, les terres de Ha Tinh devinrent une base arriere strategique. Selon le professeur Phan Huy Le, plusieurs sites de Ha Tinh associes a Lam Son sont directement lies aux domaines de Bach Ngoc. Lorsque les forces de Lam Son arriverent dans la region, elles purent immediatement beneficier des ressources accumulees.

Le Loi se rendit personnellement aupres de l’imperatrice Bach Ngoc, qui offrit toutes ses reserves, ses biens et ses terres aux insurgés, autorisant egalement les paysans a rejoindre l’armee. Ses fideles Nguyen Thoi Kinh et Tran Quoc Trung combattirent aux cotes de Le Loi avec distinction.

Le mariage de la princesse Huy Chan avec Le Loi renforca la legitimite politique du mouvement Lam Son et attira le soutien de l’aristocratie Tran.

Conversion bouddhique et fin de vie

Apres l’independance, l’imperatrice Bach Ngoc refusa honneurs et richesses. Elle retourna dans sa region natale, se consacra au bouddhisme et fit construire le chua Am (Dien Quang tu) sur le mont Am ainsi que le chua Tien Lu. Elle passa ses dernieres annees en meditation, priant pour la paix du pays et le bien-etre du peuple.

La princesse Huy Chan, puis sa petite-fille Trang Tu (Le Thi Ngoc Chau), la rejoignirent dans la vie monastique. Trois generations de femmes de la famille royale vecurent ainsi plus de vingt ans dans la retraite spirituelle, aidant la population locale et gagnant un profond respect populaire.

L’imperatrice Bach Ngoc mourut le 22e jour du 6e mois lunaire, sous l’ere Hong Duc, et fut inhumee au mont Phuc Son (Nui Vua), village de Hoa Yen. Les habitants erigerent un sanctuaire, puis un temple, et la date de son deces devint une fete religieuse annuelle.

Culte et memoire

Le culte de l’imperatrice Bach Ngoc occupe une place importante dans la vie spirituelle de la population de Ha Tinh, notamment dans le district de Duc Tho et l’ouest de la province. Elle est veneree a la fois comme imperatrice exemplaire et comme divinite bienfaitrice, protectrice des populations et fondatrice de terres.

Ce culte constitue une synthese entre memoire historique, bouddhisme et culte traditionnel des Meres. De nombreux temples et pagodes de Ha Tinh lui sont consacres, en particulier dans la region de Thuong Duc Tho.

Les principaux lieux de culte incluent :

  • le chua Am (Dien Quang tu), centre principal de devotion, classe monument historique national en 1995 ;
  • le den Ngu Long (den Thanh Mau) sur le mont Phuc Son ;
  • le den Tu Phi (Ngu Long dien), classe monument national en 1999 ;
  • le den Ca My Xuyen ;
  • le dien Phuong Hoang ;
  • le den Ca de la commune de Lien Minh.

Dans la devotion populaire, elle est connue sous divers titres : Bach Ngoc Thanh Mau, Duc Me, Hoang Thai hau, ou encore « Ba Hoang di tu ». Dans certains villages, elle est egalement honoree comme genie tutelaires.

Son anniversaire de deces, le 22e jour du 6e mois lunaire, est celebre chaque annee. Ses merites ont ete reconnus par de nombreuses dynasties, des Le aux Nguyen, a travers decrets et titres honorifiques.

Ainsi, le culte de l’imperatrice Bach Ngoc illustre la tradition vietnamienne d’honorer les figures historiques ayant consacre leur vie au peuple, a la nation et a la voie spirituelle.

Références

  1. Nguyễn Tiến Dũng, Chuyện về Bạch Ngọc hoàng hậu, Bao Đắk Lắk, ngày 30/05/2020.
  2. Phan Thư Hiền, Các đền thờ Thánh Mẫu Bạch Ngọc, Huy Chân và Trang Từ ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, Tạp chí Thế giới di sản điện tử, ngày 18/08/2016.
  3. Vĩnh Khánh, Thông điệp từ lịch sử] Hoàng hậu Bạch Ngọc với sự nghiệp khai hoang lập làng và cứu nước, Báo Kinh tế & Đô thị, ngày 14/11/2020.
  4. Nguyễn Hữu Tâm, Hoàng hậu Bạch Ngọc với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Tạp chí văn hóa Nghệ An, ngày 21/08/2012.
  5. TS. Đặng Như Thường, Tín ngưỡng thờ Bạch Ngọc Thánh Mẫu trên đất Hà Tĩnh, Gia phả Việt Nam ngày 05/09/2023.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
15

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)